van-cao

Văn Cao

“Nhưng, giả sử Văn Cao vẫn sáng tác, thì bây giờ liệu các ca khúc hệt như Trương Chi, Thiên thai, Suối mơ ngày xưa có còn ai nghe? Tôi nghĩ là không, vì không có sự đổi mới. Mà nghệ thuật, nghệ sĩ là phải đổi mới không ngừng!” 

Phạm Duy nói đúng, Văn Cao đã không còn relevant nữa. Ngày nay, không còn giấc mộng lên tiên như Lưu Thần và Nguyễn Triệu trong Thiên thai (1941), không còn những chàng ngọng nghịu lời yêu như Trương Chi (1945), chỉ biết gửi tấc lòng qua lời ca tiếng đàn, cũng không còn người phụ nữ ngồi đan áo trông ngóng bóng tình quân lướt đi ngoài sương gió như trong Buồn tàn thu (1939) nữa.

Ngập tràn những cung đàn, tơ đồng, sóng nước, hoa đào, tiếng phách, điệu múa, tiên nữ, đào nguyên, các tình khúc của Văn Cao tuy đã tiếp nhận và phát huy đến bậc cao toàn bộ âm hưởng lãng mạn của thi ca tiền chiến, và cả những điệu buồn chậm rãi truyền kiếp phảng phất trong buổi phôi thai của tân nhạc Việt Nam, nhưng giờ đây đó chỉ còn là một thời vang bóng.

Dẫu vậy, chúng ta có thể kỳ vọng về sự tươi mới trong sáng tạo ở Văn Cao, bởi ông tâm niệm con đường lớn nhất của văn nghệ là “tập trung tất cả những giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp” (Một vài ý nghĩ về thơ, 1957).

Và Văn Cao đã làm được điều đó, ở ngay quãng chuyển tiếp giữa tiền chiến và kháng chiến, như một dấu gạch nối sáng giá. Thoát khỏi cái điệu buồn của tân nhạc thời kỳ đầu, và cả lối đặt lời nhiều ước lệ, khuôn sáo, Văn Cao, khởi sự đổi mới với Tiến quân ca (1944), và sau đó là Làng tôi (1947), với dáng điệu khỏe khoắn như nước triều mới. Rồi trong cùng một năm, nhạc sĩ đạt đến đỉnh cao với Sông Lô (1947), mà Phạm Duy đã đánh giá là “đại diện cho sự trưởng thành của tân nhạc”, còn nhạc sĩ Lê Hoàng Long nhận thấy “cấu trúc có sự hoàn chỉnh tương ứng với bản valse nổi tiếng Bên dòng Danube xinh đẹp của Johann Strauss II”.

Mũi nhọn khai phá của Văn Cao không dừng ở đó. Sau 1950, Văn Cao viết nhiều bài thơ chứa đựng những ẩn dụ khác hẳn thơ tiền chiến, là những cánh cửa, khuôn mặt, mùa xuân, xen với những kết hợp từ trừu tượng như buổi sáng có trong sự thật, dĩ vãng giữ trong tôi như một mùi cỏ… như phó sản của một sự tiếp nhận những chất liệu suy tư mới. 

Lẽ ra chúng ta đã có thể thấy một Văn Cao của trọn vẹn một con đường sáng tác với bề dày trong cả ba lĩnh vực thơ, nhạc, họa. Nhưng tiếc là, con người tài hoa ấy đã phải im lặng suốt 30 năm. Văn Cao từ 1958 chỉ còn “những ngày buồn không nói được”.

Có lúc
một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ
có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được
(Có lúc, 1-1963)

Một Văn Cao nhút nhát trước các cô gái chỉ biết gửi lời yêu trong âm nhạc, và một Văn Cao từng cầm súng bắn Đỗ Đức Phin rất dứt khoát, nhanh gọn; một Văn Cao từng sôi nổi tiếng đàn hát, và một Văn Cao thu mình trong im lặng. Người nhạc sĩ ấy chứa đựng trong mình những nghịch lý lớn của cả một thời kỳ. Đó là một Văn Cao của “nhiều im-lặng-biết-nói, và nhiều câu nói không-nói-gì” (chữ dùng của Trần Dần trong Đêm núm sen). 

Phải xem phim tài liệu Buổi sáng có trong sự thật do hãng phim Trẻ & hãng phim Giải Phóng làm năm 1995 để thấy được cách Văn Cao chơi dương cầm. Cái âm thanh dội lên khi ông nắm hai bàn tay lại thành nắm đấm và đập liên tiếp vào những phím đàn được ông gọi là “những nốt nhạc làm tan đi nỗi cô đơn”. Đó là catharsis của Văn Cao.

Những năm câm lặng ấy đã đổ bóng dài trên nửa đời còn lại của Văn Cao:

Tôi đi trên phố
bỗng nhiên mọi người nhìn tôi
một ai đó kêu lên: thằng ăn cắp
tôi chạy
tôi chạy

tại sao tôi chạy?
tôi không hiểu tôi
cả phố đuổi theo tôi
xe cộ đuổi theo tôi
tôi chạy bạt mạng

gần hết đời
tới chỗ chỉ còn gục xuống
tỉnh dậy mồ hôi chảy
tôi lại thấy tôi là người chưa phạm tội.

(Ba biến khúc tuổi 65, 9-1988)

Tạ Tỵ từng kể về cái đêm nghe Văn Cao đọc Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc. Ông nói Văn Cao có một cái giọng đọc ghê lạnh lắm.

“Dù sao, Văn Cao vẫn hiện diện trong tôi với hình dáng của một tinh cầu giá lạnh, với cô đơn dằng dặc ở cuối khung trời ngăn cách”
(Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ)

Một vài ý nghĩ về thơ – Văn Cao

Một trong những hướng xây dựng nhân văn là đào tạo cho xã hội những người biết khai thác, khám phá, phân tích thực tế và mở đường cho tương lai. Nhà thơ trước hết, muốn làm nhiệm vụ ấy, phải có những đặc tính trên. Chính những đặc tính đó đặt ra vấn đề thành lập cá tính cho mỗi nhà thơ.

Trong lãnh vực Văn Học Nghệ Thuật, nếu có một số nguyên tắc để giải quyết những vấn đề căn bản của xã hội loài người thì cũng chỉ là một phương pháp sơ lược dùng để gợi ý cho mọi người phát triển hay sáng tạo. Người ta không thể nào biết rõ và hạn chế được tất cả những sáng kiến, phát minh vì người ta không thể biết rõ và hạn chế hết những nhu cầu của loài người ngày một phức tạp hơn lên. Trái lại,trong cách suy nghĩ khác, nếu có người cho là yêu cầu của loài người sẽ dần dần đơn giản và có thể điều khiển được như máy móc, thì người ta sẽ nhờ đến việc đơn giản và bớt đi những phát minh mới mở đường cho Văn học và Nghệ thuật.

Đến với cuộc đời, nhà thơ không chịu đựng một sự may rủi mà phải chủ động thành lập nên sự thẩm mỹ mới cho người đọc, chủ động xây dựng con người biết tư tưởng cảm xúc và cảm giác tinh tế như mình trong xã hội đương thời và cả xã hội sau này. Không ai ngăn những nhà thơ lần mò cặm cụi đi theo những lối mòn. Khốn nỗi những người đọc của chúng ta lại cứ muốn tìm trong cái đám đông người bộ mặt có thể ưa thích được. Họ không muốn nghe lại những ý những lời đã cũ cũng như không muốn mua lại những đồ cũ mà họ đã phải thải đi từ lâu rồi. Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại mà mở đường. Bởi vì,những người đó đã nghĩ đến sự tiến bộ của Nghệ thuật.

Cái mới đâu phải là những cái không sẵn có. Sự làm mới những cái sẵn có cũng là một phương pháp sáng tạo. Đã hàng thế kỷ, mỗi nhà thơ vẫn hàng ngày vẫy gọi mặt trời đến chiếu vào tâm trang mình. Thế mà những câu thơ hôm nay về mặt trăng mặt trời vẫn mới mẻ như đêm như ngày qua lại, cái mới trước hết là cái mới trong tư tưởng, trong cảm xúc và trong càm giác của nhà thơ. Tấm bia trên mồ một người đã khuất cò lẽ còn ở lâu trên mặt đất hơn một cuộc đời. Biết bao nhiêu bài thơ mang cái mới nhất thời đã rụng trong khi tác giả của nó còn sống. Nguyễn Du khi sáng tạo cái mới trong thơ còn lo ba trăm năm sau không có người hiểu. Người thành công nhất ngày nay phải lo tới thất bại ngày sau và người lo thất bại ngày nay cũng phải lo tới cái thất bại ngày sau. Nếu không có sự lo lắng đó, một nhà thơ không nghĩ tới trách nhiệm của mình khi viết, hoặc chỉ viết cho người bây giờ mà không có trách nhiệm với người sau.

Chúng ta đọc một nhà thơ như đi theo một dòng sông. Dù bắt đầu từ khúc nào, dù ghé vào bến nào, chúng ta đều phải nghĩ là ngược lên nguồn thì đường dài lắm, mà xuôi ra biển thì biển còn xa. Hai điểm đầu và cuối đó đều thấy vô cùng. Ai muốn khám phá xem con đường ngược và đường xuôi như thế nào còn có thể tiếp tục nhau khai thác được nhiều. Cuộc đời và Nghệ thuật của nhà thơ phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng . Mỗi chữ mỗi câu, mỗi bài thơ mở ra cái quãng ngược, quãng xuôi, những cái không nói tới mà người đọc càng tìm thấy mãi. Sự thất bại thường gặp trong bài thơ là sự khép lại : khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói. Người ta đã đánh giá sai lầm về trí tuệ của đại chúng. Tôi nghĩ rằng trí tuệ ấy, sẽ phong phú bởi vì nó dần dần được tập trung hết kho tàng của dĩ vãng (trong đó có phần trí tuệ của nhà thơ).

Có người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh, có người nói cái vô cùng tận của trời xanh qua cái rộng của biển, cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận trong bát nước và cũng có người chỉ nói tới một giọt ánh sáng để tìm thấy cái vô cùng tận của trời xanh . Có người phải tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà có người tìm thấy dấu xe trong một hạt bụi. đấy là những khác nhau giữa những nhà thơ. Sao nghệ thuật không biết tìm ở đấy sự phong phú ? Sao người làm thơ không biết tìm riêng lấy một cách thể hiện ?

Qua một bài thơ, người ta thấy ngay con người của nhà thơ đang sống thực, Tư tưởng cảm xúc và cảm giác của nhà thơ phải thể hiện tinh vi. Câu thơ như vào trong óc để gợi sự suy nghĩ, vào trong tình cảm để xúc động và như vào trong da thịt để khêu gợi ! Chỉ riêng cái phần giác quan của nhà thơ cũng nói được cái hướng biểu hiện hoặc thiên về tư tưởng, hoặc thiên về cảm xúc, hoặc thiên về cảm giác. Cái khuynh hướng đó nhiều khi là của cả một thời đại, một môn phái hay một triết học. Chúng ta đã qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu ? Người làm thơ biết thành lập cho mình một cá tính trong suy nghĩ, trong tình cảm, trong cảm giác những điều mới lạ bao nhiêu là làm phong phú thêm cho người đọc về mặt tư tưởng, cảm xúc hay cảm giác. Người đọc bị cuốn sau cùng vào cái khuynh hướng của nhà thơ. Trong đời sống của chúng ta hiện nay có biết bao nhiêu người đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật và cũng có biết bao nhiêu sự biến đổi xã hội gây ra do cách đặt vấn đề của những tác phẩm này.

Người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng, cảm xúc và cảm giác trên kia trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây. Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ. Có người dao động và sợ hải quay lưng. Có người vụng về mà làm nổ. Nhưng cũng có người can đảm biết làm nổ để mở đường.

Hôm nay, con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng thuộc về sự sáng tạo của con người tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tật trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chập chạp.

12-7-1957
(Văn Cao, Cuộc đời và Tác phẩm)