truong-tuu-ve-to-tam-1925-cua-hoang-ngoc-phach

Trương Tửu về Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách

Trương Tửu phê bình tiểu thuyết Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, bài đăng trên báo Loa, số 75, ngày 25/7/1935.


Văn-học Việt-Nam hiện-đại

Đề mục này hứa một cái đặc-sắc.
Nó tuyên bố và sẽ chứng-thực một phương-pháp phê-bình mới.
Căn-cứ vào lịch sử quan và những luật tâm-lý, xã-hội, nghệ-thuật để nghiên-cứu, phân tách, tổng quát, phán-đoán, định giá những nhà văn hiện đại.
Có những chữ xác định, những câu chặt chẽ đủ tóm-tắt tinh-thần mỗi nhân-tài, ý-nghĩa mỗi tác phẩm và dấu-vết thời-đại trong văn-chương.
Phê-bình, từ nay, theo tôi muốn, không thể, không nên chỉ là một sự thưởng-thức của từng người. Nó phải là một nghệ-thuật, hơn nữa, một khoa học.

Sẽ có những bài:

Về tiểu thuyết
Chung quanh một tấn kịch của thời đại: Cuộc xung-đột của cá-nhân và gia-đình.

I. Song-An. – Một nhà tiểu thuyết tâm lý biên chép tấn thảm-kịch trong gia-đình Việt-nam, lúc cá-nhân bắt đầu thức tỉnh (Tố Tâm).

II. Khái-Hưng. – Một nhà tiểu thuyết triết-học muốn phá hoại chế độ gia đình Việt-nam và bày cho cá nhân một lý tưởng nhân-loại (Nửa chừng xuân).

III. Nhất-Linh. – Một nhà cải cách xã hội muốn công-bố sự phá sản hoàn toàn của gia đình và sự đắc thắng hoàn toàn của cá nhân (Đoạn-tuyệt).

Một câu phê-bình ngộ-nghĩnh: Nếu có thể ví cuộc xung đột của cá nhân và gia-đình với sự gặp gỡ của hai luồng điện, thì quyển Tố Tâm là tiếng sét. Nửa chừng xuân là cái diều Franklin. Đoạn tuyệt là cái thu lôi Melsens.


Hai nhà văn cảm-giác (deux écrivians sensuels):

I. Thế-Lữ. – Một nghệ sĩ đã mở đầu một lối tả-cảnh kỳ thú (description pittoresque).
Vàng và máu: Một tiểu thuyết đầy những cảm giác huyền bí, khủng-khiếp.

II. Lan Khai. – Một nhà tiểu-thuyết thích tả những cảm-xúc mãnh-liệt của lòng người và say đám những cảnh thiên nhiên hùng-vĩ, hoang vu.


Ba nhà tiểu thuyết tả chân:

I. Nguyễn Công-Hoan. – Ưa trào-phúng lấy nhân tính làm văn liệu.

II. Tam-Lang. – Một nhà tiểu-thuyết biết cảm hết những nỗi khổ nhục của một hạng người đầy đọa.

III. Vũ Trọng Phụng. – Lần đầu viế phóng-sự tiểu thuyết bằng ngòi bút lạnh lùng (Cạm bẫy người)

Một mẩu văn:
Nguyễn Công-Hoan. – Cười cái rởm của người.
Tam-Lang. – Khóc cái nhục của đời.
Vũ Trọng Phụng. – Chụp hình một hạng người trong một cảnh đời.


Lưu Trọng-Lư. – Một nhà tiểu-thuyết thi sĩ.
Người sơn nhân hay một bài ca của một linh hồn cổ lỗ (une âme primitive).

Văn-Tứ. – Người đầu tiên viết truyện nhà binh.


Về thơ:

Tản-Đà. – Một nghệ sĩ có hồn thơ trực nhiên, đại biểu cuối cùng của trường thơ cũ.

Thế-Lữ. – Một nghệ-sĩ có hồn-thơ phù-phiếm, đại biểu xứng đáng của trường thơ quá độ (poésie ransitaire).

Lưu Trọng Lư – Một nhà thơ độc lập, đi tìm những thể bí-ẩn, huyền ảo trong âm-điệu của tiếng Việt-nam.

Nguyễn-Vỹ. – Một tâm hồn mãnh liệt, kỳ dị, muốn cách mệnh thơ Việt-nam: Người thứ nhất dùng thơ 12 chữ có lương tâm và nghệ-thuật.

Tú-Mỡ – Một nhà thơ riễu-cợt và hài-hước.

vân vân…


Tố – Tâm của Song-An

Mấy ngàn năm nay, trong xã-hội Việt-nam vẫn tiềm-tàng sự xung đột âm thầm của cá nhân và gia-đình.

Quá trọng lý tính, nho-giáo đàn áp những tình cảm thiên nhiên của lòng người. Bao nhiêu lễ nghi, phong tục của gia-đình – gốc của xã-hội – kiềm chế sự phát-triển tự do của cá nhân. Mỗi người chỉ là một chiếc vòng trong chuỗi xích, một cái gạch ngang của hai thế hệ.

Cái tình trạng xã-hội ấy gây nên bởi văn-hóa, lại được pháp-luật và dư-luận hộ vệ nên nó tồn tại qua các cuộc biến đổi trong lịch-sử, nguyên vẹn như một tử-vật (chose morte).

Tuy vậy, dù tránh được sự tàn phá của thời dan, nó cũng không thể bất diệt vì nó trái tự nhiên. Nó hãm vào trạng thái liệt bại những năng lực nhân loại, bao giờ cũng yêu-cầu sự phát-dục hoàn toàn.

Vì thế nên trong cái yên lặng giả dối của xã-hội Việt-nam vẫn ẩn nấp một sức phá hoại. Dân tộc ta sống theo hai giòng sinh-khí ngược nhau. Ở từng trên, các đồ-đệ trung thành của đạo Khổng chịu hi sinh cá thể cho chế-độ tổ truyền. Trái lại, đám bình dân quê mùa, thô lỗ vẫn chạy theo tự nhiên.

Những câu ca rao tục ngữ tự tình chỏng lỏn, mánh khóe, theo ý tôi, chính là sự trả thù cái quan niệm nhân sinh khô khan của nho-giáo.

Những câu ve vãn, bỡn cợt, những bài ca than thân trách phận, những khúc hát ai-oán của thôn nữ nhỡ nhàng về tình duyên, những ngạn ngữ phóng đãng, táo bạo, ta thường nghe bên trong lũy tre xanh, chứng thực rằng dân chúng Việt-nam vẫn khao khát sống một cuộc đời đầy đủ, lý thú hơn cái đời nhân tạo ngoài xã hội. Họ có một tâm hồn rồi rào biết cảm xúc tất cả những tình tha thiết của loài người.

Nhưng sự khao khát ấy, pháp luật, phong tục, luân lý kết án như một đại tội nên những linh hồn yếu đuối phụng sự nó phải mau mau trở lại mực thường nếu không muốn bị đẩy ra ngoài gia-đình, xã hội. Không được thỏa mãn, nó có thể giết một tâm hồn quá khích. Ở dân quê, nó chỉ để lại một tiếng rền rĩ âm u.

Những con người ngây thơ đó chưa biết đến cái vết thương không bao giờ lành của ái tình. Thất vọng, họ không tuyệt vọng. Rồi ngày tháng xóa dần trong trí nhớ họ những cảm giác êm đềm, cuồng dại. Tấn kịch, vì thế, chưa thành một vấn đề.

Ngày nào, những tâm hồn cao đẳng thức tỉnh bắt đầu hưởng-ứng tiếng gọi của trái tim, sự xung đột ngấm ngầm kia mới bùng ra, đột ngột, hãi hùng.


Ngày ấy, sự tình cờ của lịch-sử đã đem lại cho dân tộc Việt-Nam. Tự nhiên, văn chương Pháp thành môn học bắt buộc của thanh-niên, đầu thế kỷ hai mươi. Lần đầu họ được biết cái kỳ thú của cảnh vật. Bao nhiêu vẻ đẹp hùng tráng, u uẩn, cao siêu, bát ngát của trời, trăng, mây, gió, núi, bể, v.v… thanh-niên biết Pháp văn được hưởng-thụ say sưa, thấm thía. Những áng văn tài tình của Rousseau, Bernardin de St Pierre, Chaleaubriand, Lamartine, Pierre Loti… làm họ ngây ngất, tan hồn trong thiên nhiên (la nature). Họ sống bằng cảm-giác, luôn luôn triền miên trong những cảnh huyền-ảo tả trong văn-chương Pháp. Mà lạ! Trong thế-giới mơ-mộng ấy, phía chân trời xa lắc xa lơ, bao giờ họ cũng chỉ gặp hình bóng hai người – chàng và nàng. Cả vũ trụ mung lung họ chỉ thấy kết tụ ở một cử-động – cái hôn đắm đuối nồng nàn.

Linh-hồn, thể-chất họ đều cựa cậy, rung động, xôn-xao. Văn chương pháp đã mở cửa cho thanh-niên Việt-nam vào hai thế-giới tân-kỳ: Mỹ thuật và Ái-tình. Lần đầu, vẳng đưa bên tai họ tiếng gọi xa-xăm của cái vô tận ngoài vũ trụ và tiếng gọi huyền ảo của cõi lòng.

Với mỹ thuật, đạo-đức tất nhiên phải ngã.

Với ái-tình, lý-tính tất nhiên phải đổ.

Ai không biết đạo-đức và lý-tính là hai yếu tố của Nho giáo? Hai hòn đá tảng mấy nghìn năm của xã-hội ta?

Cho nên thanh-niên Việt-nam, đầu thế-kỷ hai mươi có linh cảm (le pressentiment) sắp phải vật lộn với một cái quá-khứ kiên cố nếu muốn toại ý-nguyện mình.

Trước sự phấn đấu, thanh niên lo ngại, rụt rè. Một mối hoài-nghi không căn-cứ tràn ngập cả tâm hồn.

Say đắm sắc đẹp, khao khát tình yêu, lo buồn vơ vẩn, đó là ba nguyên tố của sự Lãng-mạn.

Lãng mạn! với nó thanh niên trở thành kẻ thù của cổ nhân.

Với nó, nước Việt-nam bắt đầu làm sân khấu cho một tấn kịch não-nùng thê-thảm.


Tấn kịch văn-hóa này, đau đớn nhất trong gia-đình. Ông Song-An, Hoàng Ngọc-Phách, là người đầu tiên đánh cái dấu ấy trong lịch sử hiện đại. Thấy trong xã-hội đầy rẫy “những cảnh đời lỡ lầm, chênh lệch, quá mơ màng đến thành như mây tan, khói tỏa”, ông đau sót cho đôi lứa thiếu-niên xô nhau vào bể ái đến bị trọng thương. Rồi, sẵn mối từ tâm ông muốn cứu vớt họ. Ông ít mong ở chuyện Tố-Tâm một cách làm giầu văn học nước nhà hơn là một “hành vi tốt” (une bonne action). Viết tới đây, tôi nhớ nhà tiểu-thuyết Pháp Paul Bourget. Tiên-sinh xuất bản cuốn “Kẻ đệ tử” cũng chỉ cốt giác ngộ thanh-niên Pháp đang đắm đuối torng chủ-nghĩa duy vật…

Bằng cuốn Tố-Tâm, ông Song An đánh hai cái dấu hỏi thật lớn vào trang đầu của thời đại. Ông nêu ra, rồi giải quyết hai vấn-đề quan trọng:

1) Đôi trai gái “lãng mạn” gần nhau có tránh thoát được ái tình không?

2) Ái tình ấy, ở hiện trạng xã-hội bây-giờ gặp những trở lực gì và gây ra những tai họa gì?

Một vấn đề tâm lý và một vấn đề xã hội. Toàn truyện là một bài khảo cứu cái nguyên nhân và cái kết quả của thời bệnh (le mal du siècle).


Ngay bài tựa đã công bố rằng “Tố-Tâm là một quyển tâm-lý tiểu-thuyết”. Tác giả định ý “bầy ra một tình trạng của lòng người, xét cái hành-động của tâm lý còn luân-lý, phẩm bình xin để phần dư luận.

Muốn cho hợp pháp, phê bình truyện Tố-Tâm trước hết phải đứng trong phạm vi tâm-lý.

Bằng những nét đơn-sơ, ông Song An vẽ chân-dung hai người lãng-mạn “lòng đã thiên về tình cảm lại sẵn có óc văn chương” mơ ước những cảnh ái ân thơ mộng trong đời thực-tế: Đạm-Thủy, Tố Tâm.

Một việc tình cờ cho hai người gặp nhau. Họ kín đáo e lệ, cử chỉ theo đạo lý. Rồi văn chương là sợi dây nối họ vào tình bạn. Cả hai đều chỉ định bụng coi nhau như anh em, để giúp nhau tư tưởng, sinh hoạt.

Nhưng “lúc đêm nằm chưa ngủ hay lúc sáng sớm mới mở mắt ra, những lúc chiều trời mát mẻ hay là đêm vắng trăng trong”, trí tưởng họ tự nhiên thích bầy ra cái “thế giới bào ảnh”, “những cảnh mơ màng của hai người yêu nhau đang vơ-vẩn ở chỗ cao-sơn lưu thủy”.

Chưa kết hợp trong thực-tế, hai người đã kết hợp trong mộng tưởng. Nhưng, phải biết say đắm thiên nhiên mới có thể thêu dệt được những ảo cảnh. Đạm-Thủy và Tố-Tâm đều chịu ảnh hưởng của Pháp-văn nên dễ sa vào trạng thái nói trên.

Đứng trong miếng đất lãng-mạn ấy, tất nhiên tình bạn phải khuynh hướng đến tình yêu. Nguồn gốc của sự biến hóa này là trí “tưởng tượng”. Nó mãnh liệt lắm, nhất là khi nó duy nhất và tập trung. Có thể truyền tuyến lực qua không dan, nó đã được khoa học dùng làm căn bản của môn thần giao cách cảm (télépathie). Vô tình, hai người trong cuộc đã thành những tay thôi miên cùng ám-thị nhau mà không tự biết.

Thế là, chàng và nàng đều ôm ấp một tình yêu đám đuối ở đâu đâu đem lại.

Tưởng tượng là địa phận của cõi vô-ý-thức (le domaine de l’Inconscience) nên không thuộc quyền kiểm-soát của lý trí. Nhiều khi nó làm xong việc, lý trí mới tỉnh ngộ, phản động nhưng không kịp. Vì thế, nên Tố-Tâm, ở ngay con mắt người thường – vú em – đã nghiễm nhiên phụng sự ái tình mà vẫn không hay. Câu nói, miệng cười, buồn rầu, thẹn tủi, thảy thảy đều ở cõi vô-ý-thức. Đến lúc gác chân lên chăn Đạm-Thủy, nàng đã thành người của ái-tình rồi!

Hai người ấy chỉ còn chờ một lời thú là công nhiên yêu nhau. Lời thú ấy, thương thay, lại chỉ là một tiếng khóc!


Đến đây, ông Song An đã giải quyết vấn-đề tâm-lý nêu ra.

Theo ý ông, “một đôi trai gái quen nhau, hợp tính tình nhau… gần nhau luôn… thì không sao khỏi sinh tình luyến ái; dù muốn nhận là anh em hay bè bạn… cũng toàn là ảo-tượng cả”.

Ông đã chứng thực lý thuyết ấy, rõ ràng, chân xác. Tố-Tâm tuy biết chỉ theo đuổi tình tuyệt vọng mà vẫn cứ yêu, yêu để mà yêu, yêu vì đã chót yêu, yêu vì không thể yêu lần thứ hai được nữa.

Nàng tự thú “Anh ơi, anh có ma lực gì mà lòng em một ngày một vướng vít…, cuộc đời em không thể rời anh ra được nữa”.

Đạm-Thủy cũng vậy, thấy chắc chắn nỗi khó khăn trong cuộc ái-tình, mà vẫn “phải yêu”.

“Ôi nhân tâm! Ôi tạo-vật! nhờ ai giải họ cái yêu cái ghét ở đời cho lòng người ta khỏi vì ghét, yêu mà sướng-khổ”.

Những lời kêu não nuột ấy làm tôi nhớ đến đôi uyên ương của thi-sĩ Nguyễn Vỹ trong bài Đền đổ. Nghe họ than:

Chúng ta đã đem nhau đi xa ngoài dục-vọng phàm trần.
Đã xây một đền-đài tốt đẹp trên đỉnh gò Lý-Tưởng.
Chúng ta đã cùng đem hai tâm hồn ta đang tinh anh.
Hiến thờ tình thân hữu để cầu một cuộc đời cao thượng.
…Chúng ta cũng có nghị lực và tín ngưỡng như người Chàm.
Tưởng những miếng vôi viên gạch của ta đều rắn rỏi
Và sẽ đứng lâu bền mãi mãi cùng tuế nguyệt giang san.
Ngờ đâu! đài miếu năm xưa nay còn là cái tháp bỏ
Dần dần, những khi gió hạ, mưa xuân, chiều thu dịu dàng
Hoặc những khi cùng nhau ta ngồi im trên bãi bể
Ta cùng nghe một tiếng đổ, tan trong cái rỗng không gian
Một chút ít đền đài ta đã tự nhiên rời rạc bể.
(Đền Đổ – Tập thơ đầu)

Mấy câu thơ thống thiết này tóm tắt được cả một đời tâm lý. Thi sĩ giải quyết thật lâm ly cái vấn đề mà nhà tiểu thuyết vừa phân khảo.

Tóm lại, theo ông Song An, ái tình là một định mệnh (une fatalité). Nó là biểu thị của cái vô-ý-thức. Không giảng giải – mà ai giảng giải được? – ông chỉ vạch cho ta xem con đường phải đi của ái tình từ lúc phát khởi đến khi thành tựu.

Nhờ ông, ta được biết cái tính-cách tàn-khốc của ái-tình ở những tâm-hồn lãng-mạn: nó không phải chỉ là một việc tâm lý xảy ra torng đời người, nó là một thế-giới huyền ảo, bước vào không ra được nữa.


Với tình-yêu tuyệt vời ấy, thanh-niên đi tìm hạnh-phúc. Bỗng dưng, trong linh-hồn họ, bên cạnh những sự mơ-ước cao xa, hiện ra một phản động-lực: Tình gia quyến.

Cuộc vật lộn bắt đầu có. Ái-tình, trong Tố-Tâm, không phấn-đấu với một chế-độ hay một hạng người. Nó phải tranh sống mái với một cảm-tình thienh6 liêng, thâm-thiết, di-truyền đã mấy mươi thế-kỷ.

Chưa đủ sức mạnh, Ái tình vứi dáo chịu thua, nhưng không hàng phục. Giữa bãi chiến-trường, Tố-Tâm tình nguyện lấy cái chết để bảo toàn con tim khối óc. Sống vì ái-tình, chết vì ái-tình, nên nàng sẽ được lưu-truyền như một tượng-trưng (un symbole).

Ông Song-An mượn cái thảm-trạng của Đạm-Thủy và Tố-Tâm, để bày ra cái nguy-hiểm của ái tình, trong phạm vi xã-hội lúc ông viết truyện. Ông thấy rằng, nếu lòng gia-quyến còn mãnh-liệt thì ai vương vào ái-tình chỉ mua chuộc lấy nỗi đau lòng.

Nhưng ông quên rằng ái-tình đến vì nó phải đến, không sức gì ngăn cản được. Nó chưa ban hạnh-phục cho người sùng-bái nó vì nó còn yếu đuối.

Công nhận lãng-mạn là một thực-trạng và khuyên thanh-niên tránh xa ái tình. Ông Song-An đã làm một việc vô ý-nghĩa.


Theo tôi thấy, quyển Tố-Tâm là hình ảnh của một cái vòng luẩn-quẩn:
Phải yêu.
Không nên yêu.
Phải yêu.

Nó là biểu-thị của một sự khủng-hoảng tinh-thần. Toàn truyện toát ra một tâm-trạng bối rối, lo sợ, rụt rè.

Cũ và mới gặp nhau đột ngột quá nên thanh-niên chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề. Không ai biết nên theo ngả nào. Trong tâm-hồn, một sức mạnh ẩn đến tình yêu, một sức nữa co lại gia-đình. Thanh niên bị rầy vò nhưng khoái trá, sẵn lòng để vết thương tình thiêng liêng tràn lan khắp trái tim.

Tóm lại cá-nhân mới thức tỉnh, chưa có tín-ngưỡng ở sự toàn thắng và tương lai. Tình lãng-mạn vẫn còn đứng trong cõi vô ý thức.

Truyện Tố-Tâm là bức vẽ hoàn toàn của hiện-trạng tâm lý và xã hội ấy.


Phê bình Tố-Tâm, tôi không thể quên văn-chương nó và ảnh hưởng của ông Song-An trong văn giới.

Trước hết, tôi phải khen tác giả có ngòi bút đơn giản, mộc mạc mà rất cảm động. Tài tình nhất là lúc ông tả những cảnh tâm lý kín đáo, ngây thơ.

Đạm-Thủy muốn về trường, Tố-Tâm giữ lại. Ngòi bút vụng về ở đoạn này tất làm ta buồn cười. Ông Song An biết đặt nghệ thuật ngang hàng với đầu đề: “Tôi đứng dậy cầm mũ thì nàng bảo để cho người gọi xe đã; có khi đến mười lăm phút mà không thấy xe. Tôi ra về thì nàng lại hỏi một câu gì đó bắt tôi phải cắt nghĩa; hay tôi có nhờ mua hoặc làm hộ cái gì thì đợi lúc tôi ra về nàng mới hỏi lại. Thành ra từ lúc chuyển về đến lúc ra cửa có khi hàng giờ đồng-hồ”.

Bức tranh linh hoạt như chụp hình cái tình quyến luyến của đôi trai gái, đến thời kỳ không muốn rời nhau. Những cảnh khác (bầu cỗ rằm tháng tám, thú nhận, ngồi vẽ) đều êm đềm, thanh thú và kín đáo như thế cả.

Ông Song-An lại còn có tài tả những sự phát hiện lặng lẽ của ái-tình “Lắm khi trong hai con mắt nàng nhìn tôi có vẻ thiết tha hình như kêu van tôi ngỏ lời trước đi cho nàng được thỏa, mà chắc lắm lúc trong mắt tôi cũng kêu van nàng đừng làm cho tôi một ngày kia phải thú tội với nàng”.

Nhưng khéo nhất là những cảnh thiên nhiên ông mượn để lồng khung cái tình yêu.

Những lúc hai người say đám “ngồi dưới gốc cây mà ngắm đồng lúa mông-mênh bát ngát; trận gió ào ào lay động ngọn lúa như những làn sóng bể vàng, còn những đám tre lơ thơ ở giữa đồng thì tựa như những hải-đảo có cây xanh.

Hoặc lúc “Tố-Tâm đi ngắt từng bông lúa, chạy đổi cào-cào châu-chấu như một đứa trẻ ngây thơ rồi bắt tôi cầm một cách nũng nịu… chạy hết ruộng nọ sang ruộng kia, lên bờ cao xuống bờ thấp, mà dưới ánh nắng buổi chiều thu hơi nhạt nhạt, trông mặt nàng đỏ hồng hồng, giấp tí mồ hôi dính mấy sợi tóc xõa xuống trán”.

Ngòi bút của Song-An không kém chổi sơn của nhà họa-sĩ.

Những mầu sắc vàng, xanh, hồng hồng, nhạt nhạt, những mấp mô cao, thấp, những tiếng ào ào… ghi trong cảnh khiến ta có một cảm-giác đứng trước một bức vẽ kỳ-thú, dịu dàng.

Trong truyện, có canh hai người đi tắm biển Đồ-sơn thật là tuyệt bút.

Đây, một nét vẽ mong-manh: “Những đám xanh đỏ lúc nãy, người đi tắm mặc áo nịt, đã hóa ra một đàn cò mình đen, chân, cánh trắng, lô nhô ở giữa làn sóng lờ lờ.

…một nét chấm phá “Ngoài xa, lơ thơ những chiếc thuyền đánh cá, buồm trắng phất phơ in vào mấy giặng núi mờ xanh ở bên chân trời hung hung đỏ”.

Kìa, một cảnh đắm đuối: “Lúc đó thủy-triều lên mạnh.. chúng tôi ngồi xuông những mỏm đá nổi lên gần bờ.. bỏ chân xuống nước cho sóng vỗ vào, thỉnh thoảng bị cơn sóng to đập vào đá nước tóe bắn lên tận mặt. Chúng tôi tưởng-tượng ra như Vũ trụ chỉ có hai người.. chỉ còn thấy khói hương của ái tình đang nghi ngút bay trong đám tịt mù..”

Hoặc một cảnh mơ-mộng ngây-ngất: “Trên bãi cát phẳng.. chúng tôi bỏ giầy lội xuống mấp-mé mặt nước, đi đuổi bắt những con giã-tràng…”

Sự thật hay ảo tượng? Tác giả đã có biệt-tài nhắc cho ta cái cảm giác huyền hồ ấy, bất kỳ ở cảnh nào.

Không những chỉ làm ta say sưa, ông Song An còn khiến ta nhiều khi bồi hồi, thổn thức. Ông khéo đem một cảnh vật gợi một cảm tình, một cảm giác bâng khuâng, đau khổ.

“Bốn bề vắng lạnh, duy chỉ có tôi đứng chỗ một trời một đất với mộ nàng, xa trông những hạt mưa bay mờ mờ trắng, mấy hàng tre gió lướt đổ ngà-ngà, những con chim bạt gió kêu bầy, mấy con bê lạc đàn gọi nạ. Tôi nghĩ đến lúc đi chơi với nàng…”

Ngòi bút của Song-An kỳ-thú đậm đà lúc tả cảnh, tả tình bao nhiêu thì sắc mắc đanh thép bấy nhiêu, lúc biên nhận một điều nghiệm xét tâm-lý (une observation psychologique).

“Những lúc tôi đến gặp nàng đang cúi đầu ngồi thêu, chẻ rưa hay đọc sách bất thình lình ngửng lên thấy tôi thì nét mặt có vẻ khác, có một tia mừng từ trong tâm chạy lên mặt thoát qua hai con mắt và đôi gò má”.

Có nhiều câu ký nhận (remarque) rất chân xác:

“Trong cách giẹp ái tình không gì dở bằng đang nằm thắm mặn nồng mà đem ngăn lại”

“… Không gì vô ích bằng giảng đạo-đức với người đang ham-mê…”

Ông Song-An tỏ ra một người rất sành Khoa tâm lý học.


Tuy vậy, tôi phải nói ngay rằng văn Song-An còn nhiều chỗ cũ rích.

Lối biền ngẫu: “Em ơi! sinh ra gái mưa sa là phận, rủi may âu cũng sự trời..”

Lối ví-von: “.. Tôi nói vậy thấy đôi mắt nàng thoáng qua một vẻ buồn; bên kia bể mặt trời cũng hé ánh nắng, hồng quân với khách hồng-quần!”

Lối pha trộn: “..Ta là người chung-tình nên ta buồn, ta buồn ai có biết chăng, ta vui ta chỉ mong rằng ai vui..”

Câu văn không sửa tỉ mỉ, nên nhiều chỗ cẩu-thả, nặng-nề lằng-nhằng như giây trão: “Anh ơi! ấy chỗ khổ tâm của chúng tôi đấy, anh đừng tưởng lúc yêu nhau đã dễ bỏ nhau như vậy đâu, cái thú ái tình như ái tình của tôi với nàng không thể bỗng chốc đã lìa nhau ra được, chúng tôi đã hết sức đè nén mà không sao được, vả chăng tôi không hiểu vì sao không muốn buông nhau ra”.


Nhưng ta nên biết công cho ông Song-An. Hồi ông cầm bài viết truyện Tố-Tâm, quốc văn còn lủng củng, lộn xộn. Ông Vĩnh ông Quỳnh mài cây viết để dịch những bài triết lý, những vở kịch bình dân. Ông Song An là người đầu tiên dùng quốc văn viết một cuốn tiểu thuyết tâm lý. Thế mà văn ông cũng sáng sủa lý thú, tao nhã, nhẹ nhàng; thật đáng cho ta ngả mũ chào cung kính.

Trong văn giới, ông Song An là người có công to. Ông đứng đầu những nhà văn tả cảnh, tả tình như Khái-Hưng, Thế-Lữ… Ông mượn của Pháp văn, của tâm hồn “hai thứ”, ông trao cho văn chương: Cảnh thiên nhiên và lòng người. Những ai bây giờ biết ca tụng mỹ-thuật và ái-tình phải nhìn nhận ông Song-An như người khởi xướng.


Có công và có tài như vậy, Song An tiên sinh vẫn bị người ta không hiểu và trách móc. Viết bài phê bình này tôi cố ý muốn đặt danh vọng ông ngang xứng với cái biệt tài và công trạng của ông đới với văn chương Việt-Nam cận-đại.

truong-tuu-mot-quan-niem-ve-van-chuong

Trương Tửu, Một quan niệm về văn chương

Từ cuốn Trương Tửu – Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam 1900-1945 – Nxb Văn học, 1997, tr.420.

Chúng tôi tôn thờ sự sống, mãnh liệt và đầy đủ, sự sống bản chất ở sức mạnh, phát triển ở tranh đấu, cứu cánh ở tiến bộ, sự sống mà hình thức biểu thị tốt nhất, cao nhất, thuần túy nhất là xã hội loài người.

Chỉ có xã hội loài người là đáng phụng sự.

Chỉ có tiến bộ là đáng tín ngưỡng.

Chỉ có tranh đấu là đáng sùng mộ.

Chỉ có sức mạnh là đáng ca ngợi.

Vì chỉ có sự sống là đáng yêu, đáng quý, đáng vun xới, đáng khuếch xung, đáng tôn thờ. Sự sống thiết thực của loài người trên địa cầu, không bận rộn về lẽ huyền bí của vô tận, không dính dáng đến thế giới siêu hình; sự sống tự nó là một vinh quang, một toàn thắng.

Văn chương phải lấy sự sống ấy làm nguồn, phải tắm gội trong hào quang rực rỡ của nó, phải giúp nó chiếu thẳng đến tim óc mọi người, phải phụng sự nó không rụt rè, không nhu nhược.

Tóm lại, văn chương phải mô tả sự sống để đánh dấu nó trên con đường phát triển vô cùng tận, qua các biến thiên của thế kỷ.

Không phải mô tả sự sống vụn vặt như mọi nghệ sĩ thiển cận thường nhìn và sao chép. Phải mô tả sự sống tổng hợp, trong các giai đoạn thành lập, biến hóa và đi tới của nó. Phải mô tả nó từ lúc chia phân ra các nguyên tố biệt lập đến lúc tập trung vào một đại thể duy nhất, theo sức chi phối của luật biện chứng duy vật đời đời.

Sự sống này là cái khuôn và cái đích của tất cả những công trình phá hoại và kiến thiết trong lịch sử mà chiến sĩ là NGƯỜI, mặt trận là XÃ HỘI.


Chiều theo cái đà tiến bộ không ngừng của sự sống, người và xã hội luôn luôn hô hấp trong không khí cải thiện. Nói khác đi, người và xã hội luôn luôn tranh đấu để biến đổi, biến đổi để phát triển, phát triển để đi tới.

Mỗi lần trong xã hội, cái “hạt giống biến đổi” đến thì giờ nảy nở, lập tức bao nhiêu tổ chức đang thông dụng bị phá hoại để nhường chỗ cho những tổ chức mới, thích hợp với hoàn cảnh mới gây ra sự phát sinh của những điều kiện kinh tế mới.

Liền đó, cá nhân sống trong xã hội ấy, bị luật ảnh hưởng lôi cuốn, thay đổi hết các tình cảm, tư tưởng, tín ngưỡng đang có.

Và cũng liền đó, cá nhân có thêm những cần dùng mới, nguyện vọng mới. Nếu tổ chức mới của xã hội đủ thỏa mãn nó thì đoàn thể được sống điều hòa cho đến thời kỳ biến đổi khác. Nếu tổ chức mới của xã hội không đủ thỏa mãn nó thì ngọn lửa tranh đấu trong đoàn thể không thể nào dập tắt được.

Đó là nguyên tắc và pháp luật thiết yếu của các cuộc cách mạng trong lịch sử. Mà nó cũng là điều kiện và hình thức độc nhất của tiến bộ.


Không có gì giúp người cần bút đủ tự hào để phấn đấu, đủ can đảm để thắng, đủ an ủi để ngã, bằng nhận thấy rằng trong các công trình phá hoại và kiến thiết vinh quang nhất của xã hội loài người, bao giờ nhà văn cũng mạnh dạn đứng vào hàng ngũ tiên phong. Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên lính cảm tử phất cao ngọn cờ tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới và đẹp trên con đường gay go của hạnh phúc.

Mỗi khi hai lực lượng thuận và phản tiến bộ xung đột nhau, báo tin những giông tố hãi hùng, nhà văn, nhờ một linh khiếu – một trực giác – đặc biệt lập tức dẫn đạo tư tưởng của đoàn thể đi vào cuộc tranh đấu và không bao giờ quên ủng hộ mặt trận nào hy sinh để làm toàn thắng lý tưởng và hạnh phúc. Giờ phút ấy nhà văn hòa vận mạng mình vào vận mạng của xã hội tương lai, viết bằng chữ máu vào trang giấy sáng của thế kỷ một lời tiên tri, loài người sắp đi thêm được một bước.

Nhà văn chính là tâm thức của thời đại, sứ giả của tiến bộ. Nhà văn là vinh dự của loài người.

Phận sự của nhà văn thiêng liêng như vậy, nên không thể coi văn chương là một món trò giải trí lúc trà dư tửu hậu. Văn chương phải là khí cụ phát biểu và lưu hành tư tưởng, tình cảm mạnh và đẹp. Văn chương, phải có tinh thần tranh đấu và lý tưởng.

Không đủ những tính cách ấy, văn chương tự truất địa vị mình, tự hoại giá trị mình và trở nên một sức phản tiến bộ đáng bài trừ. Mà nhà văn nào phụ họa vào nó sẽ bị coi như kẻ thù của xã hội.


Đó là đại cương những quan niệm của chúng tôi về nhân sinh, về văn chương, về sứ mệnh của nhà văn. Căn cứ vào những quan niệm ấy, chúng tôi nghiên cứu và phê bình văn chương hiện đại.

Từ năm 1932 đến bây giờ, chúng ta thường được nghe những tiếng “văn học phục hưng, văn nghệ phồn thịnh” dùng để mệnh danh cái đà phát triển của văn chương hiện đại. Những danh từ ấy một vài người nông nổi ném ra, rồi một vài người nông nổi a-dua nhắc lại, om sòm trên báo chí. Sự ồn ào trống rỗng này đã làm nhiều người cạn nghĩ tin rằng văn chương Việt Nam hiện thời là mẫu mực tuyệt mỹ tuyệt hảo rồi. Người ta nhắm mắt vỗ tay hoan nghênh những văn phẩm chỉ có độc một đặc điểm là làm điếm nhục nghệ thuật và bại hoại đạo lý. Người ta ca tụng một cách mù quáng những văn sĩ, thi sĩ mà đáng lẽ người ta phải cảnh cáo để họ đi vào con đường thuận tiến bộ.

Phải phá đổ sự tin nhầm ấy. Phải đem các tác phẩm được hoan ngênh sàng lại theo phương pháp phê bình khách quan và quan niệm tranh đấu về văn chương. Phải soát lại ngôi thứ các nhà văn. Phải chỉnh đốn dư luận.

Chúng tôi, vì tương lai của văn chương Việt Nam, tình nguyện lĩnh cái nhiệm vụ gai góc ấy, không ngại ngùng những lời chê bai của kẻ hèn, không ngừng bước trước sự mai mỉa của kẻ yếu, không nản chí trước sức phản động của kẻ nghịch.

Chúng tôi sẽ lần lượt bài trừ một cách vô tư, nhưng tàn nhẫn tất cả những ngọn cỏ tai hại trong khu ruộng văn chương để những nhà văn tâm huyết có đất gieo những hạt giống tốt, thuận với mưa, nắng của thế kỷ hai mươi, gây một mùa màng đẹp cho đất nước.

Những cỏ tai hại ấy không phải ít. Theo chúng tôi thấy, chúng có thể chia làm bốn loại:

  1. Văn chương phóng đãng
  2. Văn chương ủy mị
  3. Văn chương bi quan
  4. Văn chương xu nịnh

Bốn thứ này họp lại thành một ung độc trong văn chương và xã hội Việt Nam. Chúng phản tiến bộ.

Phải diệt chúng đi. Diệt chúng như diệt những trùng độc. Có thế văn chương Việt Nam mới phát triển theo nguyên tắc tranh đấu được. Có thế sức tiến thủ của dân tộc Việt Nam mới bùng được.

Lúc này chính là lúc mạnh được yếu thua. Không được phép mơ màng, hoài nghi, nô đùa, bi quan, chán nản. Phải khỏe. Thân khỏe, hồn khỏe mới không bị nghiến nát trong guồng máy cạnh tranh.

Tất cả những phần tử trẻ trung thông minh tâm huyết của nòi giống Việt Nam phải cố công luyện lấy một tinh thần tranh đấu thật cứng cỏi để bảo vệ, để chống họa diệt vong nó đang đón chờ những dân yếu hèn ở các ngã ba lịch sử.

Không muốn bị diệt vong, chúng ta phải mạnh. Ngày nào tất cả người Việt Nam biết lấy sức mạnh làm tôn giáo, lấy tranh đấu làm luân lý, lấy hy sinh làm vinh dự; ngày nào cha dạy con, vợ dạy chồng, anh dạy em nên gắng gỏi làm người cho ra người, làm dân cho ra dân; ngày ấy, chúng ta mới có quyền sống những phút vinh quang, hạnh phúc.

Văn chương Việt Nam phải nhận mệnh nhào nặn cái ngày quý báu đó. Trong giờ phút nghiêm trọng này nhà văn lương tâm không có can đảm ngồi mơ mộng, ca hát những cái phù phiếm, tán tụng những cái xa xỉ.

Nhà văn Việt Nam của thế kỷ hai mươi phải đảm lĩnh cái trọng nhiệm xây dựng tư tưởng Việt Nam trên những nền tảng mới, vun trồng văn chương Việt Nam theo những nguyên lý mới, dìu dắt dân tộc Việt Nam đến một vận mệnh mới.

Những nhà văn nào làm trái trọng nhiệm ấy, ta phải đánh đổ. Những tác phẩm nào phản khuynh hướng ấy, ta phải thiêu đốt. Những dư luận nào ngược tư trào ấy, ta phải đả đảo.

Làm như vậy tức là làm trọn nghĩ vụ một người thờ sức mạnh, một công dân thờ Tổ quốc, một nhà văn thờ nghệ thuật.


Photo: Liberty Leading the People (1830), by Eugène Delacroix