trinh-cong-son

Trịnh Công Sơn

Đã viết một bài về Văn Cao, mình cũng muốn viết tiếp một bài về Trịnh Công Sơn, mặc dù mỗi lần đụng đến Trịnh Công Sơn là y như rằng luôn có sẵn một quân đoàn nhảy vào công kích.

Về Trịnh Công Sơn, trong khi toàn bộ những người cùng thời với ông như Lam Phương, Trúc Phương, Nhật Trường đều dần trôi dần vào quên lãng; thậm chí cả những Trần Hoàn, Hoàng Vân, Đỗ Nhuận cũng chịu chung số phận (cf. Dale A. Olsen, Popular Music of Vietnam: The Politics of Remembering, the Economics of Forgetting, 2008), thì Trịnh Công Sơn vẫn còn rất rầm rộ trong giới trẻ, được Hà Lê làm mới, và gần đây còn có một cô gái vô danh nổi lên với bản Ta thấy gì đêm nay.

Cái gọi là “nhạc Trịnh” từ trước đến nay vẫn thường được nhắc đến với một vẻ thành kính xen lẫn bí hiểm; và những cái bĩu môi chê bai người hát “không ra bài”, hát “mất chất” biến nó trở thành một thứ nhạc có vẻ cao sang dành cho những old soul có gu thưởng thức. 

Nhưng Trịnh Công Sơn thực chất là như thế nào?

Trước hết, cần phải nói rõ, hiện tượng Trịnh Công Sơn gắn liền với một sự lộn ngược lộn xuôi về nghĩa của lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Trịnh Công Sơn, khi nói về chiến tranh Việt Nam, đã gọi đó là “hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”. Và điều đó hoàn toàn phản pháo lại tính chính nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của những người cộng sản. Bởi vì trong cái nhìn của người cộng sản, chiến tranh Việt Nam không phải là nội chiến, mà là một cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Thế mà, bây giờ người ta nghe ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn lại gật gù cho rằng Trịnh Công Sơn nói đúng, thì rõ ràng là người ta đang ngấm ngầm tự nói với mình rằng cái ngày 30 tháng 4 là một ngày đáng để người lính miền Bắc “ngồi thụp xuống đường khóc như cha chết vì bấy lâu nay đã bị lừa” (Dương Thu Hương), rằng lịch sử vẻ vang mà họ đã dựng nên chỉ là một lịch sử “làm bằng thanh niên tính và lầm lẫn” (l’histoire est faite par des jeunes et des erreurs).

Trịnh Công Sơn đã nói gì về con đường của chủ nghĩa cộng sản?

Ðã có điều gì không thật suốt hai mươi năm nay. Một lầm lỡ đã lên đường và phải đi cho trót con đường máu xương. Như một mũi tên vô tri bỗng lỗi thời trong một nhiệm kỳ vô hạn định. Chúng ta, dù muốn dù không, bị biến thành những mũi tên định hướng được bắn đi từ những đồ hình huy hoàng tưởng tượng và ngắn hạn. Dân ta tàn phế hai mươi năm. Nước mắt và máu đã làm thành những con suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo.

Ðến lúc chúng ta phải dừng tay và nhìn lại. Xin hãy dừng tay và cùng chờ nhìn một mặt trời tươi trẻ sẽ được khai sinh ở phương Ðông. Xin hãy dừng tay để mọi căn nhà Việt Nam có thể mở rộng cửa chờ đón một sớm mai hòa bình. Còn rất nhiều con đường mở ra cho tương lai chúng ta. Những con đường đưa ta về dựng lại một tổ quốc đích thực. 

(Trịnh Công Sơn, 1968, Lời tựa tập nhạc Kinh Việt Nam)

Ông gọi lý tưởng của người cộng sản và người quốc gia là “những đồ hình huy hoàng tưởng tượng”. Vậy thì có khác gì cách bà Dương Thu Hương gọi là “những thiên đường mù” hay một “bờ ảo vọng” đâu?

Điều Trịnh Công Sơn nói, thực ra, có thể bao hàm cả những lầm lỡ của chính quyền miền Nam. Thế nhưng chí ít ông không bị bắt bớ vì tự do sáng tác nhạc “phản chiến”. Âm nhạc của Trịnh Công Sơn mà ra đời ở miền Bắc thì chắc chắn sẽ bị cho là ủy mị, làm chùng lòng chiến sĩ, và sẽ bị khai tử như hàng loạt bài thơ bài nhạc khác, Màu tím hoa sim của Hữu Loan là một ví dụ. Bởi vì ở miền Bắc, chỉ có một diễn ngôn được chấp nhận thôi, đó là chiến đấu và chiến thắng. Nhưng ở miền Nam, nhạc Trịnh Công Sơn được tồn tại và gây ảnh hưởng lên quần chúng. Nó làm những người miền Nam hiểu rõ hơn người miền Bắc rất nhiều về bản chất của cuộc chiến tranh này. Nó tiếp thêm sự chán chường cho những người lính như Nguyễn Bắc Sơn, đi đánh giặc mà cũng như không muốn đánh:

Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc
Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang

(Nguyễn Bắc Sơn, Chiến tranh Việt Nam và tôi)

Trịnh Công Sơn không hề avant-garde. Trịnh Công Sơn không vô tình tự mình nhìn xa hơn cuộc chiến để viết về kiếp nhân sinh, một cõi đi về. Ông tiếp nhận toàn bộ nền văn nghệ rực rỡ của miền Nam, được mở ra bởi những nhóm như Sáng Tạo của Mai Thảo hay Quan Điểm của Vũ Khắc Khoan. Sự lựa chọn mang tính cách hiện sinh, giữa đi hay ở, giữa bên này hay bên kia, giữa sống hay chết đã được mang ra bàn từ trước đó rất sớm từ những ngày đầu của cuộc Nam tiến thế kỷ ở một miền Nam của những con người được quyền tự quyết với cuộc đời của mình. Trịnh Công Sơn viết “đêm sông Hương nhung nhớ, ngày Cửu Long mơ, mơ một ngày Hồng Hà góp hội trùng dương”, nhưng Phạm Đình Chương đã viết Hội trùng dương của ba con sông này từ những năm 1951 rồi. Trịnh Công Sơn viết Gia tài của mẹ năm 1965, nhưng Dương Nghiễm Mậu đã xuất bản Gia tài người mẹ từ 1963. Trịnh Công Sơn viết Nắng thủy tinh từ năm 1962, nhưng Thanh Tâm Tuyền đã cho ra đời Tôi không còn cô độc từ năm 1956.

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
(Thanh Tâm Tuyền, Phục sinh, trong tập Tôi không còn cô độc, 1956)

Chính miền Nam đã sinh ra Trịnh Công Sơn, và Trịnh Công Sơn đã chịu ơn những người quốc gia. Đó hẳn là lý do ông viết Cho một người vừa nằm xuống để tưởng niệm đại tá không quân VNCH Lưu Kim Cương.

Những quan điểm cho rằng Trịnh Công Sơn trốn quân dịch là vì không muốn tàn sát đồng bào, hay là Trịnh Công Sơn đi giữa hai làn đạn để nêu cao tư tưởng vì một Việt Nam chung theo mình là đang đánh giá quá cao tư cách Trịnh Công Sơn. Có nhiều hơn một lời chứng về thái độ thân quốc gia, chống cộng của Trịnh Công Sơn. Trong hồi ký của mình, Phan Thanh Tâm viết:

Trưa ngày 30/4/75 lúc xe tăng Nga T54 tiến vào ủi sập cổng dinh Độc Lập thì trên đài Saigon, cả nước nghe Trịnh Công Sơn (TCS) hát bài Nối Vòng Tay Lớn: bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam. Nhưng ít ai biết tác giả với giọng ca đó đã từng bị đe dọa thanh toán giết vì một sáng tác sau vụ cán bộ nằm vùng nổ súng cướp micro ở Đại Học Văn khoa năm 1967 vì câu “anh nhân danh ai đến đây bắn vào người”; và mấy ai biết Trịnh Công Sơn đã ví Việt Cộng như “đàn bò vào thành phố” qua bản Du Mục? Ngoài ra, cũng hiếm người biết rằng nhờ báo Saigon trước 75 đăng lệnh cấm phổ biến nhạc phản chiến họ Trịnh số 33 ngày 8/2/1969, đã cứu TCS khỏi vụ xét Trịnh Công Sơn có công hay có tội với cách mạng, tại Hội Văn Nghệ ở Huế sau ngày toàn Việt Nam bị nhuốm đỏ; khi Hội đặt vấn đề về câu hát “hai mươi năm nội chiến từng ngày” và bài Cho một người nằm xuống thương tiếc đại tá phi công Lưu Kim Cương, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Bản Anh nhân danh ai được giấu tiệt sau khi TCS nhận được lời cảnh cáo. Phạm Phú Minh, chủ biên Diễn Đàn Thế Kỷ cho tôi biết như vậy khi chúng tôi nhắc tới Quasimodo, một nhân vật vô gia cư sống quanh Quán Văn, chỗ mà nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (HNT) gọi là Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, cách Phủ Tổng Thống ba blocks. Vụ khủng bố có máu đổ trong trường học đã khiến TCS hết dám hát trước đám đông ở Saigon và Quán Văn đóng cửa luôn. Còn chuyện TCS thoát hiểm nhờ lệnh số 33 được Nguyễn Đắc Xuân kể lại trong Trịnh Công Sơn – Có một thời như thế. Sách này sưu tầm nguồn tư liệu đời TCS; có đề cập thời gian TCS về lại cố đô sau 1975, để tránh việc anh em Phong Trào không thích lập trường chung chung của họ Trịnh. Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai người hay được nhắc đến khi nói về vụ thảm sát Mậu Thân 1968 Huế.

Và tất nhiên, quan trọng nhất vẫn là bài viết của họa sĩ Trịnh Cung trên tạp chí Da Màu ngày 29/3/2009. Bài viết này nói lên rằng, cái câu mantra ngay cửa miệng của những người cuồng si Trịnh Công Sơn: “ông Trịnh Công Sơn không quan tâm đến chính trị” là cần phải xem lại.

Khi viết nhạc, ông Trịnh Công Sơn không bao giờ nói rõ những gì mình nghĩ. Ông không nói “một bọn lai căng, một lũ bội tình” là ám chỉ ai. Thái độ của Trịnh Công Sơn về cuộc chiến, chính xác mà nói là một thái độ của “người già, em bé”, một cậu ấm lớn lên trong đô thị miền Nam không bao giờ trực tiếp cầm lấy cây súng, chỉ có ngồi “chờ nhìn quê hương sáng chói”, kêu đòi “hãy sống dùm tôi hãy nói dùm tôi hãy thở dùm tôi. Thịt da này dành cho thù hận. Cho bạo cường cho tham vọng của một lũ điên”, nhưng khi chiến tranh vừa kết thúc thì lại hăng hái giựt mic hát Nối vòng tay lớn trên đài phát thanh, kêu bà con hãy chào đón chính quyền mới. Không có những người lính tham chiến, dù là miền Nam hay miền Bắc, thì làm sao có ngày đất nước thanh bình để mà “đi thăm hầm chông và mã tấu”? Thi thoảng chính Trịnh Công Sơn lại tự bật lại giọng phản chiến của mình, sau khi chỉ trích những kẻ “làm cách mạng” thì chính ông lại viết:

Việt Nam ơi, còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau?
Triệu chân anh, triệu chân em, hỡi ba miền vùng lên cách mạng.

Cách duy nhất để kết thúc cuộc chiến là phải “đi cho trót con đường máu xương”, điều mà một người lập lờ không xác quyết được.

Thế nên trong khi hầu hết những văn nghệ sĩ của chế độ cũ có thái độ chống cộng rõ ràng, như Thanh Tâm Tuyền hay Tô Thùy Yên, phải ngồi tù cải tạo sau 1975, thì Trịnh Công Sơn lại vẫn được tự do ngồi nhậu ở nhà “từ sáng tinh mơ cho đến chiều tà” với những người bạn mới từ miền Bắc vào nhờ vào thái độ lập lờ về chính trị của ông. Trong khi tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, cũng về nỗi đau chiến tranh, bị đem ra bêu rếu, trưng bày như là văn hóa phẩm đồi trụy miền Nam và phải đi tù, thì Trịnh Công Sơn, thời chiến đã không có lấy một ngày quân vụ, thời bình lại cũng chẳng phải chịu một ngày ngồi tù.

Chính Võ Văn Kiệt đã giữ lại Trịnh Công Sơn, như một phần của chính sách chiêu hồi của người cộng sản sau năm 1975, để rồi Trịnh Công Sơn sau đó còn được mời tham dự Duyên dáng Việt Nam, những bài hát từng bị cấm được cấp phép cho hát trở lại, và mười mấy năm qua năm nào đến gần ngày 1 tháng 4 cũng có những đêm nhạc tưởng niệm.

Chấp nhận diễn ngôn kháng chiến chống Mỹ là nội chiến, với người cổ xúy là Trịnh Công Sơn, người cộng sản đã không kèn không trống mà âm thầm trở ngược lại bàn tay viết sử, chấp nhận lộn ngược lại cái ý nghĩa mà mình đã tin vào: Chiến tranh chống Mỹ biến thành nội chiến Việt Nam (ý này được lặp lại rất nhiều trong các video phỏng vấn của bà Khánh Ly).

Còn một đặc điểm nữa khiến nhạc của Trịnh Công Sơn, dù là nhạc về chiến tranh, cũng rất hợp với thời bình: Đó là một thứ âm nhạc của người ngoài cuộc. Mình có đọc một lời nhận định của Mr. Tin Văn Nguyễn Quốc Trụ mà mình cảm thấy rất đúng: 

Cái không khí phản chiến của nhạc Trịnh Công Sơn mang tính gián tiếp. Muốn tìm tính trực tiếp của nó, phải lần tới những bản nhạc vàng, nhạc sến.

Điều này giải thích, sau 1975, ở trong trại cải tạo, nhạc được hát âm thầm giữa những người tù, là những “khi tôi về, mẹ già run run đón…”

Và một Trịnh Công Sơn chưa từng trải qua một ngày “quân vụ”, có đau nỗi đau nỗi nhớ, như vậy không?

Trịnh Công Sơn chưa bao giờ thực sự trải qua chiến tranh Việt Nam với tư cách người trong cuộc, và như vậy thì rất hợp với tâm ý của người thời bình nghe nhạc. Vì chiến tranh với người thời bình là một chiến tranh qua bảo tàng, qua sách sử. Một thứ representation làm nổi rõ lên những thịt xương máu đỏ. Đó là một thứ hiện thực mà nhìn vào người ta không thấy gì khác hơn em bé Napal. Đó là một dạng khắc họa của trích xuất những ấn tượng thị giác. Nhưng đúng ra sẽ là những cliché, và vì thế nó thiếu trực diện.

Những gì còn lại của Trịnh Công Sơn sẽ rất tương tự như câu chuyện Hàn Mặc Tử. Người ta quan tâm là vì những chuyện tình vụn vặt, được nói đến bằng những ngôn từ khó hiểu. Nó trở thành đề tài cho những bài viết trên Facebook và cả kịch bản phim điện ảnh. Những thứ tủn mủn đó an toàn, êm ái và không đau đớn, rất hợp cho một thứ dịch vụ của thời bây giờ. Còn những bi kịch thật sự của con người và xứ sở này, với người thời nay, dường như là quá lớn để chịu đựng.

Việt Nam còn có một câu chuyện khác, câu chuyện của những vùi lấp, mà tại sao lại vùi lấp? có thể vì người Việt Nam hay cười xớn xở nên lại có nhu cầu về bi kịch rất lớn, nhưng lại chỉ chấp nhận và coi trọng được những bi kịch vừa phải, như bi kịch cuộc đời Hoài Thanh hay Vũ Trọng Phụng, trong khi những bi kịch kiểu Khái Hưng, Nhất Linh, Phạm Quỳnh hay Nhượng Tống thì lại quá mức chịu đựng.

Mà cái chính, những câu chuyện rất khác ấy mới đủ sức tạo nên một lịch sử khác: lịch sử của các giá trị, chứ không phải thứ lịch sử dở hơi của các tiểu sử khủng bố hoặc khiến tâm hồn hậu thế phải nhỏ lệ.

(Nhị Linh, Những câu chuyện rất là khác, 2014)