cai-chet-cua-tam-ich

Cái chết của Tam Ích

Bài viết của Viên Linh, đăng trên Khởi Hành số 139, Sài Gòn, 13.1.1972. Viết bổ sung 2006.


Tam Ích tên thật là Lê Nguyên Tiệp, sinh năm 1915 (có nơi ghi là 1917) quê xã Ngọc Đường, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, là con trai của cụ Tú Lê Nguyên Long, ông đã rời gia đình quê quán vào Nam từ năm 1935 tham gia nhóm Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu. (*) Hồi thập niên ’40, đầu ’50 thành lập nhóm Chân Trời Mới cùng các bạn Thiên Giang, Thê Húc, ước vọng hoạt động cải cách xã hội, nhân sinh, tất cả những gì ông ôm ấp chỉ còn lại trong sách vở.


Nhà văn, nhà phê bình, giáo sư Tam Ích, hồi 14 giờ chiều ngày 5 tháng 1, 1972, đã treo cổ tự tử tại tư thất số 563/74 đường Phan Đình Phùng, Sài gòn, để lại bốn bức thư tuyệt mạng gửi cho nhà chức trách, thân nhân và ông Ngô Đình Căn, Hội Subub, cùng hàng ngàn bộ sách quý.

Được biết, lợi dụng lúc toàn gia đình đi vắng, ông Tam Ích đã ra sân thượng, dùng nhiều quyền tự điển và các sách bìa cứng xếp chồng lên nhau, chui đầu vào chiếc thòng lọng đã buộc sẵn từ một sà ngang, rồi đạp đố chồng sách dưới chân.

Thuở thiếu niên ông là một học sinh rất giỏi ở trường Vinh cùng thời với ông Phạm Biểu Tâm ở trường Y khoa sau này. Ông cũng là một nhà văn nổi tiếng cánh tả, đã cùng với hai ông Thiên Giang và Thê Húc thành lập Tủ sách Chân Trời Mới, xuất bản loại sách nghiên cứu phê bình Văn Học Chính Trị có khuynh hướng Xã hội. Ông cộng tác với hầu hết các tạp chí văn học uy tín tại Sài gòn, có thể kể Giữ thơm quê mẹ do Nhất Hạnh chủ trương (1965), Tư tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh do Tuệ Sỹ chủ bút (1966-), Văn do Trần Phong Giao điều hành, Khởi hành, Diễn đàn, Thời tập của Viên Linh. Tác phẩm đã xuất bản của ông có thể kể:

  • Nghệ thuật và Nhân sinh, Chân Trời Mới, Sài Gòn, Nam Việt [*đề trên sách], 1949; cùng viết với Thiên Giang, Thê Húc.
  • Dialogue, Pháp ngữ, Lá Bối xuất bản, 1965.

Nhiều người viết, trong đó Nhất Hạnh viết tiếng Anh, và Tam Ích viết tiếng Pháp. Bài của Tam Ích nhan đề: Lettre à André Malraux.

  • Trẻ Guernica, Lá Bối.

Nguyên tác của Hermann Kesten, Blanche Gidon dịch ra Pháp ngữ, Tam Ích “diễn” ra Việt ngữ. Chữ diễn là do Tam Ích muốn dùng như thế, hơn là dịch.

  • Sartre và Heidegger trên thảm xanh, 1968.
  • Ý Văn, I, Lá Bối, 1967. (lưu trên mạng Talawas)
  • Ý Văn, II. và Hồ Sơ Văn Hoá. (Tác phẩm chưa xuất bản).

(Tác phẩm đắc ý cuối cùng của ông, tập nghiên cứu về hiện sinh và các bài đã đăng trên các tạp chí văn học.)

Khoảng ba bốn năm gần đây, vì tình trạng sức khỏe, ông đã tạm nghỉ việc huấn luyện sinh ngữ và dạy triết tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, Đà Lạt, Louis Pasteur v.v… Ông được bốn người con gồm ba trai và một gái, tất cả đều đã trưởng thành. Ông thọ 58 tuổi.

Nhóm Chân Trời Mới đã tung hoành một thời gian trong làng báo và ngành xuất bản mà những bài tham luận của Tam Ích được đón đọc một cách nồng nhiệt, uy thế của Tam Ích lên cao thì Mật Thám Pháp bắt ông tra tấn đánh đập tàn nhẫn hàng tháng trời nhưng ông không khai ai hết. Cuối cùng Tam Ích bị Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đưa ra Đà Nẵng an trí. Tại đây ông làm Tự vị Pháp Việt với Đào Văn Tập và đi dạy Pháp Văn.

Khi trở về Sài gòn, Tam Ích không hoạt động gì nữa. Năm 1954 đồng bào miền Bắc di cư vào Nam trong đó có đồng bào Công Giáo Ba Làng tức là các làng Sùng Mãn, Ngoại Hải, Như Xuân và các làng không Công Giáo như Du Xuyên, Biên Sơn, Ngọc Đường, đã báo tin cho Tam Ích biết cụ Tú Ngọc Đường thân phụ của ông đã bị chính người con trai, cũng là em ruột của Tam Ích, một cán bộ đệ tam, đưa ra tố khổ. Cụ Tú Ngọc Đường phải tự vận chết, còn cụ bà thì bị đuổi ra khỏi nhà. Hẳn là từ đó những sách vở mà ông cho là tiến bộ của thời đại, chủ thuyết mà ông và bằng hữu thời trẻ lập nhóm để nghiên cứu, nhà xuất bản Chân Trời Mới in những nghiên cứu sưu tầm và những hệ luận từ đó mà có, đáng để ông giẫm chân lên, bước vào cõi chết.

Tôi không có mặt tại hiện trường, chỉ hỏi quanh những bạn bè từng tới lui nhà Tam Ích, như Hoàng Trúc Ly, Trần Tuấn Kiệt, rằng có ai có mặt ở đó ngay tức khắc không, và chồng sách mà ông giẫm chân lên là những cuốn nào, ngoài “mấy cuốn từ điển” như người ta nói. Không ai biết gì hơn.

Theo một thư mục nọ, thì bảy phần mười sách của Chân Trời Mới in ra, mà Tam Ích là linh hồn, là sách nghiên cứu, khảo luận. Hai phần mười là sách dịch, còn lại mới là truyện. Như thế, sự đóng góp của ông nhiều lắm.

Tôi tin dưới chân Tam Ích, cách một khoảng không, có những cuốn như Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp, Giữa Hai cuộc Cách Mạng, Văn chương và Xã hội, Cuộc cách mạng Việt Nam thành công chăng?… Toàn sách do Chân Trời Mới in khoảng 1947, 48, 49.

Cái chết của nhà văn Tam Ích khiến giới cầm bút Miền Nam buồn bã. Và ngậm ngùi. Có lẽ ngậm ngùi nhiều hơn. Nguyên do thúc đẩy tới sự việc hiện chưa ai được biết rõ, và trong lá thư gửi cho nhà chức trách, kẻ tuyệt mệnh “yêu cầu đừng điều tra về cái chết của ông, bởi ông tìm lấy” như Dương Trữ La viết trong tin Thời sự Văn nghệ Khởi Hành, nhưng nhìn qua thì ngoài những phiền bực, những hệ lụy của đời sống thường tình phải có trong một ‘thời đại pháo xiết,’ hẳn còn những nguyên do có thể suy đoán – một cách xa gần – thường khiến những người trí thức tự kết liễu đời mình. Những tuyệt vọng và những phi lý người khác không thể nhìn thấy như người trong cuộc.

Giẫm chân lên một chồng sách cao, hất đổ chồng sách xuống, ông bước cái bước cuối cùng trên dương thế, trên chữ nghĩa, trên chủ thuyết. Buông hai chân trong không, và hai tay trong không, ông chết đứng, chết lửng lơ. Cái chết không thoải mái, cái chết rất khổ cực, cái chết khó thở. Năm mươi tám tuổi là còn trẻ lắm. Còn sống lắm. Nhưng hẳn là người quá cố đã thấy đời sống không còn ý nghĩa gì nữa.

Lửa giường, lạ thay lần này không ấm nữa. Ngọn đèn dầu lạc cũng không còn để làm gì nữa. Và tiên dược vốn gây nên những thiên đường ảo giác lần này vô dụng, tuy rằng chưa chắc ông đã cần những ảo giác do nó đem lại. Nó vốn là thuốc quên, lần này thật là hiếm hoi, không còn công hiệu chút nào. Người quá cố nhất định còn sáng suốt đến giây phút cuối cùng. Nhưng đã phải chọn cái chết. Điều đó thật là buồn rầu. Càng buồn rầu hơn khi những năm sau này ông đã xa cái Chân Trời Cũ kia, và hô hào cho một nền văn chương dân tộc, là “văn chương Miền Nam vạm vỡ,” như ông viết trong bài “Văn chương tân Duy nhiên ở Việt Nam” đăng trên Khởi Hành.

Nhà văn mới quá cố là người tôi có dịp liên lạc nhiều trong mấy năm sau này, từ khi ông viết cho tờ Tuần báo Nghệ Thuật – tôi làm thư ký toà soạn, 1966 – viết cho Khởi Hành – và viết thường xuyên “mỗi tuần chỉ một trang” cho tờ tuần báo Diễn Đàn từ khi tôi làm chủ bút tờ tuần báo này.

Ông là người dễ dãi, nhiều tin tưởng, vui vẻ nhưng có đôi chút mặc cảm với lớp trẻ tuổi, tôi nhận thấy như thế, nhưng hy vọng nhận lầm. Tôi không rõ đây là mặc cảm gì, nhưng có một cái gì đó như là ngập ngừng; hay tính ông vốn thận trọng, e dè chăng? Một cách nào đó tôi thấy Tam Ích rất đắn đo khi nói chuyện, giống như cách viết của ông – ông hay dùng những gạch ngang trong câu văn – một cách như là dừng lại để nhấn mạnh, dừng lại để nói thêm – trước khi để câu văn nối mạch.

Ký giả Lô Răng cũng nhận ra điều mô tả ở trên, nhưng viết một cách khác:

“Tam Ích và Hà Thượng Nhân là chỗ quen biết lâu năm. Một bữa Tam Ích có đến toà soạn [Tiền Tuyến] tìm họ Hà, không gặp. Trong lúc ngồi tiếp ông Tam Ích, tôi thấy ông nói năng rất kiểu cách, thái độ nhã nhặn. Tôi nhớ ông có để lại một cái danh thiếp trên đó ông viết cho Hà Thượng Nhân một đôi câu tiếng Pháp rất văn hoa.

Thái độ của ông bữa ấy làm tôi suy nghĩ. Ông là một nhà báo, nhà văn “tiền bối” nổi tiếng đã lâu rồi. Ngay từ hồi mới hồi cư về thành (1950) tôi đã thấy nhiều bài văn, bài báo của ông xuất hiện ở trong Nam, cùng một lứa với Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, v.v… Tuổi của ông cũng đã lớn, trên 60. Tại sao đối với một kẻ hậu sinh như tôi mà ông lại khiêm cung quá vậy?” (**)

Trong cái nhìn của người viết bài này, cái đáng quí nhất ở ông là nhận mình là nhà văn lớp trước, đã thất bại, ông tạo cho một số người đi sau cái hào quang rực rỡ về việc cầm bút; trong khi qua tấm gương cụ thể nhất là ông, nghề cầm bút không rực rỡ như thế. Vì thời thế, ông lạc lõng.

Cũng nhờ có cuộc đảo chính 1963, không khí chính trị bớt ngột ngạt, và môi trường văn hoá mở rộng hơn, ảnh hưởng ky-tô-giáo xẹp đi dần, báo chí có tinh thần Đông Phương, khuynh hướng dân tộc, trở về nguồn, và Thiền học nhẹ nhàng như một cơn gió mát, một lớp sương mai làm chân trời xanh hơn, mơ màng hơn, đẹp huyền diệu hơn. Nếu không có cuộc đảo chính đó, chưa có các tạp chí như Giữ Thơm Quê Mẹ, Tư Tưởng, Nghệ Thuật, và chưa có những Đại Học như Vạn Hạnh, Hoà Hảo,… và những trí thức như Tam Ích, Thạch Trung Giả, Hồ Hữu Tường… chưa thể xuất hiện trở lại.

Một điều khác là Tam Ích làm giảm đi ảnh hưởng các nhà văn nhà thơ quốc tế bên các nhà văn nhà thơ Việt Nam; nhấn mạnh nhiều lần rằng chúng ta dư sức viết hay như họ, không lý gì để nghĩ rằng Tây là nhất, Mỹ là nhất. Ta cũng vẫn nhất như thường. Điều này rất quan trọng khi mà trước đó không lâu, và kéo dài trong nhiều năm, mấy ông du học Tây, ở Bỉ về nước đem theo thơ văn những Paris, những tóc vàng, những nhân vật chêm tiếng Pháp linh tinh tạo cho độc giả trẻ cái lại căng trí thức và một khi nói đến Văn đến Triết là nói đến Prévert, đến Sagan, đến Sartre, … Những người như Tam Ích, tiếng Pháp không thua mấy ông Tây con kia, đề cao văn chương dân tộc, ca ngợi Việt Nam, đã góp công rất nhiều để Văn học Miền Nam thời kỳ thứ hai, – từ 1964 tới 1975 – phong phú hẳn so với thời kỳ 1954-1964.

Trên tờ Nghệ Thuật trước đây cũng như ngay trên mặt báo Khởi Hành này, Tam Ích có nói tới vài ba cây bút trẻ là những người có những “truyện ngắn hay nhất trong thế kỷ này” mà ông đọc được. Nói như thế chắc là không đúng hoàn toàn. Nhưng có nên hiểu một cách khác chăng; là ông muốn nói Tây Mỹ gì nó cũng thế thôi (Bùi Giáng diễn tả ý nghĩ tương tự bằng một danh từ khác: bá láp). Nó cũng nhiều cái vớ vẩn bá láp không kém gì mình, đừng tưởng rằng chỉ có ở Tây Bán Cầu là nhất thế giới mà lầm. Ông bảo nghĩ như thế là “u mê dại dột” (trong bài “Mười Năm Truyện Ngắn” – Nghệ Thuật Xuân Bính Ngọ 1966). Ông bảo sở dĩ ta chưa có dịp để năm châu bốn biển trầm trồ khen ngợi là vì đất nước lâm vào những cảnh “lịch sử chó má” nên chưa ai biết đến văn chương mình mà thôi. Nhiều tin tưởng như thế, ông hẳn là người cởi mở.

Là người mời ông viết bài cho ba tờ tuần báo khác nhau từ 1966 tới nay, tôi chưa từng thấy ông chê bai một ai trong bài viết, dù rằng hầu như trong bài viết nào ông cũng nhắc đến tên năm bảy người. Ông nhắc nhở nhiều lắm, mỗi khi có dịp. Ông không phải là một học giả chỉ còn chú ý đến vấn đề, vấn đề không thôi, mà luôn luôn chú ý đến sự kiện và nhân vật. Đọc ông sẽ biết thêm những liên hệ của ông đối với những người được nhắc đến. Sẽ thấy từ ông A đến ông Z, và từ một tác giả lão thành tới một người chưa tên tuổi. Đó cũng là một điều đáng qúi: Qua điều này, Tam Ích chứng tỏ ông luôn luôn theo dõi sinh hoạt văn học nghệ thuật, những chuyện đang xảy ra, những người vừa mới tới: ông có tuổi, tóc đã bạc, nhưng chưa ra ngoài lề, không đứng bên lề sinh hoạt, mà ở trong, có mặt thường trực, bên cạnh các nhà văn nhà thơ trẻ. Chắc chắn ông không bao giờ muốn để mất một khoảng cách nào.

Tam Ích, đôi khi ông viết XXX; bút hiệu này của ông không biết có nghĩa gì? Ích cho xã hội, cho văn chương, cho vợ con? Nhưng ông đã từ bỏ một số tư tưởng chính trị đã theo đuổi từ lâu – trong khi Tết Mậu Thân, người bạn sát cánh với ông thời Chân Trời Mới là Thiên Giang còn bỏ ra ngoài – và ông từ một năm nay không còn hoạt động đều nữa. Riêng tôi sẽ chẳng còn bao giờ như có lần, nhận được thủ bút của ông với một chữ ký tắt: XXX.


(*) Ngay từ buổi đầu, vào những năm ’30, [chủ nghĩa mác-xít du nhập vào Việt Nam] đã có sự phân chia làm hai trường phái, nói giản dị hơn, hai khuynh hướng: stalien (theo Staline) và trốtkýt, (theo Trotsky), Đệ Tam và Đệ Tứ. Ở Việt Nam Đệ Tam do Nguyễn Ái Quốc, sau này là HCM, đứng đầu; Đệ Tứ do Tạ Thu Thâu đại diện.

Cả Staline và Trotsky đều là nhân viên Bộ Chính trị đảng CS Nga, thân cận của lãnh tụ Lenine. Nhưng sau khi Lenine chết, 1924, cuộc Cách mạng tháng mười 1917 ở Nga bị Staline phản bội. Staline đã dựng nên những vụ án gọi là “gián điệp,” “theo phát xít Đức Nhật,” “tay sai đế quốc tư bản” để loại trừ những người đối nghịch. Trong số 1956 đại biểu của Đại Hội XVII, Staline bắt giam và thủ tiêu 1108 người về các tội trên. Năm 1939 trong các bức thư từ Trung Quốc gửi về nước cho đảng CSVN, HCM tán thành các vụ án do Staline dựng nên và gọi phe Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu là “bọn chó săn của phát-xít Nhật và phát-xít quốc tế.” (Tóm ý của Hoàng Hoa Khôi trong bài “Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam”, Paris, 1991.) Chú thích này mới bổ sung, không có trong bài viết về Tam Ích năm 1972.

(**) Ký giả Lô Răng, Nhân cái chết của Tam Ích, Khởi Hành 139, 1.72. Bài thơ của Hoàng Trúc Ly khóc Tam Ích cũng trích từ số báo này.


Phụ lục 1: Cái chết của Tam Ích

“Đột nhiên, khi viết đến đây, tôi lại nhớ đến nhà văn Tam Ích vốn là một cây bút lừng lẫy trong những năm 1947-1951 trên tờ Việt Bút Tân Văn ở Sài gòn. Thuở đó, về nhật báo thì có hai tờ hàng đầu – một là Thần Chung của Nam Đình và hai là Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc. Còn tuần báo thì không tờ nào có thể sánh nổi với Việt Bút Tân Văn trong đó nòng cốt là Tam Ích.

Năm 1970, khi lão tiền bối Trần Văn Ân tục bản tờ Đời Mới – có nhờ tôi đứng tên chủ nhiệm – đó là vì tiên sinh đang phụ tá về Chính trị và Văn hóa cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nên không tiện chính thức chủ trương tờ báo. Lúc đó, nhà văn Tam Ích cũng vốn là chỗ thân tình với Trần Văn Ân, nên thường tới lui báo quán đặt tại đường Bùi Thị Xuân. Do vậy, tôi cũng được dịp trò chuyện với Tam Ích nhiều lần về rất nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội.

Cũng nhờ vậy, tôi được biết Tam Ích rất uyên thâm về triết học và văn chương – và qua những lần đó, tôi cũng được dịp học hỏi rất nhiều. Cũng trong những lần đó, đôi khi tôi bắt gặp những nét ưu phiền tiềm ẩn kín đáo trong ánh mắt của Tam Ích. Có lần ông ấy nhắc đến sự tự kết liễu cuộc đời của nhà văn Stephen Sweiss và nhà văn Ernest Hemingway – mỗi người đều tự bắn vào đầu mình mấy phát đạn.

Thế rồi chỉ ít lâu sau đó, tôi bàng hoàng và buồn bã khi hay tin nhà văn Tam Ích tự kết liễu đời mình bằng cách đứng lên trên một chồng cao, những quyển tự điển… cổ cho vào giây thòng lọng, rồi dùng chân đá đổ những quyển sách bên dưới…”

Trần Bình
(Nguyên chủ nhiệm Đời Mới, Sài gòn: bản thảo gửi Viên Linh, chưa đăng)


Phụ lục 2: Khóc Tam Ích

“Cách đây mấy tháng, Tam Ích gặp tôi và căn dặn: Nếu tao chết, mày làm thơ khóc tao. Tôi tưởng anh khôi hài, hay ít ra, đó là sự thật có tính cách khôi hài. Khốn khổ cho tôi, nay sự thật đã đến, cớ sao tôi phải khóc? Tôi hỏi Tam Ích, nhưng Tam Ích nào có nói gì đâu? Tôi hỏi Trời, nhưng Trời nào có nói gì đâu?”

Nỗi buồn siết cổ ngàn thu,
Cho người nghẹn họng giã từ khổ đau
Tấm thân huyễn vọng về đâu
Trái tim đã nát, vết sầu chưa tan.

Nỗi buồn buộc chặt vành tang
Vòng tay bạch lạp
áo quan một người.

Hoàng Trúc Ly
(Khởi Hành số 139 – 13.1.1972)

phan-khoi-tan-da-va-chung-toi-1971-tam-ich-viet

Phan Khôi, Tản Đà và chúng tôi (1971), Tam Ích viết

Bài viết của Tam Ích đăng trên Văn học,
số 122, xuất bản năm 1971


Nếu có phải quen ông Tản Đà thì các anh Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Trương Tửu, Lưu Trọng Lư… quen nhà thi hào ấy hơn tôi. Nhưng nếu nói về kỷ niệm, thì đối với cụ Phan Khôi có đôi điều hơi khác, hình như vậy! Nói khác đi, có một việc để lại trong lòng tôi một kỷ niệm chua chát để hận trong lòng tôi cho đến ngày tôi sẽ gặp cụ Phan Khôi dưới chín suối – còn cái chuyện có ngậm cười hay không ngậm cười dưới suối vàng, lại là một chuyện khác…

Nhưng trước khi kỷ niệm, tôi xin thưa đôi điều, để trả một món nợ tinh thần mình trả cho chính mình.

a/ Người ta thường nói “Quảng nam hay cãi, Quảng ngãi hay co, Bình Định… và khi nói thế là người nói có ý nói người Quảng Nam hay cãi đây là cãi chày cãi cối. Đó là một điều sai lầm khủng khiếp: đất có Ngũ-Hành-Sơn là đất phát sinh ra người thông minh – chả thế mà có Ngũ Phụng Tề Phi! – họ cãi nghĩa là họ không tuyệt đối chấp nhận lời nói người khác; nói một cách khác óc phê-phán họ phát triển đến cực độ. Ở đời không có ai… u mê bằng những người chấp nhận lời thiên hạ, kể cả thánh hiền mà coi nó như giáo-điều: cái bịnh giáo-điều làm hại sự tiến hóa của tư-tưởng loài người không kể sao cho hết! Phật còn phải nói “ngón tay chỉ trăng không phải là trăng” kia mà!

b/ Cái câu “si jeunesse savait si vieillesse pouvait” chẳng phải là câu bâng quơ. Người thanh niên bao giờ cũng hiếu thắng và khi nói ra cứ in trí là mình đúng. Khi về lúc nhiều tuổi mới thấy mình đã… lố. Đã lố là có… hại – đã có hại là gieo điều thất đức! Đó là trường hợp của kẻ viết bài hồi ký này. Tôi nhớ rõ ràng, một hôm tại giảng đường đại học Vạn-Hạnh, có một sinh viên đại-đức hỏi tôi rằng tôi quan niệm sự nghiệp-báo ra sao. Tôi trả lời không cần nghĩ: “thưa anh, con người không bao giờ linh hơn vạn vật, con người chỉ thông minh hơn vạn vật mà thôi, linh khác, thông minh khác; đã mang cái cơ thể bằng xương thịt và chứa tâm can tỳ phế lục phủ ngũ tạng bèo nhèo bầy nhầy (có lẽ là chữ Visqueux trong hiện sinh luận đó!) thì ai cũng làm tội lỗi, điều mà thiên chúa giáo gọi là péché: lớn nhất là đút đàn bà trẻ con vào “Gour crémantoire” và tàn sát người không gớm tay, nhỏ nhất là làm chết một con ruồi; và ở vào “cỡ” giữa hai cái lớn cái nhỏ ấy là nói một câu làm thiên hạ đau xót… Thưa anh, có kẻ ra pháp đình đền tội, hết tội rồi thì ra tù; chứ kẻ khác làm những thứ tội không có ghi trong sách luật pháp thì là vô tội vạ à? Thưa các anh chị, có một cái vạn hô kính, một cái vạn vạn vạn hoa kính có hằng hà sa số sự trừng phạt khác, cái bản chất khác, cái cỡ khác, cái trình độ khác, cái bề dài, bề ngang, khác cái kích thước phóng vào con người chứ! Chứ! Tôi thì tôi… nghĩ một cách triết lý quê mùa vậy đó, tôi quan niệm đó là một hình thức của nghiệp báo”

Tôi nhớ rõ hôm đó, thầy trò chúng tôi ở giảng đường đại học trầm ngâm đăm đăm, ai cũng có một ý tưởng trong đầu – băn khoăn, khó hiểu, ừ nhỉ lạ quá nhỉ, ừ nhỉ kể cũng có lý, ừ mà có lý làm sao, ừ mà phải tu a tăng kỳ kiếp mới hết được nghiệp đi chăng! Đúng như nhà Phật nói:

Xin thưa lại: người trẻ tuổi làm nói trước là làm là nói trước đi, mà kể cũng khó nghĩ đấy. “Lịch sử làm bằng thanh niên tính và lầm lẫn” (L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!). Ngày nay nhiều tuổi, tôi đã hối hận hằng hà sa số điều – trong đó có điều đối với người đáng kính Phan Khôi mà ông Tản Đà đòi chém – và kêu là cái nạn Phan Khôi – vào giữa tiền bán thế kỷ hai mươi.

c/ Chúng ta thường đòi chính quyền cho tự do ngôn luận – nghĩa là đòi chính quyền chấp nhận ý-tưởng và lời ăn tiếng nói đối lập của quần chúng. Tại sao giữa người và người, giữa cá nhân với cá nhân, giữa đoàn thể với đoàn thể, lại không chấp nhận nhau một cách vui vẻ tự-do ngôn-luận. Cứ có ai nói ra một ý gì thì đã có mắng, có chửi, có công kích, có cho là sai, có cho là lầm… lầm thế nọ lầm thế kia. Đôi khi còn mạt sát nhau nặng lời! Ông Phan Khôi mới chạm tới Hán nho Tống nho thì Tản Đà đã đòi chém rồi – chỉ vì Tản Đà cho rằng Phan Khôi hỗn với tiên-hiền – kể cả Chu-Hy, Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo… không lẽ các ông Trình ông Chu toàn thiện toàn mỹ đến không có điều gì đáng trách đáng cho chúng ta ngày sau gọi là tháng! Thánh trong như ngọc, trắng như ngà, tâm can tỳ phế làm bằng pha-lê! Chu Trình đối với Tản Đà là hiền-nhân quân-tử; vậy chứ Tản-Đà đối với người ba trăm năm sau đây là thánh hiền đó à? Chỉ nghĩ thế, đã thấy ông Tản Đà và thấy chính con người chúng ta là… kỳ cục.

Thưa: Con người chẳng linh mà cũng chẳng thông minh: con người chỉ là một sinh vật phi-lý không biết rằng mình là cái gì, yếu tính mình ở đâu, suốt đời dối người và dối mình! – điều mà Jean Paul Sartre nói quanh quẩn mãi mà nói không có lối ra, nói không hết! Không hơn không kém!

Bây giờ rào đón rồi, tôi mới xin nói chuyện ông Phan Khôi và tôi: ông là người rất thẳng, rất trực, rất trung thành với ý tưởng của mình, không sợ dư luận – không sợ chết. Tôi quen cả cụ, mà lại thân cả với con cụ là anh Phan Thao, nghe nói sau này là một nhân vật quan trọng trong mặt trận Việt Minh, vì ngày xưa chúng tôi cùng dạy với nhau một trường.

Số là năm 1936, có ở toàn cõi Đông dương phong trào Đông dương đại hội tưng bừng rộn rịp. Có thể nói là trong lịch sử dân tộc Việt nam, đó là một chuyện hiếm có, hiếm đến có thể không xảy ra đôi lần, hiếm mà không túm lấy kịp thì không bao giờ trở lại! Nói khác đi, đó là một phong trào gần như là có một không hai trong lịch sử. Anh em ở Huế mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham dự: cụ từ chối. Trong cái Ủy ban lâm thời ở Trung Việt, có cụ Phan Khôi và ông Võ Đình Thụy lúc đó là dân biểu Trung Kỳ. Cái Ủy ban lâm thời có cả bạn Lạc Nhân Nguyễn quí Hương ở trỏng, chỉ còn chờ làm xong nhiệm vụ, sơ thảo đồ án, họp đại hội chính thức, giao lại cho Ủy ban chính thức, rồi từ chức để cho phong trào nẩy nở, trưởng thành, và nuôi cho nó lên vùn vụt cho dân tộc Việt nam nhờ!

Không ngờ: “thiên ký sinh Du hà sinh Lượng”, có anh Hải Triều, người đã cùng với Hải Thanh, Hải Vân, Hồ Xanh, v.v… tranh luận về duy tâm và duy vật với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư. Kẻ viện Plékanov, Boukharine, kẻ viện Gide, Valéry… – thực ra cái viện thiên hạ để củng cố ý kiến nầy chỉ có một tác dụng là tỏ cho thiên hạ biết rằng mình dở mà thôi: Việc gì lại cứ phải viện thánh hiền đông tây nói đôi điều mà chính mình hiểu được, niệm được – có phải chỉ có thánh mới có được cái mớ ý tưởng ấy đâu kia chứ hở trời!

Nói cho có lý, nói cho hợp lý, nói cho nghe được vào lỗ tai, nói cho thông minh thừa nhận, thế là được, cần gì cứ phải vác Boukharine, Gide ra để làm ra vẻ ta đây có đọc thiên kinh vạn quyển!

Hải Triều với Phan Khôi là mặt trăng và mặt trời! Tôi là người đại diện cho tỉnh Vinh (Nghệ an) cũng có mặt tại Huế – tôi vào phe Hải Triều cho đó là một điều hãnh diện! Mà nào 22 tuổi đầu, tôi đã biết “mạc-xít” là gì cho ra đầu ra đuôi đâu! Là mạc xít, là đệ tam, là tả phái… lúc đó là một cái mốt – một thứ thời thượng, người ta theo nó cũng như mặc áo gấm.

Chả biết giữa hội nghị, tranh luận ra sao, mà cả thính đường đả đảo cụ Phan Khôi và đòi đuổi cụ ra khỏi phòng. Tôi, Tam Ích, cũng đứng lên, dơ tay, đả đảo! Cụ thản nhiên cầm nón đứng lên đi ra giữa sự đả đảo ồn ào. Mà thực ra, thì Hải Triều là mạc-xít còn cụ Phan thì cụ không theo giáo điều nào hết. Nho giáo kia đã nặn cụ thành cụ mà cụ còn nói phải quấy nên chăng, huống là!

Chuyện Đông dương đại hội, chuyện Godart rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì chính quyền thực dân cấm họp nữa. Thế là hết: ai về nhà nấy. Tôi còn nhớ cụ Phan Bội Châu cho tôi hai đồng bạc, cụ Tú Kiên cho hai đồng, làm lộ phí trở về Vinh. Về đến Vinh, tôi viết bài công kích cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chối tham dự đại hội (Vì ý anh em muốn có sự có mặt cho có uy tín) và một bài công kích ông Phan Khôi đăng ở báo Việt-Nam ở Saigon. Mới có 22 tuổi đầu, nói hăng lắm: trình độ hỷ nộ ái ố đều cao cao!

Năm 1938, tôi (đã vào Saigon rồi) cùng dạy Pháp văn tại trường trung học Chấn Thanh với cụ Phan Khôi và con cụ là anh Phan Thao cùng với anh Phan Ngọc Châu hiện là giáo sư trường Văn Hiến cùng với anh Phan Khoang mà ngày nay làm giảng sư đại học văn khoa.

Cụ Phan Khôi hình như đã là người thiên cổ rồi!

Ngày nay tính sổ nhân sinh tôi có hai thứ tôi đã làm, một việc vào năm 1936 mà người ta gọi là snob – ít nhiều thôi. Cho đến năm 1946 tôi đã làm một việc cho khỏi thẹn với con dân đất nước: tù tội tra tấn rồi việc lôi kéo việc, việc này lôi kéo việc kia, cái sử-tính cá nhân của con người tôi dài dằng dặc, thỉnh thoảng tính sổ kế-toán – công ít, tôi chẳng biết là bao nhiêu, chỉ biết cái tội bất-bình với cụ Phan Khôi cũng là tội lớn. Ngày nay, đã có hai thứ tóc, sân khấu thuộc về những bạn thanh niên từ Pháp về: Nguyên-Sa, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Bùi Xuân Bào… học thức có dư sinh tố có thừa, đủ kích thước làm lịch sử, thay thế hệ cũ – đã cũ! Rien ne vaut une vie: đời người là một cái dốc cho người leo hộc máu mồm ra, toát mồ hôi hột ra đời người còn là những phút ân hận làm mất giấc. Une vie nevaut rien: ba vạn sau ngàn ngày, thưa cụ Phan Khôi, cụ nằm xuống cục đất phóng lên trên mồ xanh, nghìn thu vĩnh biệt. “Trăm năm dũ áo chốn tuần ai, còn gì mới là được!” thưa cụ Phan Khôi?

Thưa Cụ Phan câu đó là câu của ông Tản Đà trong bài “Cờ bạc” – cái ông ngày xưa định chém cụ đó!

André Mabraux nói cái câu tiếng Pháp ấy là nói cho cả hai ông đấy: cho Phan Khôi và cho Tản Đà!

Cho cả chúng ta, ai tai!
Một mớ Sisyphe! Sắc sắc không không, có gì mà bắng nhắng kìa!

Giáp tết Tân Hợi.
Tam Ích