schopenhauer-the-fourfold-root-of-the-principle-of-sufficient-reason

Schopenhauer, The fourfold root of the principle of sufficient reason

The principle of sufficient reason is simple as this: For any given fact or true proposition, there exists a reason behind, although some of those reasons we have not yet come to know, or may never know; or in other words: “Things exist for a reason”.

Once this principle is applied to a field of inquiry, it follows that that field could be understandable. If we apply it to the field of possible human experience, we assume that human life is not absurd, but rational. And if some proposition do not have any possible reasons (i.e., “God exists”) in its supports, then the proposition cannot be true.

On the constructive side, when in order to explain something, several conditions must obtain: (1) There must be a subject, or someone who is seeking an explanation; (2) There must be something that that person wants to explain; (3) In order for the explanation to be legitimate, it must necessary, not arbitrary or merely tentative.

And Schopenhauer argues there must be some presuppositions for this principle to be applicable: (1) the subject-object distinction, which when present, entails the appearance always of both a subject and an object in relation to each other, and (2) links between the components of the explanation that are necessary, for if the linkages are not necessary, then there is no true explanation. If there is no subject who seeks an explanation, then there can be no object of awareness to be explained. When there are subjects who are aware of objects, then these objects of awareness are “representations” (vorstellung), or mental images. Conversely, if there is an object, or representation, then there must be a subject in which that representation appears.

This is the “root” of the principle of sufficient reason which Schopenhauer wants to exhaust all kinds of necessary connection between subject and object backing the principle. However, he came to believe that the foundation had not yet been well defined, for the preceding history of philosophy always contained the uncritical assumption that “reason” is a single concept, equally applicable in all kinds of circumstances. Schopenhauer maintains, though, that the concept of “reason” is like the concept of “triangle”: if there is a triangle, it exclusively must be equilateral, isosceles, or scalene. Thus, there must be different “kinds” of reason.

Schopenhauer accordingly identifies four kinds of reason and four kinds of corresponding objects that can operate within explanation exclusively. We can be interested in:

(1) explaining the conditions of physical things, for which causal explanation is appropriate

(2) explaining relationships between concepts, for which logical explanation is appropriate

(3) explaining relationships between numbers, formulae, or geometrical figures, for which mathematical/geometrical explanation is appropriate

(4) explaining motivations, inner drives, or the presence of subjective states of mind, for which motive-referring, psychological explanation is appropriate.

Once we choose the kind of object to be explained, we must hold fast to the kind of explanation that is appropriate to that kind of object and resist introducing styles of reasoning that are appropriate to other kind of object. I.e., one would not genuinely explain why a person felt that he or she should pay a debt and acted accordingly to pay the debt, by referring to neurological firings in the person’s brain that correlated with the action. This example involves confusing causal explanation with psychological explanation.

With this foundation, Schopenhauer criticizes the illegitimacy in the works of many philosophers, especially in the acceptance of the ontological argument for God’s existence, which he regards as based on exactly the kind of confusion he is urging his readers to guard against. The ontological argument starts with mere conceptual definitions (viz., “God is a being than which no greater can be conceived”) and concludes dramatically by positing an existent being (viz., “God exists”). According to Schopenhauer, this confuses logical explanation with causal explanation.

Schopenhauer is emphatic about restricting the scope of the principle, and argues that it can be used to refer to the entire set of necessary connections for human experience that Kant describes. For Kant, these are space, time, and twelve pure concepts of the understanding. For Schopenhauer, there are space, time, and the single concept of understanding that he continues to recognize, namely, the concept of causality. In either inventory, these forms are ascribed to the human mind exclusively, and they define our capacity to know things scientifically. They are not features of the world as it is in itself, but are only features of our human way of knowing. Schopenhauer consequently refers to the principle of sufficient reason as one that generates for us the illusory world of space, time, and objects that interact with each other in a thorough going causal mechanism.

die-welt-als-wille-und-vorstellung-1

Die Welt als Wille und Vorstellung

Đọc Schopenhauer’s ‘The World as Will and Representation’:
A Reader’s Guide (2011) của by Robert L. Wicks

Schopenhauer (1788-1860) hoàn thành Die Welt als Wille und Vorstellung năm 30 tuổi, sau khi ông đã đọc Plato và Kant. Sự tiếp nhận Plato và Kant của Schopenhauer khiến nhiều người xếp ông vào nhóm Platonist hoặc Kantian, nhưng sự thực là Schopenhauer tách mình khỏi cả hai triết gia này.

Trong khi Plato thâu tóm mọi thứ vào ἡ τοῦ ἀγαθοῦ ἰδέα (tiếng Anh: Form of the Good), Kant đề xướng một sự xác quyết về đạo đức và cái thiện lương tối thượng, Schopenhauer thì cho rằng vũ trụ này là một khối hỗn độn vô thức, vô tri, vô luân, vô nghĩa, được vận hành bởi một lực mà ông gọi là der wille (tiếng Anh: Will), nó là một khao khát, hy vọng, mong muốn lấp đầy một sự thiếu, nhưng lại không biết là thiếu cái gì.

Sự bi quan của Schopenhauer thật khó hiểu, vì ông sinh ra trong một gia đình khá giả, với cha là một thương nhân giàu có và mẹ là một nhà văn tài năng. Mặc cho những ân sủng vật chất được nhận, Schopenhauer có khuynh hướng nhìn vào những khổ đau, tương tự như Tất-đạt-đa Cồ-đàm [phải chăng vì lòng trắc ẩn và đồng cảm ở ông quá lớn?]

Cha Schopenhauer muốn ông theo nghiệp ngoại thương, nhưng mẹ ông muốn ông theo con đường khoa bảng. Sau khi cha mất, ông nghe lời mẹ, vào đại học Göttingen học ngành thuốc năm 21 tuổi, rồi sau đó học triết. Chính tại đây ông đã đọc Plato và Kant, cũng như được học nhiều môn khoa học từ lý, hóa, thiên văn đến giải phẫu, sinh lý, tâm lý, dân tộc học, thực vật học và lịch sử.

Thầy dạy triết của Schopenhauer ở Göttingen là Gottlob Ernst Schulze (1761-1833). Chính Schulze đã hướng Schopenhauer vào việc đọc Plato và Kant, vì ông tin rằng đó là hai cột trụ của triết học Tây phương lúc bấy giờ. Schulze thuộc thế hệ những người chịu ảnh hưởng bởi Kant. Kritik der reinen Vernunft của Kant đã tạo ra một trục cho ba luồng phản ứng, một ủng hộ, một phản đối, và một tìm cách mở rộng sang những địa hạt khác. Schulze thuộc về phía những người phản đối. Phía ủng hộ có Karl Leonhard Reinhold (1757-1823). Còn những người mở rộng có thể kể đến Johann Gottlieb Fichte (1762-1814), Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775–1854), và Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770–1831). Schopenhauer cũng sớm gia nhập hàng ngũ thứ ba này, nhưng ông nhanh chóng bác bỏ sự lạc quan của Fichte, Schelling và Hegel.

Vào năm 1811, Schopenhauer đã tham dự các buổi thuyết giảng của Fichte, với một sự chuyên tâm đáng kể khi ông ghi chép tỉ mỉ từng lời của Fichte vào sổ tay. Fichte nhìn thế giới trong một quá trình tự nhận thức và tự hoàn thiện chính mình. Thế giới được vận hành bởi một quy luật hữu lý, dần tiến đến một thiên đường trên mặt đất.

Tuy nhiên, Schopenhauer rất nhanh chóng chối bỏ Fichte. Ông cho rằng con đường của Fichte, con đường dựa trên một thứ logic của đối kháng và hòa giải (hay như Fichte mô tả là “thesis”, “antithesis” và “synthesis”), con đường cả Schelling lẫn Hegel đều đi, thực ra là sai lầm. Không những thế, Fichte còn mang một thứ đức tin về một yếu tố siêu hình ưu việt tồn tại trong vạn vật, hay pantheism, và những người thuộc thế hệ Fichte đang dẫn dắt hành trình tự nhận thức về yếu tố siêu hình ấy và tạo ra một thiên đàng chính trị-xã hội trên mặt đất.

Schopenhauer thì ngược lại, trong Die Welt als Wille und Vorstellung, ông thể hiện một lập trường vô thần mà ông duy trì trong suốt cuộc đời. Thế nhưng nếu đọc lại di cảo của Schopenhauer của giai đoạn 1808-13, vẫn thấy có những dấu hiệu cho thấy Schopenhauer là một người hữu thần. Vậy câu hỏi là, bắt đầu từ khi nào ông trở thành một người vô thần?

Thời điểm tháng 5, 1813 là lúc Schopenhauer đang rời Berlin để tránh vó ngựa của Napoleon. Ông ghé thăm mẹ mình ở Weimar rồi tiếp tục lên đường vào tháng 6 đến một ngôi làng thuộc Rudolstadt để ở đó suốt 3 tháng liền viết luận văn tiến sĩ, nhan đề Ueber die vierfache Wurzel des Satzes vom zureichenden Grunde. Với luận văn này, Schopenhauer đi đến nhận định những câu hỏi như God có tồn tại hay không tồn tại nằm ngoài khả năng giải quyết của khoa học và triết học. Schopenhauer không bàn về God trong bản luận văn đầu tiên hoàn thành năm 1813, nhưng đến bản thứ hai được viết lại vào năm 1847, ông nói thêm rằng nếu God tồn tại thì sẽ rất mâu thuẫn. Như vậy chí ít là vào khoảng cuối năm 1813, Schopenhauer bắt đầu hình thành khuynh hướng vô thần.

Những ghi chép ở thư viện Weimar cho thấy Schopenhauer sau khi đã hoàn thành luận văn và trở về lại Weimar đã mượn ở thư viện thành phố này hai cuốn sách là Bhagavadgita vào tháng 12 năm 1813, và Upanishads vào tháng 3 năm 1814. Chính những tác phẩm triết học tôn giáo của Ấn Độ này đã gây ảnh hưởng sâu sắc tới Schopenhauer. Với những tác phẩm này, Schopenhauer được diện kiến một kiểu God hoàn toàn khác với cách nghĩ cũ của mình.

Các tác phẩm này là một sự đan xen giữa tư tưởng hữu thần và vô thần, nhưng chính những tư tưởng vô thần mới làm Schopenhauer chú ý. Đó là: (1) trần gian chỉ là một giấc mộng (Schopenhauer vốn cũng đã tiếp xúc với ý này khi đọc Plato, Kant, Shakespeare và Calderon), (2) có sự phân biệt giữa bản chất siêu hình, “bên trong” hoặc Atman, với bản chất hữu hình, “bên ngoài” hoặc Brahman, và (3) loại bỏ chấp niệm, như trong thực hành thiền định, sẽ mang đến sự giải thoát. Schopenhauer đã tiếp nhận những điều này như sau: mặc dù thế giới vật chất là phù du, và ngay cả có một thế giới “bên trong” thực hơn cả cái thế giới “bên ngoài”, nếu chúng ta cố gắng không bị quá ảnh hưởng bởi cả cái bên ngoài lẫn cái bên trong, chúng ta sẽ đạt được con đường của tự do và khai sáng.

Từ 1814 đến 1818, Schopenhauer đến sống ở Dresden trong bốn năm. Tại đây ông viết Die Welt als Wille und Vorstellung. Thực ra ông đã có đủ hết những ý then chốt vào cuối năm 1814, khi ông 26 tuổi, và trong 3 năm tiếp theo đó, ông chủ yếu phát triển và mài giũa những gì sẵn có. Chính triết của Kant, về ding an sich (tiếng Anh: thing-in-itself), đã ảnh hưởng đến Schopenhauer nhiều hơn là ἡ τοῦ ἀγαθοῦ ἰδέα của Plato, nhưng khác với Kant, Schopenhauer cho rằng dich an sich là khả tri chứ không phải bất khả tri, và ông gọi đó là wille.

Và khác với những quan điểm lạc quan thịnh hành, cho rằng thế giới về cơ bản là tốt đẹp và đang phát triển chậm chạp nhưng tốt hơn mỗi ngày, thậm chí ngay cả khi có chiến tranh, Schopenhauer cho rằng thế giới về cơ bản là một tình cảnh hỗn loạn, đầy tội lỗi, dối trá, rỗng tuếch, khủng hoảng, đau khổ và vô vọng. Ông dùng từ ύπουλος, từ Hy Lạp cổ, để diễn tả nó, tương tự như việc gỡ miếng gạc ra để lộ một vết thương thối rữa. Đó là thứ mà ông thấy khi ông nhìn bên dưới cái bề mặt đẹp đẽ thường trực của thế giới.

Trong Die Welt als Wille und Vorstellung, Schopenhauer có dẫn ra câu chuyện của Ramon Lull (1232-1315), người đã theo đuổi một cách bất chấp người đàn bà đã có chồng tên Ambrosia Eleonora de Castello de Genes, và cuối cùng cũng đạt được nguyện vọng, được ở riêng với người đàn bà ấy chờ đợi dục vọng được đáp lại. Nhưng khi người cô ta cởi đồ và để lộ bầu ngực bị hoại tử vì ung thư, Lull vỡ mộng. Ông ta sợ hãi và cảm thấy hối tiếc cho cuộc đời mình.

Với Schopenhauer, một trải nghiệm kiểu như vậy chính là một trải nghiệm khai thị, làm thay đổi nhận thức cuộc đời. Schopenhauer đã đưa ra nhiều ví dụ để chứng minh rằng những mục đích mà vì nó con người phấn đấu cả đời, khi đạt được không hề mang lại sự hài lòng như người ta tưởng tượng. Và sự vỡ mộng đó chính là tình trạng chung của con người. Và mọi trò chơi trần thế đều không có gì là đáng kể.

Những tác phẩm của Schopenhauer sau Die Welt als Wille und Vorstellung đều dựa trên cái nhìn của ông năm 1818 ấy. Tác phẩm tiếp theo của ông là Über den Willen in der Natur (1936), ở đó ông dùng những quan điểm khoa học đương thời để củng cố triết của ông trong thế giới tự nhiên, nhằm khẳng định wille tồn tại trong mọi thứ.

Sau đó, Schopenhauer tiếp tục mang cái nhìn của mình đặt vào ethics, và năm 1839, ông cho ra đời một essay về sự tự do của wille. Một năm sau, ông soạn một essay khác về những nền tảng của luân lý, mà ông xuất bản cùng với essay đầu vào năm tiếp theo với nhan đề Die beiden Grundprobleme der Ethik: Ueber die Freiheit des menschlichen Willens, Ueber das Fundament der Moral (1841).

Nhưng mặc dù vô thần, Schopenhauer chưa bao giờ đi ra khỏi lập trường cho rằng chúng ta không được làm gì phương hại đến người khác, và cũng không đi xa khỏi lòng trắc ẩn, vốn là cốt lõi của cảm giác về luân lý.

Kể từ khi Die Welt als Wille und Vorstellung ra đời, Schopenhauer đã nghĩ về quyển 2, và ông liên tục soạn nó suốt hai thập kỷ tiếp theo. Năm 1844, ông xuất bản quyển 2 đó, là một tập hợp những essay giải nghĩa và mở rộng nội dung của quyển 1. Nhiều trong số đó có thể đứng một cách độc lập, và cung cấp một lời giới thiệu phù hợp đến tư tưởng của Schopenhauer.

Bên cạnh bản mở rộng của luận văn năm 1813, được xuất bản năm 1847, công trình quan trọng cuối cùng của Schopenhauer là một tập hợp những essay gồm hai quyển, Parerga and Paralipomena (1851). Giống như quyển 2 của Die Welt als Wille und Vorstellung, những essay này làm phong phú hơn những ý tưởng ban đầu của Schopenhauer. Trong tác phẩm cuối cùng của mình, Schopenhauer viết một cách không quá trang trọng và dễ đọc với độc giả phổ thông. Ngày nay, những essay thường được đọc nhất của ông cũng là từ quyển năm 1851 này, chẳng hạn như những essay ông viết về phụ nữ hoặc việc tự sát.

Cả một đời Schopenhauer gắn liền với những biến động chính trị ở châu Âu, nhưng có thể nói rằng triết học của ông được viết để tồn tại vượt thời gian, và độc lập với bất kỳ một bối cảnh chính trị xã hội cụ thể nào. Cách Schopenhauer nói về Napoleon cũng cho thấy điểm này. Với Schopenhauer, Napoleon là một con người kiệt xuất trong việc nhận ra được mình muốn gì, ông ta cũng là một người tồi tệ vì đã gây ra không ít đau khổ cho nhân loại. Nhưng Schopenhauer không xem Napoleon là người đặc biệt. Schopenhauer chỉ thấy ông ta là một người bình thường và không hơn gì một điển hình của phần đông loài người.

Để nói về một cảm thức chung của triết Schopenhauer, có thể lấy một hình ảnh từ quyển 2 của Die Welt als Wille und Vorstellung. Ở đó, Schopenhauer liên hệ đến những tác phẩm của Franz Wilhelm Junghuhn (1809-1864), người mà khi ở Java từng đi ngang một vùng đầy xương của những con rùa lớn. Những con rùa này đều bị ăn sống bởi những con chó hoang khi chúng ngoi lên từ biển để vào đây đẻ trứng. Nghĩ về việc cảnh tượng máu me này đã lặp lại không biết bao nhiêu thế kỷ, và nghĩ về sự tồi nghiệp cho những con rùa, Schopenhauer tự hỏi chính mình điều đó có nghĩa lý gì chứ? Như thể những con rùa được sinh ra để bị lũ chó hoang giết thịt vậy. Điều này cũng giống quan sát của Voltaire, khi ông nói những con ruồi được sinh ra chỉ để bị giết bởi những con nhện.

Với Schopenhauer, không có nghĩa lý gì hết, không có một thiên đàng nào đang được xây dựng trên mặt đất hết, và không thể nào thanh minh hay cắt nghĩa nào cho những khổ đau đã tồn tại hàng thiên niên kỷ qua. Với Schopenhauer, trần thế về cơ bản vẫn vậy, luôn là một cơn ác mộng đầy bạo lực – và một người nên thức tỉnh khỏi chấp niệm để giải thoát chính mình. Khi đọc Die Welt als Wille und Vorstellung chi tiết, sẽ có thể hiểu được vì sao ông lại nghĩ như vậy.


Schopenhauer trình bày tác phẩm của mình như một nhất thể hữu cơ, thể hiện một suy nghĩ duy nhất, chứ không có dẫn dắt đầu cuối. Điểm này khác với những con đường tư tưởng trước đó: thường bắt đầu bằng việc dựng lên một nền tảng, rồi từ đó phát triển, đào sâu hoặc mở rộng ra.

Schopenhauer không ấn tượng với khía cạnh khoa học, hướng khách thể (object-oriented) của triết Kant, mà đặc biệt hứng thú với cách nghĩ của Kant về không gian và thời gian. Với Kant, không gian và thời gian không phải là những tồn tại độc lập với nhận thức con người, mà chỉ là những hình thức mà con người vận dụng để diễn giải những tri nhận của mình về thế giới. Do đó, thế giới như chúng ta thấy không phải là thế giới như nó thực là, mà chỉ là một vorstellung (tiếng Anh: representation) của thế giới thực là qua lăng kính chủ quan của chúng ta mà thôi. Chính đó là cơ sở để Schopenhauer tin rằng trần gian cũng chỉ là ảo mộng, giống như Kant nói, thế giới này chỉ là thế giới của hình thức thuần túy.

Muốn hiểu được cái nhìn của Kant và Schopenhauer, hãy nghĩ về một người bất kỳ mà chúng ta gặp. Từ ngoài vào, chúng ta có thể thấy được hình dáng của người đó, nghe được giọng nói của người đó, và thậm chí có thể nghiên cứu một cách khoa học từng tế bào một trên cơ thể người đó. Nhưng dù có nỗ lực cách mấy, chúng ta cũng không bao giờ hiểu được người đó thực sự nghĩ gì. Nhận thức của họ, cũng như của chúng ta, không phải là một khách thể để chúng ta có thể chạm nhìn ngửi nếm. Chúng ta không bao giờ có thể tiếp xúc được với “tinh thần” của người khác, và người khác cũng không bao giờ tiếp xúc được với “tinh thần” của chúng ta. Đó cũng là lý do mà Kant lẫn Schopenhauer nghĩ rằng quan sát khoa học không thể nào làm hé lộ được bản chất bên trong của sự vật. Và chính vì không thể, nên chúng ta chỉ có thể xử lý những dữ liệu của khách quan mà thôi.

Schopenhauer nhắc chúng ta nhớ rằng, theo Kant, mặc dù ý niệm về “object” hay “cause” có thể tạm dùng để gọi tên ding un sich, nhưng chúng không thực sự chính xác. Với ông, ding un sich không phải là “object” và cũng không gây ra bất cứ cái gì. Về sau, ông đề xướng một cụm từ thay thế là (tiếng Anh: objectification of the will).

1.

Ngay từ đầu quyển 1, Schopenhauer đã nói ngay “thế giới là vorstellung của tôi”, tức là khi nói về thế giới, là chúng ta đang nói về một thế giới được chúng ta tri giác bằng những giác quan chủ quan của mình, được tri nhận bằng những cấu trúc nhận thức chủ quan của mình. Không có một tồn tại khách thể khả tri, khả tư nghị nào độc lập với chúng ta. Nếu có những tồn tại khách thể bất khả tri, bất khả tư nghị, thì chúng sẽ không liên hệ gì đến chúng ta, và như vậy chúng ta cũng không cần phải quan tâm đến chúng. Thế giới, với Schopenhauer, là vorstellung và mọi vorstellung đều tiền giả định tồn tại một chủ thể của nó.

Theo Schopenhauer, thế giới như vorstellung khi vào tâm trí trở thành “perceptual/intuitive knowledge”, là một bể nghĩa, một mạng lưới mà từ đó chúng ta nhận diện ra những mẫu, những dạng, những hình thái và quy nạp chúng thành những quy luật, gọi tên chúng bằng những khái niệm trừu tượng, đó là “conceptual knowledge”.

Với Schopenhauer, “perceptual knowledge” có trước và quy định “conceptual knowledge”. Phần lớn quyển I đều nhằm để chứng minh điều này. Trái ngược với những cách nghĩ truyền thống, nhưng lại nhất quán với Kant, Schopenhauer cho rằng toán học và hình học không dựa trên “conceptual knowledge”, mà dựa trên “perceptual knowledge”, trực cảm về những cấu trúc của không gian và thời gian. Schopenhauer cho rằng phần conceptual của triết Kant, cụ thể là theory of understanding, chỉ toàn là những thứ rỗng tuếch và sao phỏng, chỉ có phần perceptual của Kant, tức the concept of causality, là đáng giá.

Schopenhauer cho rằng ethics của Kant, vốn cũng là một phần dựa trên conception, đã trình hiện sai (misrepresent) bản chất của nhận thức về ethics. Cả ethics của Stoicism cũng vậy, đó là một thứ ethics dựa trên lý luận, và cùng một giuộc với lý thuyết của Kant, đều không dẫn đến sự khai sáng. Schopenhauer chấp nhận nhiều tư tưởng của Stoicism, nhưng ông bác bỏ phương tiện mang tính duy lý mà Stoicism dùng để đạt được mục tiêu về đạo đức.

Cuối quyển 1, Schopenhauer cho rằng khoa học, tức cái nhìn từ ngoài vào, không thể mang lại tri thức siêu hình. Khoa học tồn tại dựa trên relationships of necessity, tức dựa trên những gì chúng ta có thể biết về vật, chứ không phải là đặc tính tự thân của vật. Vì khoa học không có cơ sở hứa hẹn cho siêu hình, Schopenhauer cho rằng chúng ta phải chọc thủng cái bề mặt khách quan mà thế giới như vorstellung đã tạc nên, để đến được với chân lý siêu hình và sự khai thị. Và do đó, cái nhìn của triết học nên là một cái tự nhìn vào bên trong chính mình, chứ không phải là cái nhìn ra bên ngoài xung quanh.

2.

Quyển 2 bắt đầu bằng việc khẳng định lại rằng toán học, hình học, những khái niệm trừu tượng được trích xuất từ kinh nghiệm, cùng với toàn bộ triết học dựa trên concept of causality, không thể cung cấp một cái nhìn vào bản chất bên trong của vạn vật. Những nguyên lý này gắn với bề mặt và không thể chọc thủng được bề mặt. Muốn có một sự khai thị siêu hình, cần phải tiếp cận vật bằng con đường khác.

Tìm một con đường để nắm bắt cái bên trong của vạn vật, Schopenhauer nhận ra có một thứ giữa vạn vật của thế giới có thể cho ông tiếp cận được với cái bên trong đó, đó chính là cơ thể của ông. Cảm nhận cái bên trong mình ở cấp độ nguyên sơ nhất, ông gọi nó là wille, một từ gắn với cảm thức về tính thô sơ, khởi thủy mà ông cảm thấy. Tin rằng mình nắm bắt được cái bên trong của một trong số những vorstellung [tức cái bên trong của bản thân] thông qua chính perception của mình, và sự nắm bắt này là then chốt với triết học của mình, Schopenhauer lập luận rằng toàn bộ những vorstellung khác cũng phải thuộc cùng một loại như vậy. Nếu không thì perception của ông sẽ chỉ toàn là absurdities.

Bàn về principle of sufficient reason, tức nguồn gốc của các forms of multiplicity và cũng là yếu tố quyết định đến bản chất bên ngoài của vạn vật, Schopenhauer cho rằng chính cái bên trong của toàn bộ perception mới là chính, và wille là một tồn tại phổ quát. Wille thể hiện nó như một phạm trù của những vorstellung. Nó không gây ra, mà nó chính là vorstellung, giống như đá lạnh và hơi nước thì đều là nước.

Wille thể hiện trong những timeless acts, hay còn gọi là Platonic Ideas, mà mỗi một idea đều có tính cách rõ ràng tương ứng của những cá nhân mà chúng ta trải nghiệm trong không gian và thời gian. Tháp của Platonic Ideas đi từ những bản chất của các thực thể vô cơ đến thực vật, động vật và con người, với những mối quan hệ hòa hợp và bất hòa giữa những Ideas. Sự sao phỏng của những Ideas, như là những con mèo, con chim, con nhện, con ruồi, những thiện và ác, phản ánh những hòa hợp và những bất hòa này, và trong trường hợp những Ideas bất hòa, những sao phỏng tranh đấu không ngừng bên trong thế giới không gian và thời gian. Những cá nhân đối kháng này không có ý nghĩa gì nếu đặt trong khung rộng lớn của vạn vật, bởi vì những hòa hợp lẫn bất hòa giữa những Ideas đều vận hành vẻ ngoài của thế giới. Thế giới trần gian này là một thể tranh đấu liên tục, lên, xuống, tái sinh và lặp lại trong một đấu trường ngập tràn bạo lực và đau khổ. Đấu trường này về cơ bản là vô nghĩa. Chẳng có nghĩa lý gì khi hỏi wille để làm gì, vì wille không có mục đích.

to be continued