thieu-son-bai-hoc-phan-khoi-1967

Thiếu Sơn, Bài học Phan Khôi (1967)

L.T.S: Đây là bài của nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết về cụ Phan Khôi và bài này đã đăng trên báo Thần Chung số 316 ngày 23-7-1967 tại Saigon. Chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo.

Tạp chí Văn học, số 122, năm 1971.


Ông Phan Khôi với bút hiệu Chương Dân và nhiều bút hiệu khác nữa có một địa vị đặc biệt trong làng báo và làng văn hồi tiền chiến.

Trong Thi tù tùng thoại cụ Huỳnh thúc Kháng đã phải hạ bút khen ông khi ông còn thanh niên cùng ở tù chung với các cụ tại đề lao Faifo. Hồi đó, vào năm 1908, các cụ bị tập trung ở khám Faifo để rồi sẽ bị phân tán đi các nơi khác. Hôm sau có một số người bị đày ra Côn đảo thì hôm trước các cụ tổ chức một bữa tiệc trong tù để cùng nhau xướng họa với đề tài kẻ ở, người đi. Cụ Huỳnh đã viết: “Trong khi các bạn tiễn, có mấy bài tứ tuyệt của ông Tú Phan Khôi là xuất sắc hơn cả.”

Xướng hoạ với những ông cử, ông nghè bằng chữ Hán mà được chính một ông nghè khen là xuất sắc hơn cả đủ thấy cái giá trị của Tú Khôi ngay từ ngày ông chưa có chỗ ngồi ở làng văn, làng báo.

Ông đã viết cho những tờ Đăng cổ tùng báo, Nam phong, Hữu thanh, Thực nghiệp dân báo, Lục tỉnh tân văn v.v… Ông đã làm thư ký cho ông Bạch thái Bưởi, dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành. Nhưng người ta chỉ bắt đầu biết tới ông khi ông viết cho Đông Pháp thời báo, Thần chung và nhất là Phụ nữ tân văn.

Ông Diệp văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác, nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi bật.

Ông chỉ nổi bật khi ông được mời viết cho Phụ nữ tân văn của ông bà Nguyễn đức Nhuận. Hồi đó, vào khoảng 1930, một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi.

Vậy mà Phụ nữ tân văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng bốn bài 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp cỡ Huyện, Phủ. Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo. Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ văn chương của Phan Khôi mới dám trả tới giá đó mà thôi. Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua Phụ nữ tân văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài gẫy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thân tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste).

Những cái gì người ta cho là phải, là đúng thì ông đưa ra những lý luận, trưng ra những bằng chứng để đi tới kết luận là trái là sai. Võ hậu là một con dâm phụ chuyên quyền, ông Phan dẫn chứng ở sách vở ra để chứng minh rằng bà ta là một người đàn bà vượt khuôn khổ, một bộ óc thông minh tuyệt vời, một phụ nữ phi thường.

Cố nhiên là nhiều khi ông ngụy biện nhưng ngụy biện một cách rất tài tình và ngay trong khi ngụy biện ông cũng dẫn chứng được phần nào những ưu điểm của một nhân vật mà thành kiến chỉ cho thấy khuyết điểm mà thôi.

Đạo Nho người ta cho là khuôn vàng, thước ngọc, là xương tủy của đạo lý dân tộc. Ông Phan Khôi, một nhà nho chánh tông lại viết cả loạt bài để đả phá đạo Nho cho là một đạo bảo thủ phản tiến hóa.

Thú vị nhất là khi ông đóng vai tuồng ngự sử trên văn đàn để bắt “phốt” (faute) những nhà văn có tên tuổi vào hạng tiền bối hay đàn anh. Cả tới cái tên người ta ông cũng không tha. Ông bắt lỗi cụ Nguyễn chánh Sắt sao lại viết Sắt, phải viết Sắc mới đúng theo chánh tả, một nhà nho không thể có tên Sắt (sắt thép) mà phải có tên Sắc (hương sắc, sắc không), vả lại theo chữ Nho thì đích thị là chữ Sắc. Ông bắt lỗi cụ Đặng thúc Liêng sao lại để dư một chữ g? Liên là hoa sen mới đúng. Còn Liêng là vô nghĩa.

Ông bút chiến toàn những “tay tổ”. Với ông Phạm Quỳnh, ông gia cho chữ học phiệt.

Với ông Trần Trọng Kim, ông phê bình gắt gao bộ Nho giáo với những kiến thức sâu rộng và những lý luận đanh thép của ông. Nhưng ông cũng có những sơ hở để đối phương đập lại ông. Ông mời ông Trần về với M. Logique.

Ông Trần nhắc chừng cho ông nhớ Logique thuộc về giống cái thì phải gọi là Cô chứ sao gọi là Me-sừ.

Những giai thoại về Phan Khôi nhiều lắm, nói không hết. Nhưng có điều nên biết là ông cố ý chơi ngông để được tiếng là ngông.

Ông muốn làm hề để chọc cười thiên hạ. Ông thật tình muốn phục vụ chân lý và lẽ phải, thấy bậy thì nói, thấy sai thì sửa.

Đã có lần ông sửa cả văn chương chữ Hán của những bậc đại nho. Ông nói: Không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu. Cũng như chữ Tây viết đúng mẹo luật mà chưa đúng theo lề lối của Tây thì Pas francais, chữ Hán cũng vậy, viết theo lề lối Việt Nam thì cũng Pas chinois.

Phải nhìn nhận rằng ông Phan Khôi là một người thông minh, học rộng, biết nhiều, chịu khó suy nghĩ, có óc nhận xét, tinh tế, cốt cách tánh tình, tác phong đều đàng hoàng nghiêm cẩn, nhưng cố tình vươn mình để tiến xa hơn những nhà nho khác mà ông cho là cố chấp, bảo thủ, lạc hậu. Ông tự học để đọc được sách Pháp. Ông dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành chính là để đọc thêm chữ Pháp.

Ông sở đắc khá nhiều về học thuật, tư tưởng của Pháp. Nhưng ông cũng có tật là được mới nới cũ. Cái học cũ là cái học căn bản của ông.

Nhờ cái học mới mà ông thấy được những nhược điểm và khuyết điểm của cái học cũ. Nhưng người như ông làm sao thoát ly khỏi cái học căn bản nó đã đi sâu vào máu huyết của ông, xây dựng nên con người của ông.

Do đó mà ông không thể đi xa được trên con đường tân học. Ông có cái hăng say của kẻ nhập môn nên chưa có cái chín chắn của người thuần thục.

Ông Phan Văn Hùm đã chê ông chỉ mới hiểu được cái luận lý hình thức (logique formelle) nên nhiều khi có phiến diện. Ông cũng Pas francais nhưng thật ra ta có cần gì Francais hay Pas francais.

Ta chỉ cần đi xa hơn cái học tư sản mà người ta tường lấy nó làm khí giới và đồ trang sức để phát triển những khả năng tiểu xảo của mình.

Có như thế ta mới đi tới cái học nhân bản hiểu mình, hiểu người, hiểu đời để tổng hợp thành cái vốn tinh thần cho ta thay những liên quan mật thiết với dân tộc, với nhân loại.

Có như thế ta mới từ bỏ được lối chơi cá nhân để hòa mình vào tập thể. Ông Phan Khôi mới có lối chơi cá nhân và chưa có lối chơi tập thể.

Như trên tôi đã nói nhờ căn bản nho học và những gì ông đã sở đắc về học thuật Tây phương, ông Phan Khôi đã có lối chơi cá nhân rất vững vàng và ngoạn mục, tạo cho ông một địa vị đặc biệt trong làng văn.

Ông không a dua theo thời thượng, chống công thức gắt gao, không để một thế lực nào chi phối nên nhất thiết những gì ông nói ra, viết ra đều do ông suy nghĩ theo đầu óc của ông. Mà đầu óc ông như ta đã biết là một thứ đầu óc thông minh, phong phú, chịu suy nghĩ, độc lập, bướng bỉnh nên nói khác với mọi người. Hồi đó dường như ông đã dịch chữ original là “cổ quái” nhưng có lẽ nên dịch là “độc đáo”.

Tôi muốn gọi ông là độc đáo chứ không nỡ cho ông là cổ quái. Đã có lần ông bút chiến với cụ Huỳnh thúc Kháng. Cụ Huỳnh nói tới tuổi tác của cụ, ông trả lời là đừng nêu vấn đề tuổi tác ra, cãi nhau là để làm sáng tỏ chân lý, ai đuối lý là thua, không cần biết người đó lớn hay nhỏ, trẻ hay già. Ở trên mặt báo thì ngáo ngổ như thế, nhưng kỳ thật trong thâm tâm ông vẫn kính phục cụ Huỳnh cũng như ông vẫn có cảm tình với tất cả những người sạch sẽ lương thiện có tư cách và tiết tháo. Còn những kẻ thiếu căn bản, thiếu giáo dục, đê hèn, bần tiện, ông khinh ra mặt và chẳng muốn làm quen.

Ông Bùi thế Mỹ đã nói đúng khi ông nói: Ông Phan “bất cận nhân tình” nhưng thực ra ông chỉ bất cận vơi những kẻ mà ông không muốn gần chứ khi ông thấy có điểm nào chơi được thì ông cũng chịu chơi.

Có điều là chính ông mới là con người khó chơi, vì ông thẳng thắn, phân minh, trực ngôn và không hay nhân nhượng.

Ông không bao giờ lợi dụng ai, nhưng ông không để cho ai lợi dụng mình.

Một tờ báo nào mời ông viết thì trước hết ông hỏi giá cả đàng hoàng, làm giao kèo kỹ lưỡng, phải nghiêm chỉnh tôn trọng giao kèo. Phần ông không bao giờ ông bội ước với ai nhưng ông không bằng lòng cho người ta bội ước với ông. Nhưng ở đời đâu phải chỉ có những con đường thẳng, tới những khúc quanh co thì ông không đi được. Do đó mà có chuyện. Có rất lắm chuyện về ông.

Tú Mỡ làm thơ chọc ông, ông phản công lại và ký bằng bút hiệu Tú Sơn, Sơn này không phải là núi. Sơn này là Seul. Tú Sơn tức là Tout seul nghĩa là “chỉ có một mình”. Độc lập cũng được, cô độc cũng được.

Nhưng miễn là ông không lệ thuộc ai, không ai chi phối ông được. Ông hoàn toàn tự chủ, triệt để tự do. Ông tài cao, học rộng nên có lối chơi cá nhân rất đẹp. Nhưng thời cuộc biến chuyển bắt buộc mọi người phải hòa mình vào tập thể. Người ta làm được mà ông không làm được.

phan-khoi-tan-da-va-chung-toi-1971-tam-ich-viet

Phan Khôi, Tản Đà và chúng tôi (1971), Tam Ích viết

Bài viết của Tam Ích đăng trên Văn học,
số 122, xuất bản năm 1971


Nếu có phải quen ông Tản Đà thì các anh Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Trương Tửu, Lưu Trọng Lư… quen nhà thi hào ấy hơn tôi. Nhưng nếu nói về kỷ niệm, thì đối với cụ Phan Khôi có đôi điều hơi khác, hình như vậy! Nói khác đi, có một việc để lại trong lòng tôi một kỷ niệm chua chát để hận trong lòng tôi cho đến ngày tôi sẽ gặp cụ Phan Khôi dưới chín suối – còn cái chuyện có ngậm cười hay không ngậm cười dưới suối vàng, lại là một chuyện khác…

Nhưng trước khi kỷ niệm, tôi xin thưa đôi điều, để trả một món nợ tinh thần mình trả cho chính mình.

a/ Người ta thường nói “Quảng nam hay cãi, Quảng ngãi hay co, Bình Định… và khi nói thế là người nói có ý nói người Quảng Nam hay cãi đây là cãi chày cãi cối. Đó là một điều sai lầm khủng khiếp: đất có Ngũ-Hành-Sơn là đất phát sinh ra người thông minh – chả thế mà có Ngũ Phụng Tề Phi! – họ cãi nghĩa là họ không tuyệt đối chấp nhận lời nói người khác; nói một cách khác óc phê-phán họ phát triển đến cực độ. Ở đời không có ai… u mê bằng những người chấp nhận lời thiên hạ, kể cả thánh hiền mà coi nó như giáo-điều: cái bịnh giáo-điều làm hại sự tiến hóa của tư-tưởng loài người không kể sao cho hết! Phật còn phải nói “ngón tay chỉ trăng không phải là trăng” kia mà!

b/ Cái câu “si jeunesse savait si vieillesse pouvait” chẳng phải là câu bâng quơ. Người thanh niên bao giờ cũng hiếu thắng và khi nói ra cứ in trí là mình đúng. Khi về lúc nhiều tuổi mới thấy mình đã… lố. Đã lố là có… hại – đã có hại là gieo điều thất đức! Đó là trường hợp của kẻ viết bài hồi ký này. Tôi nhớ rõ ràng, một hôm tại giảng đường đại học Vạn-Hạnh, có một sinh viên đại-đức hỏi tôi rằng tôi quan niệm sự nghiệp-báo ra sao. Tôi trả lời không cần nghĩ: “thưa anh, con người không bao giờ linh hơn vạn vật, con người chỉ thông minh hơn vạn vật mà thôi, linh khác, thông minh khác; đã mang cái cơ thể bằng xương thịt và chứa tâm can tỳ phế lục phủ ngũ tạng bèo nhèo bầy nhầy (có lẽ là chữ Visqueux trong hiện sinh luận đó!) thì ai cũng làm tội lỗi, điều mà thiên chúa giáo gọi là péché: lớn nhất là đút đàn bà trẻ con vào “Gour crémantoire” và tàn sát người không gớm tay, nhỏ nhất là làm chết một con ruồi; và ở vào “cỡ” giữa hai cái lớn cái nhỏ ấy là nói một câu làm thiên hạ đau xót… Thưa anh, có kẻ ra pháp đình đền tội, hết tội rồi thì ra tù; chứ kẻ khác làm những thứ tội không có ghi trong sách luật pháp thì là vô tội vạ à? Thưa các anh chị, có một cái vạn hô kính, một cái vạn vạn vạn hoa kính có hằng hà sa số sự trừng phạt khác, cái bản chất khác, cái cỡ khác, cái trình độ khác, cái bề dài, bề ngang, khác cái kích thước phóng vào con người chứ! Chứ! Tôi thì tôi… nghĩ một cách triết lý quê mùa vậy đó, tôi quan niệm đó là một hình thức của nghiệp báo”

Tôi nhớ rõ hôm đó, thầy trò chúng tôi ở giảng đường đại học trầm ngâm đăm đăm, ai cũng có một ý tưởng trong đầu – băn khoăn, khó hiểu, ừ nhỉ lạ quá nhỉ, ừ nhỉ kể cũng có lý, ừ mà có lý làm sao, ừ mà phải tu a tăng kỳ kiếp mới hết được nghiệp đi chăng! Đúng như nhà Phật nói:

Xin thưa lại: người trẻ tuổi làm nói trước là làm là nói trước đi, mà kể cũng khó nghĩ đấy. “Lịch sử làm bằng thanh niên tính và lầm lẫn” (L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!). Ngày nay nhiều tuổi, tôi đã hối hận hằng hà sa số điều – trong đó có điều đối với người đáng kính Phan Khôi mà ông Tản Đà đòi chém – và kêu là cái nạn Phan Khôi – vào giữa tiền bán thế kỷ hai mươi.

c/ Chúng ta thường đòi chính quyền cho tự do ngôn luận – nghĩa là đòi chính quyền chấp nhận ý-tưởng và lời ăn tiếng nói đối lập của quần chúng. Tại sao giữa người và người, giữa cá nhân với cá nhân, giữa đoàn thể với đoàn thể, lại không chấp nhận nhau một cách vui vẻ tự-do ngôn-luận. Cứ có ai nói ra một ý gì thì đã có mắng, có chửi, có công kích, có cho là sai, có cho là lầm… lầm thế nọ lầm thế kia. Đôi khi còn mạt sát nhau nặng lời! Ông Phan Khôi mới chạm tới Hán nho Tống nho thì Tản Đà đã đòi chém rồi – chỉ vì Tản Đà cho rằng Phan Khôi hỗn với tiên-hiền – kể cả Chu-Hy, Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo… không lẽ các ông Trình ông Chu toàn thiện toàn mỹ đến không có điều gì đáng trách đáng cho chúng ta ngày sau gọi là tháng! Thánh trong như ngọc, trắng như ngà, tâm can tỳ phế làm bằng pha-lê! Chu Trình đối với Tản Đà là hiền-nhân quân-tử; vậy chứ Tản-Đà đối với người ba trăm năm sau đây là thánh hiền đó à? Chỉ nghĩ thế, đã thấy ông Tản Đà và thấy chính con người chúng ta là… kỳ cục.

Thưa: Con người chẳng linh mà cũng chẳng thông minh: con người chỉ là một sinh vật phi-lý không biết rằng mình là cái gì, yếu tính mình ở đâu, suốt đời dối người và dối mình! – điều mà Jean Paul Sartre nói quanh quẩn mãi mà nói không có lối ra, nói không hết! Không hơn không kém!

Bây giờ rào đón rồi, tôi mới xin nói chuyện ông Phan Khôi và tôi: ông là người rất thẳng, rất trực, rất trung thành với ý tưởng của mình, không sợ dư luận – không sợ chết. Tôi quen cả cụ, mà lại thân cả với con cụ là anh Phan Thao, nghe nói sau này là một nhân vật quan trọng trong mặt trận Việt Minh, vì ngày xưa chúng tôi cùng dạy với nhau một trường.

Số là năm 1936, có ở toàn cõi Đông dương phong trào Đông dương đại hội tưng bừng rộn rịp. Có thể nói là trong lịch sử dân tộc Việt nam, đó là một chuyện hiếm có, hiếm đến có thể không xảy ra đôi lần, hiếm mà không túm lấy kịp thì không bao giờ trở lại! Nói khác đi, đó là một phong trào gần như là có một không hai trong lịch sử. Anh em ở Huế mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham dự: cụ từ chối. Trong cái Ủy ban lâm thời ở Trung Việt, có cụ Phan Khôi và ông Võ Đình Thụy lúc đó là dân biểu Trung Kỳ. Cái Ủy ban lâm thời có cả bạn Lạc Nhân Nguyễn quí Hương ở trỏng, chỉ còn chờ làm xong nhiệm vụ, sơ thảo đồ án, họp đại hội chính thức, giao lại cho Ủy ban chính thức, rồi từ chức để cho phong trào nẩy nở, trưởng thành, và nuôi cho nó lên vùn vụt cho dân tộc Việt nam nhờ!

Không ngờ: “thiên ký sinh Du hà sinh Lượng”, có anh Hải Triều, người đã cùng với Hải Thanh, Hải Vân, Hồ Xanh, v.v… tranh luận về duy tâm và duy vật với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư. Kẻ viện Plékanov, Boukharine, kẻ viện Gide, Valéry… – thực ra cái viện thiên hạ để củng cố ý kiến nầy chỉ có một tác dụng là tỏ cho thiên hạ biết rằng mình dở mà thôi: Việc gì lại cứ phải viện thánh hiền đông tây nói đôi điều mà chính mình hiểu được, niệm được – có phải chỉ có thánh mới có được cái mớ ý tưởng ấy đâu kia chứ hở trời!

Nói cho có lý, nói cho hợp lý, nói cho nghe được vào lỗ tai, nói cho thông minh thừa nhận, thế là được, cần gì cứ phải vác Boukharine, Gide ra để làm ra vẻ ta đây có đọc thiên kinh vạn quyển!

Hải Triều với Phan Khôi là mặt trăng và mặt trời! Tôi là người đại diện cho tỉnh Vinh (Nghệ an) cũng có mặt tại Huế – tôi vào phe Hải Triều cho đó là một điều hãnh diện! Mà nào 22 tuổi đầu, tôi đã biết “mạc-xít” là gì cho ra đầu ra đuôi đâu! Là mạc xít, là đệ tam, là tả phái… lúc đó là một cái mốt – một thứ thời thượng, người ta theo nó cũng như mặc áo gấm.

Chả biết giữa hội nghị, tranh luận ra sao, mà cả thính đường đả đảo cụ Phan Khôi và đòi đuổi cụ ra khỏi phòng. Tôi, Tam Ích, cũng đứng lên, dơ tay, đả đảo! Cụ thản nhiên cầm nón đứng lên đi ra giữa sự đả đảo ồn ào. Mà thực ra, thì Hải Triều là mạc-xít còn cụ Phan thì cụ không theo giáo điều nào hết. Nho giáo kia đã nặn cụ thành cụ mà cụ còn nói phải quấy nên chăng, huống là!

Chuyện Đông dương đại hội, chuyện Godart rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì chính quyền thực dân cấm họp nữa. Thế là hết: ai về nhà nấy. Tôi còn nhớ cụ Phan Bội Châu cho tôi hai đồng bạc, cụ Tú Kiên cho hai đồng, làm lộ phí trở về Vinh. Về đến Vinh, tôi viết bài công kích cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chối tham dự đại hội (Vì ý anh em muốn có sự có mặt cho có uy tín) và một bài công kích ông Phan Khôi đăng ở báo Việt-Nam ở Saigon. Mới có 22 tuổi đầu, nói hăng lắm: trình độ hỷ nộ ái ố đều cao cao!

Năm 1938, tôi (đã vào Saigon rồi) cùng dạy Pháp văn tại trường trung học Chấn Thanh với cụ Phan Khôi và con cụ là anh Phan Thao cùng với anh Phan Ngọc Châu hiện là giáo sư trường Văn Hiến cùng với anh Phan Khoang mà ngày nay làm giảng sư đại học văn khoa.

Cụ Phan Khôi hình như đã là người thiên cổ rồi!

Ngày nay tính sổ nhân sinh tôi có hai thứ tôi đã làm, một việc vào năm 1936 mà người ta gọi là snob – ít nhiều thôi. Cho đến năm 1946 tôi đã làm một việc cho khỏi thẹn với con dân đất nước: tù tội tra tấn rồi việc lôi kéo việc, việc này lôi kéo việc kia, cái sử-tính cá nhân của con người tôi dài dằng dặc, thỉnh thoảng tính sổ kế-toán – công ít, tôi chẳng biết là bao nhiêu, chỉ biết cái tội bất-bình với cụ Phan Khôi cũng là tội lớn. Ngày nay, đã có hai thứ tóc, sân khấu thuộc về những bạn thanh niên từ Pháp về: Nguyên-Sa, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Bùi Xuân Bào… học thức có dư sinh tố có thừa, đủ kích thước làm lịch sử, thay thế hệ cũ – đã cũ! Rien ne vaut une vie: đời người là một cái dốc cho người leo hộc máu mồm ra, toát mồ hôi hột ra đời người còn là những phút ân hận làm mất giấc. Une vie nevaut rien: ba vạn sau ngàn ngày, thưa cụ Phan Khôi, cụ nằm xuống cục đất phóng lên trên mồ xanh, nghìn thu vĩnh biệt. “Trăm năm dũ áo chốn tuần ai, còn gì mới là được!” thưa cụ Phan Khôi?

Thưa Cụ Phan câu đó là câu của ông Tản Đà trong bài “Cờ bạc” – cái ông ngày xưa định chém cụ đó!

André Mabraux nói cái câu tiếng Pháp ấy là nói cho cả hai ông đấy: cho Phan Khôi và cho Tản Đà!

Cho cả chúng ta, ai tai!
Một mớ Sisyphe! Sắc sắc không không, có gì mà bắng nhắng kìa!

Giáp tết Tân Hợi.
Tam Ích