nguyen-tuan-lam-lai-cuoc-doi

Nguyễn Tuân, Làm lại cuộc đời

Hôm nay là một ngày rằm tháng tám. Trận bão từ đâu rớt về, đã trùm màu tang tóc, lên trên cả một thành phố lớn. Muốn chia buồn với tạo vật, người ta đã bỏ mất tết Trung thu. Cố nhiên lũ trẻ lấy làm hậm hực.

Nhưng có riêng gì chúng.

Trong một căn nhà gác nhỏ kia, có ba thiếu niên đang nguyền rủa thời tiết bằng những lời nói nặng mà một bà cụ hay lễ bái phải bịt tai và mau tay lần chuỗi tràng hạt.

Hoàng cầm tờ báo đọc tin Thiên văn đài Phủ-liễu báo bão. Chàng đọc rất to. Lưu và Nguyễn nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu, quay ra phí ngoài bốn tay bấm chặt lấy song sắt cửa, tầm mắt gửi hẳn vào trời mưa gió dữ dội.

Lắc đầu nhún vai.

Nguyễn thở dài.

Hoàng vứt tờ báo, đâm ra thẫn thờ.

Họ đang ôn lại dĩ vãng. Thời đã qua của Hoàng, của Nguyễn, của Lưu, đều nặng nề những dấu vết thương đau.

Cách đây không đầy một tháng, lúc họ rủ nhau đến ở chung căn phòng này, họ đã thề phải nhắc nhỏm lẫn nhau làm lại cuộc đời. Họ thường an ủi lẫn nhau rằng với cái tuổi của mỗi người chưa quá ba mươi, làm lại cuộc đời cũng không có gì là khó khăn lắm. Họ muốn cách mệnh tinh thần. Ngày trước là đùa dỡn, bây giờ phải đổi ra tôn thờ. Ngày trước là ích kỷ, bây giờ là tha thiết với mọi cái gì xảy ra chung quanh mình. Xưa kia đối với người với việc, họ đều nghi ngờ, rẻ rúng. Bây giờ Hoàng, Lưu, Nguyễn muốn phục hưng lại cõi lòng uể oải và mỗi người muốn nhận lấy một trách nhiệm. Trên tấm cửa gỗ, họ đã lấy phấn viết vào đây một câu: “Cái bí quyết của Hạnh phúc là biết nhận lấy Trách nhiệm”.

Ba đứa con hoang của Thời đại, ngày ngày tụng niệm câu mà chúng đã nêu lên làm trâm ngôn. Sớm rồi sớm, chiều lại chiều, Lưu, Nguyễn, Hoàng được yên tĩnh trong lòng để viết – họ là nhà văn viết – rất sốt sắng như một người biết qua cái nghề của mình. Và tin ở tương lai của nghề. Và cho rằng đùa dỡn với văn chương, với nghệ thuật là có tội.

Trong mấy tuần lễ, ba người sống chung bên cạnh nhau, chỉ để học, viết và bàn về giá trị trí thức. Bà chủ nhà tuy là dốt nát, nhưng cũng hiểu lầm rằng đấy là mấy cậu học sinh thi tú tài và khen thầm họ ngoan ngoãn không hay đi chơi đêm và phá phách ồn ào làm kinh động giấc ngủ của kẻ khác. Mỗi bữa cơm nước cho họ xong, bà thường vui vẻ nói chuyện với thằng nhỏ bằng câu mở đầu: “Chả bù với bọn học trò trước”. Bà chủ nhà, chặc lưỡi những tiếc có một đứa con gái đã trót gả chồng mất rồi, nếu không thì trong ba cậu này, làm gì bả chả tìm được mặt rể hiền. Trời đất ơi! Một người đàn bà cũ kỹ, căn cơ đã mến phục được lũ con cưng của thời bệnh.

Bằng cái phẳng lặng vui vẻ của công việc trứ thuật hàng ngày, Hoàng, Lưu, và Nguyễn nhất định tin yêu ngày hôm nay, tin yêu ngày mai và chôn sâu xuống tận đáy lòng những ngày xám xịt đã qua. Với cái chủ quan mới đối với cuộc sống, đêm ngủ của họ thường không bị đứt quãng như ngày trước. Ít lâu nay, tịnh không có một cơn mơ quái gở nào làm bận rộn tới giấc ngủ ngon lành của họ. Trông thấy họ ngủ mê mệt, má ắp nghiêng xuống bàn tay chèn vào kẽ gối, có ai dám ngỡ họ đã dăm tao bảy tiết làm con nuôi của tội lỗi. Giấc ngủ ngoan ngoãn kia, đến anh thợ cày cũng phải thèm tiếc. Và những kẻ chìm đắm trong trường sa ngã trong linh hồn họ được thư thái như thế, thường nổi lòng ghen ghét.

Bây giờ, Hoàng, Lưu, Nguyễn không dám sống về đêm nữa. Họ nghĩ đến những đêm trăng với hoa tàn héo cạnh bên ngọn đèn dầu lạc, họ lại kinh sợ như trẻ rất nghe chuyện yêu tinh. Họ tưởng chừng như thời đó đã xa lắm rồi. Từ nay, họ quyết sống lúc ban ngày để làm việc như trăm nghìn người lương thiện khác, làm việc cho đầy đủ rồi tối đến, ngủ giấc ngủ của người công bình.

Lắm buổi sớm, Lưu, Hoàng, Nguyễn vươn vai và ngáp xong một cách rất thừa thãi họ đều khen lẫn nhau: “Chúng ta độ này không đứa nào nói mê, nghiến răng và đạp tay chân như người giẫy chết nữa nhỉ!” Họ cười to quá. Mở mắt ra, họ đã lấy làm sung sướng ngay, dẫu rằng mở đầu cho ngày đó, người ta chưa thấy một dấu vui, một điềm lành. Hình như họ tìm ngay sinh thú trong sự ngạc nhiên thấy mình được dự một phần trong sinh sống của muôn loài.

Thế mà Tội lỗi vẫn chưa buông tha cho họ đấy. Thế mà quỷ Satan vẫn theo đuổi kẻ chân tu và cám dỗ hoài.

Bởi vì, hôm nay tết Trung Thu, một trời bão tấp gió mưa nặng nề đã giày vò tàn nhẫn đến lòng người biết nhớ cũ.

Đi đôi với trận mưa trên thành phố, trận mưa tuôn trong lòng người muốn tràn ra ngoài bằng giọt nước mắt. Than ôi! mưa gió ngoài rời, mưa gió trong lòng người.

Cả một buổi chiều hôm nay, Lưu, Hoàng, Nguyễn, tự nhiên, đâm nhớ cảnh giang hồ. Ở người họ, mỗi lúc lòng giang hồ đã nổi dậy, thế nào cũng có một chuyện kỳ quái lôi thôi xảy ra. Lấy một việc rất gần đây làm tỉ dụ.

Đầu năm nay, Hoàng ngồi bồi tịch một bữa tiệc rất long trọng ở trại bà huyện Mộc. Bấy giờ vào khoảng cuối xuân sang hè. Chiều hôm ấy, trời oi ả lạ.

Bà huyện Mộc vốn yêu Hoàng như yêu một người em út. Bà thấy Hoàng là người thông minh, sống một cuộc đời bất hạnh, không nhà cửa nhất định, bà thường lấy làm ái ngại. Hồi ấy, nhân Hoàng vừa mới đi xa về, bà làm một bữa rượu tẩy trần, mời những thân bằng cố hữu đến họp mặt nói chuyện. Thật là một dịp tốt cho người ta được gần nhau trong một hoàn cảnh ấm áp. Cái đinh của bữa tiệc, cố nhiên là Hoàng. Đang ăn uống vui vẻ, bên ngoài trời nổi sấm chớp, đổ một trận mưa dày. Từ lúc trời nổi giông gió, Hoàng ngừng tay gắp và đòi uống rượu suông rất nhiều, Hoàng không uống như thế. Tửu lượng chàng rất kém. Mặt chàng đỏ bừng bừng rồi chàng đưa tay bóp trán như một người biết lặng lẽ đau đớn. Bà huyện Mộc phải nặng lời gắt: “Thôi, Hoàng không được uống nữa”. Bất kể lời ngăn của người chị hiếm có ấy, Hoàng vẫn uống, lặng thinh không nói một lời. Mắt chàng sáng chiếu lên theo với luồng chớp ngoài sân mỗi lúc một mau.

Cả đám tiệc không hiểu gì. Duy chỉ có Lưu và Nguyễn đều rõ sự khủng hoảng trong tâm hồn Hoàng và đưa mắt luôn luôn nhìn nhau. Mặt Hoàng, bỗng tái đi; chàng đứng phắt dậy, ra mắc áo, với chiếc áo đi mưa của Nguyễn. Đáp câu hỏi bà huyện Mộc, Hoàng ngoái cổ lại tạ lỗi cùng mọi người và xin phép ra ngoài một chút. Bữa tiệc tàn đã xoay sang cuộc tổ tôm đến hồi thứ ba, thứ tư gì đó mà vẫn chưa thấy Hoàng trở lại. Lưu và Nguyễn trong lúc chờ bốc nọc hay đợi ù, vẫn đưa mắt hỏi nhau về thái độ Hoàng, Lưu và Nguyễn, giữa đám bài, ngồi buồn thiu như hai thỏi kẹo bột gặp tiết nồm. Thỉnh thoảng bà huyện Mộc xướng cây bài, lại kêu: “Quái nhỉ”. Đến đã khuya mưa vẫn không ngớt hột. Lúc người bưng cháo siu dè lên, Lưu và Nguyễn không ăn xin về. Lòng nhớ bạn và thương bạn làm họ ngang dạ. Trông thấy cái ấm áp của làn khói bát cháo nóng đùn đùn bay trong một mái trai ấm cúng, Lưu và Nguyễn đang tự hỏi thầm xem trong phút này, Hoàng đang ở đâu? Tuy là tiết hạ, nhưng mưa và gió cũng lạnh lắm chứ. Về đến nhà Lưu bảo Nguyễn: “Hoàng nó đi như thế này không biết bao giờ mới về”. Nguyễn nói thêm: “Mà hắn đi như thế, không bao giờ cho biết địa chỉ ở đâu. Lúc nào hắn nhớ chúng ta có dịp về được, là hắn về. Tôi còn lạ gì tính hắn. Cũng như tôi không lạ tôi có nhiều lần cũng điên ngộ như thế! Chao ôi! Chúng ta! Ai chịu được chúng ta. Trừ khi chúng ta ra về.”

Thế rồi mùa hè từ từ đi qua. Mỗi khi thấy hoa soan tây rụng tàn lửa bên đường giải nhựa, Nguyễn lại bảo Lưu: “Thằng Hoàng nó ghét màu đỏ này lắm. Cái thằng cũng lạ. Về thảo mộc học, nó cừ ra phết. Không biết nó tò mò tìm ở đâu mà biết chữ Hán gọi cây soan tây là phượng vĩ tùng”.

Thư từ ở các nơi gởi về cho Hoàng đã dày thành một tập xếp ở góc tủ sách. Mỗi tập thư còn nguyên vẹn. Một tập thư không có người bóc. Ngắm tập thư vô duyên, có khác gì ngắm một cảnh bờ sông nước trong vắt không có người tắm mà trên bờ cỏ, phất phơ manh áo vải còn nóng hổi hơi người.

Thế rồi mùa hè hết. Thế rồi gió bấc về, đem luôn cả Hoàng về, trả Hoàng cho Lưu và Nguyễn. Ba người ôm nhau. Cái mừng rỡ đã qua, Lưu và Nguyễn mới nhận ra Hoàng chỉ còn là một manh áo the rách. Mặt võ vàng và mái đầu điểm vài sợi chỉ bạc, Hoàng cất giọng nói khàn khàn: “Từ hôm tao đi trốn mưa, bỏ trại chị huyện, ở nhà có gì lạ không chúng mày?” Lưu và Nguyễn nghẹn ngào, nhưng cố làm ra giọng cợt nhả, đồng thanh trả lời: “Thiếu mất có một mày, mọi cái đều trở nên vắng vẻ”. Hoàng kêu đói, Nguyễn tìm ở đáy nồi một miếng thịt bò kho thao quả, đưa cho bạn tội nghiệp với một câu trách móc âu yếm: “Mẹ kiếp, cứ bao giờ ốm và đói thì ông mới lại gặp mày. Gọi hàng bánh tây mà ăn. Số mày vẫn phong lưu. Ban nãy, thằng Lưu và tao ngon miệng đã định ăn hết, không biết tại sao lại còn sót lại miếng thịt nhỉ! Như thế, đủ biết còn lâu mày mới ăn mày được. Chóng ăn cho khỏe đi, rồi lại đi trốn mưa như thế nhé! Khổ lắm bố ạ”.

Thực vậy, họ đều cảm thấy cái khổ của cuộc đời không có tổ chức. Bởi thế nên từ hôm đoàn tự lại, họ mới nguyền cùng nhau phải làm lại cuộc đời.

Nhưng, như hết thảy người ta vừa rõ đấy, cái yên tĩnh hàn gắn, bồi đắp, mất bao gắng gỏi chỉ đậu được mấy tuần lễ.

Cuộc sống êm đềm của Lưu, Nguyễn và Hoàng, ít ngày gần đây tựa như cái bình tích chốc lát của mặt bể lặng mà phía dưới vẫn có sống ngầm muốn nhô đầu lên.

Những kẻ giang hồ có say sóng, thì chỉ quị ở trường hợp đi trên mặt nước có sóng ngầm và trong nghề hàng hải những con tàu lớn thường hay đám bởi nguồn sóng ngầm cứ dồn thúc mãi vào sau lái đít tàu.

Chiều hôm nay, sóng ngầm nổi dậy, trong lòng ba đứa trẻ chỉ muốn hối hận mãi để làm lại cuộc đời. Thấy sức mạnh của cơn bảo cứ giăng thêm mãi, Nguyễn chọn bộ quần áo sang nhất, ướm màu áo cho điều hòa với màu cà-vạt và loay hoay đánh mãi đôi giầy đen. Chàng lầm bầm:

Tiếc thiếu mất một cái áo đi mưa.

– Trời gió bão, đèn đường tắt, đường ngập, mày định đi đâu?

Lưu vừa hỏi, vừa lòm ngòm từ giường bò ra. Chàng năn nỉ Nguyễn:

– Ở nhà đi ngủ sớm. Như thế hơn.

– Ừ, mày cứ đi ngủ sớm hơn mọi ngày. Tao chạy đi đằng này một tị. Một tị thôi mà.

– Đi đâu thế, Nguyễn? Hoàng giật giọng hỏi:

Nguyễn nheo mắt nhìn thẳng vào mặt bạn như muốn báo: “Khốn nạn, đến như mày đã có lần trốn mưa mất mặt mất mấy tháng tròn, mà mày cũng hỏi ta câu ấy nữa sao? Suy bụng mày, mày sẽ biết bụng ta. Hà tất phải nhiều lời. Có muốn đi thì mặc quần áo vào rồi theo ta đi tác-ác. Còn vẽ vời hỏi han mãi”. Hoàng như hiểu ý, miệng huýt sao, chân sỏ giầy. Nghĩ đến câu “đi một tị”, Hoàng mỉm cười.

– Tao cũng phải đi một tị. Thằng Lưu ở nhà, tao về ngay đấy.

– Nguyễn đi thằng Hoàng cũng đi. Thế tao ở nhà một mình làm gì?

– Thì cũng đi luôn với hai đứa chúng tao. Đồ ma bùn! Mè nheo suốt ngày.

Hình như bọn họ đã quên mất lời thề thốt bữa nọ. Họ không tiếc cái công làm người đứng đắn được mấy tuần nay. Con ngựa bị tù chân trong tàn cỏ khô, vẫn nhớ màu xanh non chỗ ria đường dài thăm thẳm. Bây giờ nó muốn chấp cả cương lẫn vế, nhất định đòi bon trên con đường cũ.

Lưu, Nguyễn và Hoàng vẫn thiết tha muốn làm người đứng đán. nhưng, đem gạn máu họ, người ta vẫn tìm thấy còn nhiều cái trụy lạc. Việc tổ chức lại cuộc đời, đến phút này vẫn là cái mộng xinh xinh. Nó đẹp như cái bọt xà phòng ngũ sắc mà trận gió bão đêm nay thổi vỡ.

Thăm dò lòng mình xem có nhận thấy tiếng can ngăn của lương tâm thì, Lưu chỉ vẳng nghe như ai đang bấm khẽ một bản đàn cũ, một bản đàn mà nhạc điệu đã dập theo tiếng gió rít và hơi mưa bay, và ca ngợi đời cầu bơ cầu bất. Biết bao nhiêu say mê trong sự phóng túng hình hài đã được nhắc tới. Lưu thở dài, muốn kêu lên một tiếng cũng dài như hơi thở. Ý chừng, chàng muốn nói với chàng một câu tâm sự. Rằng: ta chơi nốt đêm nay nữa cho gió mưa phải chắn mặt người phong sương. Sao người ta hay dối cả với người ta thế! Chàng ngâm:

Giang hồ… một chút ân tình cũ

Hoàng và Nguyễn cũng bắt lại câu đó và lúc ngâm xong đều một lượt, chế nhạo Lưu:

– Với tư tưởng lãng mạn và giọng uyển chuyển ấy, giá làm đàn bà thì chung thân chỉ đánh đĩ với đời thôi, em ạ!

Đêm hôm nay, Lưu, Nguyễn và Hoàng định tìm một quán rượu. Nhưng cuộc say cho nên trong một gian nhà giột ở xóm Vạn Thái, Lưu, Hoàng và Nguyễn đang tìm cảm giác mới (!) giữa cảnh bài trí của Trụy lạc. Họ thấy cả xóm, không có một linh hồn làng chơi nào, họ lấy làm hả vô cùng. Quần áo bị mưa tẩm ướt, họ mượn coóc-xê của con hát để cho ấm thân thể bị giá lạnh. Người nhớ chuyện “Tam quốc”, tưởng họ là lũ quan đầu hàng nhà Hán và bị Gia Cát thừa tướng cho mặc quần áo đàn bà gởi trả lại cho Tư Mã Ý để làm nhục nhau chơi. Đèn đóm trong nhà hát không có, họ thắp nến. Một mùi tử khí phảng phất bao trùm lấy ba đứa đãng tử. Những tiếng cười chán chường làm lung lay ánh sáng ma chơi của ngọn nến lờ mờ. Lúc mới bắt đầu đi, thấy đèn đường phố tắt ngấm, thấy cây cổ thụ bật rễ cái, thấy dây điện cuốn cành đa, Hoàng nói oang oang trong mưa lạnh:

– Những đêm giông tố như đêm nay, cái lòng đạo đức chỉ còn như một sợi tóc thôi. Những đêm như thế này, người ta hay nghĩ làm tội lỗi. Tại sao hung thủ không giết người trong đêm bão? Mưa sẽ gột hết vũng máu và dấu vết in trên mình xác chết đều được trận bão lau chùi sạch. Ha, ha!

Photo: Woman Smoking Opium, Hanoi – French Indochina circa 1915, by Léon Busy

nguyen-tuan-anh-ban-nguyen-hong-cua-toi-1965

Nguyễn Tuân, Anh bạn Nguyên Hồng của tôi (1965)

Con gái út của Nguyễn Tuân, họa sĩ Thu Giang, trong một bài phỏng vấn trên tạp chí Hồn Việt, ngày 7/7/2010, do Thu Hiền thực hiện, có một đoạn như sau:

Tôi thường là cầu nối giữa cha và những người bạn văn của ông, nên tôi biết đa phần những người cụ không ưa là người có tính tiểu nhân, trí trá, lừa thầy dối bạn… Ngược lại, cụ đã thương ai thì thương lắm.

Cha tôi rất thương ông Nguyên Hồng, nhưng cứ gặp Nguyên Hồng, cụ lại trêu “cái thằng nhà quê kia…”, nhiều lúc làm ông Nguyên Hồng phát cáu mà gắt lại “tôi là thằng nhà quê đấy!…”. Tính ông Nguyên Hồng rất bộc trực, chân chất tuy đôi lúc hơi thô.

Từ bé, tôi chưa từng thấy cha khóc bao giờ, vậy mà khi ông Nguyên Hồng chết, cha tôi đã khóc thành tiếng rồi lặn lội xuống tận Nhã Nam để viếng.

Dưới đây là lời tựa Nguyễn Tuân viết cho cuốn Bỉ vỏ và truyện ngắn của Nguyên Hồng, do nhà xuất bản Văn học ấn hành ở Mát-xcơ-va, bản tiếng Nga, năm 1966. Sau được đăng lại trên Tạp chí văn học số 3 – 1982, có lẽ để tưởng niệm Nguyên Hồng.


Theo như tôi biết thì không có nhà văn Việt Nam nào viết văn bằng máy chữ. Chúng tôi viết hết trang này sang trang khác bằng những cái ngòi bút bình thường. Cứ như vậy hết trang này sang trang khác từ năm này sang năm khác. Nhưng tôi hy vọng giờ đây khi đất nước chúng tôi bước lên con đường cơ khí hóa, thế nào cũng xuất hiện các đồng nghiệp trẻ trung trang bị kỹ thuật tốt hơn, máy chữ đối với họ sẽ trở thành công cụ lao động bình thường. Họ sẽ không còn phải dùng đến lọ mực truyền thống và cây bút cổ điển.

Mà còn gì tốt hơn là bản thảo được đánh máy? Trong tay anh lập tức có mấy bản, và bản nào cũng tuyệt. Có đánh mất một bản cũng chẳng có gì đáng sợ. Thêm vào đấy, bản thảo được đánh máy – trông thật tươm tất và chững chạc, gây ngay được sự tin cậy hoàn toàn. Niềm mơ ước này về tiến bộ kỹ thuật đối với tôi nó gắn với các bản thảo của Nguyên Hồng. Nguyên Hồng – con người muôn thuở đánh máy các bản thảo của mình, mà mất bản thảo – cũng ví như mất mát người bạn tốt nhất, mất người bạn đường mà với anh đã trở nên khẩn thiết trên mỗi chặng đường dài. Nguyên Hồng thường xuyên mất các bản thảo duy nhất của mình, và mỗi lần như thế thì nỗi đau khổ của anh không bút nào tả xiết. Trước đây anh sống ở một ngôi nhà tranh tre ở nông thôn. Cuối cùng bằng tiền nhuận bút cuốn sách Sóng gầm, tập đầu của bộ ba tiểu thuyết anh đang ấp ủ, anh đã dựng được ngôi nhà gỗ mái ngói. Tất nhiên nhà ngói không còn sợ cháy nhiều như nhà tranh tre, và bản thảo không còn bị đe dọa nữa, tuy nhiên mỗi lần rời Bắc Giang về Hà Nội, đi họp hay có công việc văn học nào khác, Nguyên Hồng dù sao đi nữa vẫn cứ tha tất cả các bản thảo, cũ cũng như mới, đi theo; những bản thảo ấy căng phồng cái cặp da cũng già cỗi như cái xe đạp của anh. Cần phải nói là mặc dù đối với các nhà văn Việt Nam, cái máy chữ hiện còn là công cụ cơ khí quá phức tạp, nhưng xe đạp họ lại điều khiển được đã từ lâu. Từ lúc còn trẻ, chúng tôi đã buộc phải du hành khắp đất nước bằng cái phương tiện giao thông này. Như vậy là tài hoa nhà văn của chúng tôi thể hiện không chỉ ở môn tập viết, mà cả ở kỹ năng đạp pêđan xe đạp.

Vậy là, nhìn cái cặp da cũ kỹ của Nguyên Hồng, bỏ quên – đã bao lần rồi không biết nữa – ở một góc nào đó, nơi nó có thể trở thành cái mồi ngon lành đối với bất cứ nhà phê bình nào, bao giờ tôi cũng nghĩ đến những trang giấy viết đặc kia bằng nét chữ nhỏ li ti, những trang giấy tưởng chừng chiếu sáng xuyên qua các thành cặp sờn cũ. Mỗi khi câu chuyện nói đến cái cặp lịch sử này thì ý kiến bạn bè của Nguyên Hồng lại khác biệt nhau. Một số cho rằng đó là cái cặp của công tố viên, con người sẵn sàng bằng tất cả sức nặng của các chứng cớ mà ông ta đã thu thập được giáng xuống đầu bị cáo, còn số khác – lại cho rằng đó là cái cặp của người bào chữa, sẵn sàng bằng tất cả những biện pháp anh ta có được bào chữa cho kẻ vô tội. Cứ đọc các sách của anh, thì các bạn sẽ đồng ý với tôi rằng cả hai lập luận đều công bằng như nhau đối với nhà văn Nguyên Hồng cũng như với nội dung bên trong cái cặp của anh, cái cặp mà sau kinh nghiệm đau xót bây giờ anh không rời một phút nào, tha nó theo vào nhà hát, vào tiệm ăn và thậm chí, nghe bảo, còn đặt xuống để gối đầu mỗi khi anh ngủ.

Khi Nguyên Hồng yêu quí cái gì đó – thì đó cũng ví bằng như mối tình đầu – không thể so sánh với cái gì khác hơn. Anh yêu quí văn học, yêu quí lao động nhà văn của mình như vậy đấy: anh yêu thích giúp đỡ các nhà văn trẻ, chia sẻ kinh nghiệm với họ như vậy đấy; cũng như vậy anh yêu quí các bạn của mình và thời gian cùng họ chuyện trò thân ái, và cũng như vậy Nguyên Hồng yêu thích những cuộc du hành.

Cuộc du hành chung đầu tiên của chúng tôi thuộc vào thời kỳ khi hai chúng tôi vừa được thả ra khỏi căng của Pháp. Chúng tôi đi tầu từ Hà Nội về Nam Định, quê hương của Nguyên Hồng. Anh vừa ở căng Bắc-mê trở về dưới sự giám sát của cảnh sát, còn tôi có mấy người bạn sống ở Nam Định, từ đó ít lâu sau tôi lại bị đưa đi một trong những căng ở miền núi. Trong những năm thống trị của Pháp, rồi sau đó của Nhật, nhiều người trong chúng tôi đã quen nhau trong những chuyến đi trên các tuyến đường ấy. Chúng tôi bấy giờ còn chưa phải là các nhà văn nổi tiếng, nhưng qua sách cũng đã biết nhau. Rõ ràng là, bọn Pháp bấy giờ phân tích các đam mê văn chương của chúng tôi giỏi hơn cả chúng tôi, bởi vì cả hai chúng tôi cùng ngồi tù vì các hành động “phá hoại”, nhưng, mặc dù như vậy, trong lần gặp gỡ đầu tiên chúng tôi còn chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn trong các quan điểm về văn học và nghệ thuật, sự thống nhất mà về sau này chúng tôi đã cùng nhau đi tới.

Cuộc du hành chung thứ hai của chúng tôi đã là sau Cách mạng tháng Tám – hai chúng tôi cùng đi vào mặt trận phía Nam. Còn lần thứ ba chúng tôi vai bên vai đi bên nhau không chỉ một cây số đường rừng trong kháng chiến. Chúng tôi trở thành đôi bạn – du hành và đôi bạn nhà văn, cùng nhau chia sẻ vui buồn. Và cầu trời trong các cuộc hành trình của anh cũng có một người bạn đường như thế và người bạn như thế.

Tôi đã nói là Nguyên Hồng yêu thích viết. Anh bị ám ảnh bởi công việc của mình, anh sẵn sàng bất cứ giây phút nào cống hiến cho công việc ấy với tất cả niềm say mê của tâm hồn mình, dường như bằng mỗi dòng văn của mình, anh muốn bảo vệ cái gì đó sống thoát khỏi cái chết. Sự si cuồng sáng tác của anh – đó không phải là sự si cuồng của kẻ bút cuồng, đối với kẻ đó chuyện viết văn – là cái chứng bệnh tình cờ – anh viết đưa mình vào mỗi từ mỗi chữ, và tấm gương của anh dậy cho các nhà văn khác, cần phải làm việc – ra sao, không biết mệt mỏi, tiến lên nhịp bước cùng với dân tộc mình. Tôi đã thấy anh cùng một lúc quét nhà, ru nín con cái và đồng thời lại khéo tìm cách viết được. Và tôi không bao giờ quên được mấy câu trong lời đề tựa cho Bỉ vỏ ở lần xuất bản đầu tiên (1938):

“Khi ăn, khi chơi, khi ngủ… lúc nào tôi cũng nghĩ đến viết. Ở nhà, ngoài đường, trên vỉa hè, ở ghế vườn hoa, dưới gốc cây, bờ sông, bến tầu, đâu đâu cũng là chỗ tôi mơ tưởng đến viết. Có một xu một chinh nào tôi cũng mua giấy để viết. Nhưng, tiền càng ngày càng hiếm, tưởng như không còn bao giờ lọt vào tay tôi nữa… mẹ tôi đã giúp tôi, lấy chút ít trong ngân quỹ gia đình ra, vì thế tôi cố viết chữ sao cho thật nhỏ để ít ra bằng cách ấy giảm bớt chi phí của chúng tôi”.

Tôi không dừng lại tỉ mỉ ở nội dung các truyện ngắn và tiểu thuyết của anh và kể con cà con kê về bút pháp văn chương của anh, tôi nghĩ rằng các tác phẩm nằm trong cuốn sách này tự nó sẽ nói cho mình. Tôi chỉ muốn nói ít lời đơn giản về anh như về một con người, mặc dù, tất nhiên, cả điều này trong một bài cũng rất khó làm nổi. Ngoài tình yêu đối với văn học, Nguyên Hồng còn có một tấm lòng nhân hậu và một tâm hồn trong trắng khác thường. Điều này đặc biệt thấy rõ khi anh làm việc với lớp trẻ.

Trong thời gian kháng chiến, Nguyên Hồng phụ trách trường nghệ thuật Nhân dân, giúp đỡ những con người còn rất trẻ xuất thân từ quần chúng, công nhân, nông dân và bộ đội, tiếp thu các lý luận văn học và nghệ thuật, có được khái niệm về kỹ thuật sáng tác. Các bạn trẻ rất yêu mến Nguyên Hồng về sự nghiêm túc chân thành và tinh thần trách nhiệm của anh đối với công việc. Họ gọi anh là “ông đốc Hồng”.

Trường học ấy nằm trong rừng sâu, các lớp học và nhà ở dựng bằng tranh, nứa. Trường học do cả trò cả thầy hiệu trưởng cùng xây dựng. Nghĩ tới cái “trường mình” ấy, vô tình anh lại nhớ đến cái trường học khác trong cuốn sách Những ngày thơ ấu của anh, khi anh sống bằng khoản tiền lương thầy giáo nhỏ mọn của mình. Trước mặt tôi hiện lên những dòng văn của truyện ngắn Tôi làm thầy giáo.

“Trong các trường như vậy trẻ con dưới chừng mươi – mười lăm đứa mỗi trường, học hành dưới sự coi của các thầy giáo lang thang – những ông già kiệt sức và trở nên độc ác; hay những người trẻ, mười bảy – mười tám tuổi, đã nếm nỗi đắng cay của thất vọng và nghèo nàn. Các trường học, hệt như những kẻ tội phạm, trốn tránh sự săn đuổi dưới những mái nhà thảm hại ở các ngõ sâu, trên các gác xếp và trong những nhà phụ”

Và lại nữa: “An! Phương! Nữ! Let! Các em trai em gái nhỏ của tôi! Trong ba năm ấy các em đã tặng cho anh bao nhiêu giây phút hạnh phúc, khi sau mấy tháng trời các em bắt đầu đọc và viết được và thậm chí đánh vần được cả các từ tiếng Pháp. Tất cả ba năm đó anh đã thầm cảm ơn các em và sung sướng vì tình thương yêu và quyến luyến của những trái tim nhỏ bé và ngây thơ của các em”.

Trường học những năm chiến tranh ấy bằng tre lá nằm ở trong rừng, trường học mới dành cho các nhà văn trẻ đã mở năm 1965 ở Hà Nội, và anh bạn “ông đốc Hồng” của tôi lại cống hiến tất cả trái tim mình cho các nhiệm vụ không dễ dàng gì của mình. Cũng như phần lớn các nhà văn và nhà hoạt động nghệ thuật của chúng tôi, anh thường đi đến các đơn vị quân đội đang bảo vệ biên giới trên không của tổ quốc chúng tôi, kết hợp hai giáo huấn cơ bản của văn học chúng tôi: viết và chiến đấu.

Và khi tôi, bạn cũ của “ông đốc Hồng”, hôm nay ở đây, tại thành phố của các bạn tôi, viết những dòng này, tôi lại nhớ tới anh. Tôi thật sung sướng nếu như anh có mặt cùng chúng ta trong buổi tối nay.

1965 – Mát-xcơ-va