ho-huu-tuong-ve-khai-hung

Hồ Hữu Tường về Khái Hưng

Bài Khái-Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của “văn chương sáng giá” của Hồ Hữu Tường, đăng trên Văn, số 22, năm 1964.


Mười tám năm qua, Khái-Hưng từ giã cõi đời, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Một đôi người biết những việc mà Khái-Hưng và tôi trù liệu vào những tháng chót của năm lịch sử, 1946, càng tiếc hơn nữa. Phỏng cho Khái-Hưng còn sống mười năm nữa thôi, thì tờ báo văn-nghệ Thời Phong, lúc ấy vừa kết thai, sẽ viết những trang gì trong lịch sử văn chương ở nước nầy? Rồi họ giục tôi nhắc lại khoảng đời đó của Khái-Hưng. Để cho những tài hoa hậu sinh nào thích thú thì dẫm bước theo con đường mà tác giả Hồn Bướm Mơ Tiên toan dấn thân vào…

Khái-Hưng tìm làm quen với tôi trước. Lúc ấy, tôi ở Hà-nội, trốn trong một cái phòng, không bước chơn ra ngoài, vì sợ trinh sát Việt-Minh gặp mà nguy cho tánh mạng. Ở trong phòng tôi bị ám ảnh bởi thần chết. Để đánh tan cái ám ảnh ấy, tôi viết. Viết sách phổ thông với mục đích là kiếm tiền để sống. Viết sách tư tưởng không cần xuất bản. Mỗi cuốn sách đều mang một bút hiệu khác nhau. Và với bút hiệu Huân Phong, tôi viết quyển Muốn làm chánh trị, viết để chơi, không cần xuất bản. Quyển nầy được một nhóm nhỏ sinh viên thích, họ chuyền tay nhau mà chép lại mỗi người một bản để giữ làm kỷ niệm và cho người thân yêu đọc mà thôi.

Không biết do ai tọc mạch mà Muốn làm chánh trị lọt vào tay Khái-Hưng. Theo lời của Khái-Hưng nói lại, Khái-Hưng đọc mê say một mạch. Và không tìm xin phép tác giả, Khái-Hưng đã trích một khúc rất dài mà đăng trong tờ tuần báo Chính nghĩa lúc ấy được Khái-Hưng coi sóc việc biên tập. Khúc ấy tựa đề là “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca“. Những độc giả cũ của Chính nghĩa chắc có nhiều người còn nhớ bài ấy. Lúc ấy, tôi đã viết ít nhiều sách phổ thông, song chưa sáng tác gì về văn nghệ, nay được một nhà văn có tên tuổi là Khái-Hưng để ý đến như vậy, tôi không khỏi có chút vui mừng.

Mấy tháng sau, Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà sách Minh Đức tổ chức những cuộc gặp gỡ hàng tuần giữa những nhà văn “không xếp hàng” tức là không ở trong Văn Hóa Cứu Quốc của Việt minh, thôi nhóm Hàn Thuyên, và thôi Tự Lực Văn Đoàn… Những người đầu tiên được mời là Tú Mỡ, Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Phạm Ngọc Khuê và tôi. Sau đó có thêm Phan Khôi, Đồ Phồn. Thỉnh thoảng có cả Vi Huyền Đắc…

Sau ba bốn lần hội, thình lình có Khái Hưng đến, có ý trách chúng tôi sao không mời anh, vì mặc dầu điều khiển tờ nhựt báo Việt Nam và tờ tuần báo Chính Nghĩa, cả hai toàn là cơ quan của V.N.Q.D.Đ., song ấy vì tình bạn với anh Tam mà làm, chớ bản thân của anh là một người “không xếp hàng” trong mặt trận văn hóa. Chúng tôi công nhận anh ngay vào nhóm. Và chiều thứ bảy nào, anh cũng đến dự buổi ăn chung. Khác có điều là vào mười hai giờ khuya, anh phải về lo bài cho báo. Chúng tôi thì ở lại, thức cả đêm để trao đổi cái thú vui của văn nghệ.


Khái-Hưng hiền lành, ít nói, hay cười, chớ không nghịch như Đoàn Phú Tứ, ranh mãnh như Nguyễn Tuân. Ăn xong, chúng tôi tự do, hoặc tụ một nơi, hoặc nhóm thành vài ba nhóm nhỏ. Có khi hai người muốn thân mật thì kéo nhau vào một phòng riêng mà tâm sự. Tú Mỡ và Nguyễn Xuân Khoát thích hát chèo, thì ngồi ngay dưới gạch, tay vỗ lên gạch lấy nhịp mà cùng hát. Nguyễn Tuân bữa nào cũng say, hết bên nhóm nầy, thì đến nghe chuyện của nhóm khác.

Khái-Hưng trầm tĩnh, tò mò và sâu sắc hơn cả, thường gầy những cuộc nói chuyện tay đôi với tôi để truy tôi về những gì mà tôi đã viết trong Muốn làm chánh trị. Về sau anh thú nhận: những bạn khác thảy là người quen lâu rồi và anh đến đây để hiểu rõ tôi hơn.

Điều mà anh thắc mắc hơn cả là tôi có nhiều ý kiến khác thường về cuộc tranh biện sôi nổi, vào những năm 1935, 1936, đối lập bên này là Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư, bên kia là hầu hết những cây bút có tiếng của phái mác xít, thì tại sao, lúc ấy là một lý thuyết gia của Đệ Tứ, tôi lại không tham chiến?

Tôi nhắc lại vấn đề nầy, bởi vì gần đây, ở Pháp, vừa diễn ra cuộc tranh biện giữa một bên là J. P. Sartre, một bên là những chiến sĩ của “tiểu thuyết mới”. J.P.Sartre phân biệt người “écivant” và nguồn “écrivain“. Thật ra danh từ thì mới, song ý niệm vốn có nguồn gốc nơi hai phái, l’art pour la viel’art pour l’art đã rạch ranh giới giữa hai phái văn sĩ có tiếng vào nửa thế kỷ sau của thế kỷ mười chín.


Tôi đáp lại rằng, theo tôi thấy, thì có ba loại văn nghệ chớ không phải là hai. Nhưng trong hoàn cảnh năm 1935, đặt vấn đề có ba mà không phải có hai là sớm quá, làm loạn tư tưởng của công chúng, chớ không giúp họ tiến thêm; vì vậy mà tôi nín.

H. – Bây giờ anh có thể nói thêm được chưa?

Đ. – Được. Sau gần một năm cách mạng, nói ra, ai cũng thấy rõ. Ba thứ văn nghệ ấy là: một là văn nghệ du hí, hai là văn nghệ ca tụng, ba là văn nghệ sáng giá. Vào thời bình hay thời phản cách mạng, hai thứ văn nghệ trước phồn thịnh hơn. Nhà văn viết để chơi, mà công chúng cũng thích loại văn ấy. Thứ văn nghệ du hí nầy là cả cái hệ thống nghệ thuật vị nghệ thuật… Có nhà văn viết để ca tụng, nịnh nọt, hoặc nịnh nọt chế độ, hoặc nịnh nọt người có quyền, hoặc nịnh nọt thị hiếu suy đồi của độc giả…

H. – Còn cái văn nghệ sáng giá là gì?

Đ. – Sáng là sáng tạo. Giá là giá trị. Một áng văn chương có tánh chất sáng giá là khi nào nó sáng tạo được một giá trị mà vào thời đại đó, được xem là một giá trị mới. Thành ra áng văn chương ấy hướng dẫn tư tưởng con người, dìu dắt lịch sử, lãnh vai trò tiên phong.

H. – Anh thử nêu vài thí dụ xem.

Đ. – Anh vốn biết quyển Nourritures terrestre của A. Gide, xuất bản trước giặc, mà trong mười mấy năm, chỉ bán có hai trăm quyển thôi. Vì nó nêu những giá trị có trước thời đại. Chừng công chúng tiêm nhiễm được thì ai cũng mua đọc. Một thí dụ khác: những tác phẩm của Gorki đã sáng tạo được một tâm hồn cách mạng. Song, cũng ca tụng xã hội chủ nghĩa như Gorki, mà các nhà của phái réalisme socialiste sau nầy không sáng tạo giá trị mới nào cả. Họ chỉ thuộc vào loại văn nghệ ca tụng.

H. – Như vậy, tánh chất của văn nghệ là một tánh chất tương đối, tương đối với vị trí của nó với sự biến đổi lịch sử. Phải không?

Đ. – Phải. Nước ta là một nước lạc hậu. Dân ta phải luôn luôn đi hia bảy dặm mới rượt theo kịp các dân khác. Một văn phái là một huyền-ngưng của một hệ thống giá trị luôn luôn biến đổi…


Lần sau, Khái-Hưng bộc bạch những suy tư mà anh đã có sau khi có cuộc nói chuyện trước. Anh nói:

– Những giá trị mà Tự-lực Văn-đoàn sáng tạo ra, xuyên qua thời cuộc, đã hóa ra lỗi thời. Ngày anh Tam rời văn nghệ để sang làm chánh trị cũng là ngày lịch sử ghi dấu chấm dứt sứ mạng của nhóm. Cuộc cách mạng đã dọn chỗ cho một trào lưu mới về văn nghệ. Bọn Văn-Hóa Cứu-Quốc nay đóng vai trò văn-chương ca tụng để tô điểm tòa kiến trúc mới là chế độ cộng sản. Tôi nghe chừng chúng ta, vì chống báng chế-độ, chúng ta phải sáng tạo những giá trị mới, làm một thứ “văn-chương sáng giá” như lời của anh. Phải có giá trị mới mới thắng họ được. Chớ lấy giá trị cũ mà chống họ, không nổi. Tôi hiểu tại sao anh rời bỏ Đệ Tứ. Còn ôm ấp giá trị giống với giá trị của họ, Đệ Tứ là thiểu số, làm sao chống lại số đông là họ. Phải có bửu bối hay hơn họ, mới thắng họ nổi. Tôi đã đăng bài “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca” vì thấy nó có duyên, pha một ý nghĩ hay hay. Bây giờ tôi mới hiểu tất cả giá-trị tượng-trưng của đoạn văn ấy.

Từ đó, Khái-Hưng và tôi hóa ra kẻ tri âm. Khái-Hưng rủ tôi cộng tác viết tiểu thuyết, cốt chuyện, triết lý do tôi xây dựng, Khái-Hưng lãnh phần trình bày cho có nghệ thuật. Tôi có xây dựng một ít nhân vật, phác một cốt chuyện, đặt tên tiểu thuyết là Gái nước Nam làm gì? trong tạp chí Tiên-Phong của Hội Văn-Hóa Cứu-Quốc, nhà xuất-bản Minh-Đức đã cho quảng cáo rầm rộ tên quyển tiểu thuyết này, gọi là để cấm ranh mà khẩn đất… Sau nầy về Nam, để tưởng nhớ Khái-Hưng, tôi thử viết để tả một vài nhân vật mà tôi đã xây dựng. Rồi dưới cái nhãn hiệu chung là Gái nước Nam làm gì? tôi đã trình bày được hai nhân vật là Thu Hương và Chị Tập. Sự ướm thử nầy để cho tôi thấy là tôi không có tài viết tiểu thuyết, nên tôi không nối tiếp nữa.

Khái-Hưng già hơn tôi, song say mê, hăng hái, kiên quyết hơn tôi nhiều. Sau khi đình bản tờ Việt Nam, anh chạy vốn, mướn nhà, mua giấy… để cho ra một tuần báo văn nghệ hầu đề cao cái “văn chương sáng giá”. Chúng tôi đồng ý chọn tên là Thời Phong.

Thời Phong có nghĩa là gió mùa, gió mùa ngự trị cả Á-châu, là nơi chôn nhau cắt rún của các tôn giáo lớn. Thời phong có nghĩa là cái chỉ hướng gió. Hiểu một cách khinh miệt, thì nghĩa bóng của tiếng ấy dùng để chỉ bọn luôn luôn hướng theo thời cuộc. Còn hiểu một cách đề cao, thì đó là một dụng cụ giúp cho người vượt biển biết hướng gió mà giương buồm cho đúng phép.

Mười tám năm qua, Khái-Hưng không còn. Chỉ còn cái sự nghiệp khi là đồng trụ của nhóm Tự-lực Văn-đoàn. Còn cái mộng to làm vị nguyên soái của “văn chương sáng giá” thì ô hô, liệu hai quyển Thu Hương Chị Tập có chút giá trị gì miên trường để nhắc nhở lại tên bộ tiểu thuyết trường giang là Gái nước Nam làm gì?

Hồ Hữu Tường
31-X-1964


Photo: HANOI 1946 – Le Petit Lac, manhhai

duong-nghiem-mau-nhan-nghi-ve-khai-hung-1964

Dương Nghiễm Mậu, nhân nghĩ về Khái Hưng (1964)

Bài của Dương Nghiễm Mậu,
đăng trên tạp chí Văn, số 22, ngày 15-11-1964.

Khái-Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái-Hưng, đọc tác-phẩm của Khái-Hưng, tôi lại nghĩ đến điều đó và cùng lúc tôi vẫn muốn biết Khái-Hưng, cùng Tự-lực văn-đoàn, cũng như tất cả những người ở thế hệ Khái-Hưng đã làm cách mạng như thế nào, họ đã nghĩ gì, làm gì. Họ đã hoạt động trong giai đoạn kháng chiến giải phóng dân tộc ra sao?

Tại sao Cộng sản thủ tiêu Khái-Hưng? tôi nhớ câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền. Khái-Hưng đã bị thủ tiêu, điều ấy đã chắc. Hồi còn nhỏ ở Hà-nội, đọc một tờ tuần báo vào khoảng năm 1950 gì đó tôi có được thấy trong một thiên hồi ký, tôi không nhớ tên tác giả, không nhớ rõ tên thiên hồi ký, tôi chỉ nhớ thiên hồi ký mô tả lại những ngày tù tội của các chiến sĩ quốc gia bị V.M. bắt giam, trong thiên hồi ký có một đoạn tác giả cho biết đã gặp Khái-Hưng trong một trại giam ở Việt-Bắc, tác giả cho biết lúc đó Khái-Hưng ốm yếu, bị đi kiết vì bị hành hạ và cuộc sống đày ải của nhà tù, rồi Khái-Hưng chết ở đây, những chiến sĩ quốc gia, những bạn của Khái-Hưng đã đẵn tre làm phên quấn xác Khái-Hưng thay quan tài và an táng trong một khu rừng ở Đại-từ, những điều này tôi nhớ mơ hồ lắm và cùng đó hình như tác giả còn nói ngày Khái-Hưng chết là 17-11, năm 1947. Tôi không nhớ rõ, nhưng trí óc tôi còn mường tượng nên viết ra, nó không nhằm cung cấp chính xác một tài liệu, mà tôi chỉ muốn ghi lại những điều mà trong tâm tưởng tôi hai chữ Khái-Hưng vẫn có lúc nhớ đến.

Trong thời gian làm tờ Văn-Nghệ tại nhà in ở đường Cô Bắc tình cờ tôi được nghe truyện về Khái-Hưng. Người nói chuyện giới thiệu là một người cháu về đằng bà Khái-Hưng, người này nói chính ông đã gặp Khái-Hưng lần cuối vào ngay buổi chiều cán bộ V.M. bắt Khái-Hưng dẫn đi, bọn cán bộ này là một thứ du kích tự vệ xã, Khái-Hưng mặc quần áo thường, mang theo một chiếc chăn dạ màu cứt ngựa, người kể truyện gặp Khái-Hưng ở đầu làng, Khái-Hưng có nét mặt rầu rầu buồn bã mỉm cười và dơ tay chào. Sau đó, người nói chuyện bảo dù rất kín mấy tên du kích đã lộ ra rằng họ bỏ Khái-Hưng vào bao bố đâm chết rồi quăng xuống sông.

Không hiểu ngoài những điều mơ hồ, không có gì làm bằng chứng kia, còn có những điều nào khác được kể về cái chết của Khái-Hưng? Có điều Khái-Hưng đã chết. Khái-Hưng đã chết thực và tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng – theo như ghi chép – để lại cho chúng ta là tác phẩm Băn khoăn, trước khi Khái-Hưng bước vào đoạn đường tranh đấu cách mạng cùng các bạn, cùng toàn dân để giải phóng dân tộc và Khái-Hưng đã chết trong cuộc tranh đấu đó.

Nghĩ về cái chết của Khái-Hưng, cùng lúc tôi nghĩ đến những cái chết khác của các chiến sĩ quốc gia kéo theo sự thất bại của những người quốc gia trong lúc đối đầu với Cộng-sản, tôi muốn tìm hiểu và rút ra từ đó những nguyên nhân đưa đến hoàn cảnh lịch sử đương thời mà với chúng tôi buộc phải có trách nhiệm. Trở về khung cảnh, những hoạt động của sau năm 1901 khi Đông-Kinh Nghĩa-thục phải ngưng hoạt động, sau năm 1924 chiến khu Yên-Thế của Hoàng Hoa Thám bị tan, sau năm 1930 Nguyễn Thái Học chết ở Yên-báy, Tự-lực văn-đoàn với Nhất-Linh, Hoàng-Đạo, Khái-Hưng, Thế-Lữ, Thạch-Lam, Tú-Mỡ… hoạt động trên mặt trận báo chí, văn chương không phải chỉ là để làm báo, làm văn chương, mà những công việc của nhóm đã chứng minh rõ, họ chỉ dùng văn chương báo chí để hoạt động cách mạng, hay nói khác đi, nhẹ hơn, đúng hơn dùng văn chương báo chí cho một cuộc vận động cải cách xã hội theo tinh thần Tây-phương. Những gì đã được viết ra trên báo Phong-hóa, báo Ngày-nay, cùng các tác phẩm đã minh chứng điều này. Sau bao nhiêu năm bế môn tỏa cảng, người Tây-học, người trí thức mới của thế hệ 1930 đã nhận thấy sức mạnh của Tây-phương, cụ thể là nền đô hộ của người Pháp, người trí thức mới nhận ra sự bại trận, nô lệ của mình: xã hội ta lạc hậu, tinh thần Nho-giáo suy đồi, hủ lậu, dân ta cực khổ thất học, với quá nhiều tệ đoan, mê tín. Họ thấy rõ muốn thoát cảnh lệ thuộc trước hết phải nâng cao dân trí, cải cách xã hội. Và họ đã làm. Các tác phẩm văn chương của Tự-Lực Văn-đoàn đã đóng một vai trò lớn trong công việc này: mô tả tranh chấp mới cũ, đề cao đời sống mới. Trên căn bản chấp nhận tinh thần tự do, dân quyền của những nhà tư tưởng đã làm thành cuộc cách mạng tư sản 1789 của Pháp. Lý thuyết gia chỉ đạo của T.L.V.Đ là Hoàng-Đạo đã viết: Mười điều tâm niệm, Nhất-Linh đã viết Đoạn tuyệt, Khái-Hưng đã viết Nửa chừng xuân. Trên phương diện xã hội đã đưa ra phong trào Ánh Sáng. Sau cùng Tự-Lực văn-đoàn thành đảng Hưng Việt hoạt động cách mạng, kéo liền theo đó, Khái-Hưng chết, Nhất-Linh bỏ ghế bộ trưởng chạy sang Tầu, Hoàng-Đạo chết ở Tầu, Tú Mỡ, Thế Lữ ở lại với Cộng-sản, còn một mình Nhất-Linh bơ vơ, lạc lõng ở miền Nam đề cao văn chương vượt thời gian, và với chính bản thân chọn cái chết chống lại chế độ ngô Đình Diệm.

Suốt một lịch sử kéo dài ba mươi năm, trong đó liên tiếp 20 năm chiến tranh trên quê hương chúng ta, nếu đổ tội cho cái vận nước mình khốn khổ, khốn nạn thì không nói làm gì nữa, nhưng nếu nói đến trách nhiệm của những ai tự nhận như một chiến sỹ quốc gia thì chúng ta phải nhận chúng ta đã thua, chúng ta phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc với hiện tình, và từ đó phải nhận định: từ những vận động của thế hệ 1930, qua cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đến nay, cuộc cách mạng phải có của chúng ta vẫn chưa chấm dứt, vì chúng ta vẫn chưa có một mẫu người mới, một xã hội mới được xây dựng trên một ý thức hệ việt mới. Có phải tôi đã nói lông bông lang bang, vì tôi đang viết những gì về Khái-Hưng không? có thể phải, mà cũng có thể không vì tôi đã nghĩ đến nó khi nhớ lại những điều Khái-Hưng đã viết, và cái chết của Khái-Hưng để lại cho tôi. Và vì tôi, chính tôi, đang có những vấn đề đặt ra: văn chương với xã hội, văn chương với cách mạng, sự liên hệ người cầm bút với xã hội, quê hương và nhất nữa khi đặt mình là nhà văn tôi phải làm gì? có văn chương nghệ thuật thuần túy không?

Trong số các tác phẩm của Khái-Hưng, cuốn được ghi cuối cùng là Băn khoăn, cuốn sách hình như đã được viết ngay vào lúc đầu những hoạt động cách mạng của tác giả cùng lúc với Nhất-Linh viết cuốn Bướm-trắng. Tôi vẫn tự hỏi: tại sao giữa tác phẩm và đời sống tác giả lại không có một chút liên hệ nào như vậy. Tại sao Nhất-Linh và Khái-Hưng lại viết được hai tác phẩm thuần túy như thế vào giữa lúc họ bắt đầu hoạt động cách mạng. Có thực Băn khoăn Bướm trắng đã được viết lúc ấy hay đã viết từ trước mà mãi lúc đó mới in ra?

Hơn nữa Nhất-Linh đã viết Đôi Bạn, và tôi nhớ có đọc được một vài số báo nào đó Khái-Hưng viết truyện Xiềng xích rõ ràng là những tác phẩm liên can mật thiết đến tư tưởng và đời sống tác giả trong xã hội đương thời ấy.

Có hai tác phẩm của Khái-Hưng tôi lưu giữ mà với chủ quan tôi cho là quan trọng và giá trị là Tiêu-sơn tráng-sĩBăn khoăn. Cuốn trên tôi thích có lẽ một phần vì nhân vật Phạm Thái, một nhân vật vừa là chiến sĩ, vừa là tu sĩ, vừa là nghệ sĩ mà Khái-Hưng đã làm sống lại được, còn cuốn sau, tôi cho đó là một tiểu thuyết rất mới của thời đó, và cho đến bây giờ nữa về nội dung đã cho tôi một phần nào lý do sự thất bại của những trí thức mới trong giai đoạn lịch sử vừa qua.

Băn khoăn của Khái-Hưng muốn nói là “băn khoăn” của ai? của Cảnh chăng? cậu sinh viên trường luật học giỏi đã hai mươi nhăm tuổi đang yên ổn học hành… nhưng sang năm thứ ba một hôm chợt lởn vởn trong đầu chàng câu hỏi: “Học để làm gì? và đỗ để làm gì?” Rồi câu hỏi trở thành ám ảnh dòng dã hàng tháng, ám ảnh kỳ cho tới khi nẩy ra câu trả lời mới thôi. Câu trả lời ấy là: “Học để chẳng làm gì ráo. Đỗ cũng chẳng ích lợi gì cho chàng, cho tương lai của chàng.” Rồi chàng lý luận ầm ỹ trong thâm tâm để tìm ra nguyên tắc, quan niệm, ý nghĩa của sự sống, của đời mình. Luận lý cho tới lúc đến một kết cục chán nản, đau đớn. Sống không mục đích, đời là vô vị (1) Cảnh không học nữa, và bắt đầu một cuộc phiêu lưu, dấn mình vào đời sống chơi bời. “Muốn thì được” Cảnh thường nói. Mà khi người ta giàu như Cảnh thì người ta lại càng dễ được cái người ta muốn. Vì thế mà ngay đêm hôm ấy Cảnh đã trở nên tình nhân người yêu của bạn. Khi đã phạm tội, hai người ngỏ với nhau những ý riêng của mình rồi ôm nhau cười ngất.

Liên bảo Cảnh:

– Đối với bọn chúng ta chả còn cái gì chúng ta cho là thiêng liêng nữa.

Cảnh lạnh lùng:

– Rõ em khéo nói kiểu cách!… Và ở cái thời khoa học này, đến thần thánh cũng đã mất hết thiêng liêng đối với lòng tín ngưỡng thành kính của người đời, thì còn cái gì đáng gọi là thiêng liêng nữa. Họa chăng chỉ có cái tính xác thịt, cái thú vui hiện tại đáng gọi là thiêng liêng cho một cái gì” (2) Rồi Cảnh yêu Lan Hương rồi yêu Hảo, ăn chơi, đánh bạc, bán cả nhà của bố cho, sau chót bỏ đi, đi đâu, phải chăng đó là cái “băn khoăn” Khái-Hưng muốn nói?

Hay cái “băn khoăn” đó là cái “băn khoăn của ông Thanh Đức, xuất thân từ một gia đình buôn bán, cai thầu, kinh doanh, và ông đi theo con đường ấy, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, đến mỏ, đến đồn điền, cho ngay tới khi đang đánh bạc với một người tình mà ông say đắm theo đuổi nghe nói đến cơ hội làm giàu cũng rủ áo đứng lên ngay. Hoằng, người đang ngồi cùng chiếu bạc đã phê phán: “Kim tiền! Trời ơi! Kim tiền! Kim tiền làm cho người ta quên hết ghét, yêu, thù, tức để chỉ nghĩ đến nó, chỉ nhớ đến nó, chỉ chạy theo một nó. Kim tiền vạn tuế!… Sống mãi trong cái xã hội này, thì một ngày kia tôi điên thật.” (3) Chừng như với ông Thanh Đức tiền có thể mua được tất, mua người này một đêm, mua người khác một đêm, mua nhà, mua mỏ, mua nhân nghĩa danh vọng. Như vậy, ông Thanh-Đức “băn khoăn” cái gì, “băn khoăn” vì không lấy được Hảo chăng?

Hay cái “băn khoăn” đó là “băn khoăn” của Hảo, con gái độc nhất của bà án, giàu có, trẻ đẹp, 20 tuổi, sống một cuộc đời nhung lụa với bên cạnh vô số bậc thượng lưu trí thức, vô số thanh niên tân học tán tỉnh, một người mà bố con Thanh Đức cùng yêu, cùng muốn chiếm đoạt mà cuối cùng lại lấy một người khác. Phải chăng “băn khoăn” bày tỏ tâm trạng lưỡng lự khi lựa chọn trước vô số người trước mặt mình của Hảo?

Ba nhân vật Cảnh, ông Thanh Đức, cô Hảo là chính trong câu chuyện “băn khoăn” của Khái-Hưng. Thời gian của tác phẩm ngắn ngủi, khởi đầu từ lúc có tin ông Thanh-Đức muốn tục huyền cho tới khi cô Hảo, người con gái mà ông Thanh-Đức theo đuổi, báo tin lấy ông huyện Tô thì chấm dứt.

Khung cảnh xã hội “một đời nhiễu loạn, vô gia đình giáo dục, vô gia đình luân lý” (4), đưa thanh niên đến nhận định “sinh ra ở đời để mà sung sướng, để mà thỏa mãn, chớ không phải để khổ sở, để than phiền, hay để theo đuổi một mục đích viển vông nào” (5). Khung cảnh của một xã hội thượng lưu với rượu, với cà phê rum ngây ngất, với những canh bạc không nghĩ đến ăn thua, với một phút quyết định đã đủ phương tiện để rời Hà-nội đi Sầm-sơn tắm biển, rồi từ Sầm-sơn đi Hải-phòng coi chớp bóng, ngủ với gái, với sinh viên luật thấy chẳng cần phải thi đỗ, với bác sĩ có bịnh viện giao cho người phụ trông nom, với những cô gái mà tất cả các bạn đều là tình nhân chung chăn chung gối, chán người này đổi người khác, một xã hội, mà ngay trong đó đã có người phán xét… “thấy đám thanh niên sống không mục đích, hay với mục đích độc nhất là sự chơi bời phóng đãng thì em ghê sợ… cho họ quá, và tiếc cho họ nữa… Những bực thanh niên trí thức như anh Đoan em mà chịu làm việc, làm việc với lòng tín ngưỡng thì… hay biết bao, có ích cho đồng bào biết bao?” (6)

Những nhà luân lý đã từng nói đến những truyện của Sagan thời hậu chiến vô luân, mà có ai nhớ đến rằng, chính đời sống vô luân, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh đề cao thú vui xác thịt đã có trong tác phẩm Khái-Hưng từ thời tiền chiến, ở Việt-Nam.

Trình bày câu truyện Băn khoăn của Khái-Hưng tới đây, tôi ngưng lại để trở về nhận định tôi đã đưa ra: vì sao người trí thức Tây-học đã thất bại trong giai đoạn vừa qua khi lãnh đạo tranh đấu.

Lớp trí thức mới sinh ra sau khi tinh thần Văn-Thân khởi nghĩa đã hết, sau khi lớp trí thức Nho-học đã tàn, và người Pháp đã mang văn hóa Tây-phương vào đào tạo một lớp người mới. Từ tình thế lụn bại của tinh thần quốc gia đó, người trí thức Tây-học chạy theo ngay, hạ bệ cái cũ một cách tàn tệ, kịch liệt, và cái mới chói lòa trước mắt làm họ không nhìn thấy gì nữa. Họ du nhập đơn phương, không lựa lọc, không nhìn chính vào mình. Họ lên án nhà Nho câu nệ khuôn bó theo Khổng-học, thì chính họ lại bước theo con đường đó để đến với Tây học, và tạo ra một lớp trí thức mất gốc, rơi vào cái thực trạng mà cuốn Băn khoăn của Khái-Hưng đã phản ảnh. Với lớp người như thế, với tư tưởng như thế, họ làm sao không thất bại, phải chăng, đó chính là điều “băn khoăn” của Khái-Hưng?

Lỗi lầm của lớp trí thức Tây-học từ ngay lúc đầu đã gây ra, đưa đến hiện trạng này, và ngày nay, lớp thanh niên mới, với bài học cũ của lịch sử, đã nhận ra chưa trách nhiệm của mình, công việc của mình từ ngay trên căn bản tư tưởng trong cuộc dấn thân mà họ phải thực hiện. Hay họ đang tiếp tục đi trên con đường mòn nối dài khi xưa mà họ cố tình làm ngơ như không biết?

Nhưng tôi vẫn tự hỏi: vì sao giữa lúc bước chân vào cuộc tranh đấu cách mạng mà Khái-Hưng lại viết được Băn khoăn? Không hề có ảnh hưởng giữa đời sống và tư tưởng tác giả với tác phẩm sao?

Dương Nghiễm Mậu
11-1964


  1. Băn khoăn, Khái-Hưng, bản in lần thứ ba, Phượng-Giang, Sài-gòn, 1958, trang 16.
  2. Sách đã dẫn, trang 44 
  3. Sách đã dẫn, trang 268.
  4. Sách đã dẫn, trang 13
  5. Sách đã dẫn, trang 50
  6. Sách đã dẫn, trang 86
good-heart-khai-hung

Good heart, Khái Hưng

A short story by Khái Hưng,
translated by James Banerian

Nhan climbed out of the family car, a leather briefcase under his arm. He turned toward the edge of the field, then followed the narrow path between two sparse rows of bamboo dotted with golden leaves.

Here and there along the way he turned to ask the servant coming with him, “Are we close?”

“Not too far, sir.”

Nhan was a former university student. First he had studied at the medical school, but twice he failed in his pre-med exams. Frustrated, he gave up medicine for law and wasted two more years of effort. To say he wasted his time studying would be a bit of an exaggeration. In fact, he did little studying at all. Only as the test dates approached did he open his law books and his appearance at the examinations was more for form’s sake so that his parents could not claim that he was using his education money to go carousing in Hanoi.

His father, Clerk Phan, had sold government-approved alcohol for nearly twenty years and thus had become the wealthiest man in the area. [1] In all the prefectures and subprefectures around the county seat, rarely did one come upon a place where Clerk Phan did not own some property. Debtors and those who had pawned him their goods numbered in the hundreds, the thousands, and they daily came to see him at home, just as people might go to the mandarin court in the prefect town.

Clerk Phan paid for his son’s education. After eight years of residence at the Albert Sarraut High School, Nhan had received his baccalaureate. The clerk was quite pleased and went all over bragging about his boy. He even held a lavish dinner to celebrate in the village, complete with butchered cow and buffalo. He placed all his hopes in his son. Surely he would see to it that the boy became a mandarin.

But ever since he was a child, Nhan had received the education and training of Europe and the West and had lived with youths of the modern era Consequently, the ideas he developed were liberal and plain, completely contrary to the bourgeois, narrow and deficient ideas of his parents. After two months of insistent begging and pleading for permission from them to enter medical school, he gained their approval. He was happier than the day he passed his baccalaureate. Not because he wanted to study medicine or felt that curing the sick was a finer vocation than any other. Rather, Nhan simply wished to rebel against the wishes of his parents, who he felt were stubborn and incorrigible.

When Nhan quit medical school for law, it was his father’s turn to be happy. Clerk Phan believed it was the hand of Heaven acting and from then on his son would enter a political career and gain renown for his family and village.

But after forcing his son to follow his own grand aspirations and expending nearly 10,000 piasters while not seeing even a ray of hope, the clerk regretted his losses and began to think his family did not have what it took to make an official. As for Nhan, he simply grew weary of both study and horseplay. Eventually he returned home to live with his parents.

In time he became imbued with the habits of those who lived around him. After a couple of years, there was nothing left of his education and Western learning. His liberal and plain thoughts, when set in a traditional environment, diminished, changing so much that eventually they disappeared entirely.

Now Nhan was no longer concerned about his search for the truth. He no longer winced as he witnessed the inhumane actions of his parents or felt troubled in the soul as he once had.

Two years before, when he began keeping the books and overseeing his father’s business, not a day went by when Nhan did not cause a disturbance or quarrel in the family. Watching his father lend at an outrageous interest rate and cheat the poor who came to pawn their property, Nhan made many suggestions, and when that proved futile, he raised his voice.

Ah, but in only two years he was already a totally different man, from his character to the way he lived and acted. His wife, a loose girl from Hanoi he had married for her looks, was cultivated by her environment until she became frugal, fat and slovenly, her looks fading, her clothes a combination of city and rustic styles. But Nhan did not notice these changes in his wife and he forgot how just five years before this woman had utterly captivated him. Now he seemed not a bit captivated with anything, but rather, indifferent to all that happened, so much so that he no longer cared to distinguish between good and evil, and he often committed offenses which previously he would never have allowed his father to perform.

Noticing his son’s change in character, Clerk Phan beamed.

“You thought his schooling was so rough,” he said to his wife. “But now he’s learned and achieved something. He ought to find business a snap!”

From then on, Clerk Phan placed his confidence in his son. For any difficult task that could not be trusted to his servants, the clerk called on “Uncle Number 4.” And receiving his parents’ praise and flattery, Nhan went further down the road that his father had traveled blindly for twenty years of his adult life. Oh, a couple of times those liberal, free and easy thoughts from days gone by flashed into Nhan’s mind, but they soon dissipated in the practical realities of doing a job and making a living.

One day Clerk Phan sent his son to collect alcohol money at a small shop. He had already given the job to a servant, but two trips had brought no results. He said to Nhan, “I have to rely on you to get it done. Demand the debt of 200 piasters for your father. If they don’t have the money, then make them sign a deed selling their land to us cheap. That’s all I don’t have to tell you. You’ll do what needs to be done”.

Nhan assented and left Going to the alcohol shop in the county seat and finding out that the manager was gone, he told the driver to take him straight to the man’s village.

***

Three mottled dogs ran out barking. They came at the heels of a man in his forties, with a gaunt face, pale complexion, and sunken eyes, looking every bit like a debtor whose time had come when he had no way to come up with the money.

Meeting Nhan so suddenly, the man’s face paled even more. In all those parts, who did not know the notorious reputation of Clerk Phan’s son? Nevertheless, the man forced a smile and invited Nhan into his home.

Without malice, Nhan spoke easily and curtly.

“I’ve come to collect the alcohol money.”

The debtors face contorted as he described to Nhan his family’s predicament- their girl was ill, they had just been robbed of more than 100 piasters… His wife stepped in from the next room, weeping and entreating.

Meanwhile, Nhan’s eyes coldly and aimlessly wandered to the family’s bamboo bed with brown curtain, old and patched with pieces of Western cloth, a wobbly table and two long bamboo chairs eaten away in places by termites. The stink of the curtain, the musty odor of the damp ground, and the smell of smoke from the kitchen did not cause Nhan to frown in disgust If he had been in this circumstance two years earlier, he would have shut his nose and run away, troubled about the poverty and squalid lifestyle of the peasants. Today as he looked around, he was used to it all.

Waiting until the couple had finished speaking, Nhan politely repeated his first statement

“I’ve come to collect the alcohol money.”

Then he continued.

“Five hundred was borrowed, less 300 in security, leaves 200.”

In distress, the man and his wife begged and explained once more. Nhan remained unmoved. More than that, he did not seem to hear anything, his eyes cold and lips twitching in a sneer.

“If you don’t have the money, then write up a contract to sell your estate. Here’s the paper. Write it out and I’ll take it to the mayor and get it notarized. Once the contract is finished, tomorrow you will have alcohol to sell.”

Realizing that they could not move Nhan’s heart of stone, the couple looked at each other and streams of tears flowed from their eyes. These tears were sincere and spontaneous, not forced to implore the compassion of their creditor. Suddenly from behind the brown curtain came the sound of weeping and the cry of a girl awakened abruptly in fright The mother ran over to the bed and held the child in her arms.

“Oh, my! I know you are hungry. My baby is sick!”

“How’s that?” asked Nhan stiffly. “If I leave today empty-handed, it won’t matter. In a couple of days I’ll send the alcohol owner back to confiscate your house and fields.”

The seller’s face fell.

“I beg you, sir. Have pity- “

“Pity?” Nhan interrupted him. “I pity no one”

Then he jumped to his feet and stormed out of the house.

The man and his wife, still holding the child in her arms, followed him outside pleading.

At that moment, a girl appeared at the gate. She had a pleasant, rosy face topped by a silk scarf, her form comely and well-proportioned in a country dress of four pieces dyed brown.

Nhan stopped in his tracks and looked at her. The pretty looks and youth of the country girl awakened in him the feelings and sentiments of the past All at once Nhan saw the sordidness, the degradation and the pettiness of the world in which he was living.

The girl bowed shyly, her cheeks flushed.

“How is it, daughter?” asked the alcohol seller.

“How is it, Nam?” echoed his wife.

The girl, Nam, twisted the long trailing ribbons of her bodice, moving them from one hand to the other as she answered softly.

“She said it’s not ready yet.”

Nhan looked at all three and asked the mother, “Your daughter?”

“Yes,” the woman replied. “My oldest This year she’s 18….”

Then she stared at her husband in silence. The man’s face appeared thoughtful.

“Nam can stay out here,” he told his wife. “I need you inside for a moment.”

The two passed through the gate, leaving their daughter alone in the yard with their creditor’s son.

Nhan fixed his eyes on the girl and did not notice that the others had gone Seeing that Nam wanted to run away, he called to her.

“Say there!”

He stood there quietly, smiling. She turned her face away in shame.

“Where have you been, Nam?”

Perhaps the girl suddenly thought she could save her parents, for she looked up with a smile and answered boldly.

“Sir, I went to borrow money for my mama and papa, but it was no good.”

Then Nhan remembered the debt and the man and his wife He looked around anxiously.

“Where are your parents?”

“Sir, they left.”

Nhan was startled as he realized how they were using their pretty daughter to try and influence him. And in an instant he saw the abhorent cruelty of the man who owed a debt along with the disgusting pettiness of the man to whom it was owed.

Coldly, he opened his briefcase and handed Nam a note for the debt payment and a permit to purchase alcohol from his house. Then he hurried back to his car.


[1] During the French occupation, the colonial government oversaw a monopoly on opium, alcohol and salt- two forced vices and one dire necessity of the colonized people.

Photo: Réunion de Femmes by Joseph Inguimberty 

monk-tue-1939-khai-hung

Monk Tue (1939), Khái Hưng

This is a short story by Khái Hưng,
published on Ngày Nay, issue 182, 7th Oct 1939
Translation by James Banerian

All at once Ham Pagoda had become famous. Not because it was situated on a wonderful site or at a famous landmark. It was, in fact, merely an ordinary newly-built temple in a remote village by the sea. There was nothing unique about it to make one stand up and take notice, whether for its architecture or aesthetic value.

But Ham Pagoda was famous for its monk, Tue. This pious individual was a young man past thirty, athletic of build and handsome of face. Just glancing at him, one could tell that he did not belong to the class of ascetics, who ate only red rice and pickled vegetables all their lives. Broad and even shoulders, a hearty chest beneath his thin brown robe, plump cheeks, ruddy complexion, lips so red they looked made up, eyes clear and sharp – these were the marks of a life full and leisured, and even happy.

Yet this outward appearance did not dampen or diminish the monk’s devout life. His fame spread far and wide, across all the provinces of the central region and even to the North. [1]

Many travelers going to Hue would stop along the way to visit Ham Pagoda to meet the man who rumor had it was very enlightened. And returning North, they would be full of praise for the faithful monk, with regards to both his austere lifestyle and his book learning.

Austere was his life, and tourists who came to the temple found Monk Tue working in his garden, a small pleasant-looking garden that he himself had designed and his own hands cultivated after he had personally chosen the flowers to be planted. When the monk was first assigned to the Superior of Ham Pagoda, it had been only a vegetable garden, every year growing the same thing. It was the new monk who felt that before the door to Buddha one should not plant those things which are fertilized by unclean substances. For this reason, the monk turned it into a flower garden. As visitors passed the temple gate each day, they had to stop and gaze on the fringes of the fine green “fairy’s hair” surrounding plots of ground shaped round, square, half-moon, five- or six-pointed star, within which grew uniformly flowers of “cinnamon rose,” white rose, the “ten thousand years” and “one hundred days” trees, clumps of “tiger hide,” “panther hide,” “crimson flower” and bo trees. The flower garden was a thing new and strange to the village of Ham…. and a source of pride to Ham Pagoda. Whether in the cold or the hot season, every day one would meet the monk in his garden, digging the soil or watering the plants with a metal watering can that the monk himself had gone to buy in the city. And who was not moved to see him sitting in the hot broiling sun of the fifth and sixth lunar months, feet bare, upon his head a three-layer conical hat, or standing for hours in the chilling rain of the twelfth and first months digging the earth around the roots of his roses in full bloom?

As to the education of Monk Tue, well, that was a source of clamorous notoriety for Ham Pagoda The extent of that erudite learning no one could say! People only knew that beside the Buddhist scriptures in Chinese characters, the monk as well read numerous volumes of investigatory literature concerning the religion written in French and English. His library, you might say, was a jumble of Eastern and Western thought. On the shelves one would discover such names as Oldenberg and Davids standing right beside the famous Asian scholars of Buddhism. Uncounted numbers of visitors came to that library, in a well-lit thatch hut with glass windows on all four walls, to hold discussions with the monk at his wooden desk covered with books and periodicals weighted down by snail shells big and small and of all colors. But rarely did the monk speak about Buddhism, perhaps thinking people knew nothing about the subject and were not worthy of his discoursing on it. Despite that, the monk was always happy to respond to visitors both respectfully and modestly. His speech was smooth and coherent, almost as if he were preaching from a prepared set of notes. But if one should happen to drop in a line or find fault with some idea, the monk would fall quiet and listen and watch attentively, as if taking in precious words while he waited for his opposite to finish the thought. Never did he interrupt or smile in silent response to a mistaken opinion. He remained always serious- even when he smiled, revealing a set of white shining teeth, that smile, too, was grave and frank.

In general, the monk retained a composed appearance – not the arrogant composure of those who set themselves above others, but the natural composure of an unassuming soul.

And in addition to his virtues of austerity and erudition, a third shining mark of this holy man was his love of physical exercise. He was quite disciplined in the movement of body and limbs. That was surely the reason he was so hearty and handsome. Morning and evening you might see him taking a few turns on the brick road on his bicycle. In the beginning that bicycle had been the butt of violent ridicule from his neighbors. But after a while, people grew used to it. Besides, when the sweet name of the monk traveled in all directions, then every gesture, every movement – including his bicycle riding – became extolled and revered by the people. Then the bicycle was mentioned alongside the various strange things of the strange holy man, placed on the same level as the shelves of religious books in English and French.

Truly, the sobriquet “the bicycle monk” was more often spoken and easier to identify than “the Western monk” or “the modern monk.” In some counties of the North and Central regions, if you said “the bicycle monk” everyone would know at once that you were talking about Monk Tue of Ham Pagoda.

Need I say that Monk Tue was a Western scholar? Naturally he did not set out to become a novice from the time his little boy’s head was shaved, all but for a pronounced tuft of hair, as did the majority of religious aspirants. Monk Tue had only become familiar with the lofty and esoteric path within the past six years. But it was not true that as a result of this he did not grasp his religion as profoundly as his fellow monks. On the contrary, with his wide learning, his intelligence and especially his faith, Monk Tue could justifiably feel secure in saying that among the devout in Vietnam, hardly a soul had achieved his degree of religious practice. That faith was the most important and difficult aspiration of any monk, 100 or 1,000 times more difficult than attaining a profound learning. Without that belief, a person cannot comprehend religion. It was for this reason that Monk Tue did not wish to argue Buddhism with his curious visitors, no matter how well-versed they might be in the study of the religion. “People understand religion from the heart rather than from the brain,” he used to say. And he would go on, “The greatest thoughts of Mankind emanated more from an ardent love of Mankind than from minds full of big learning.”

Monk Tue was himself a mind full of learning, while perhaps not “big,” nonetheless quite extensive. After achieving his baccalaureate in literature and being appointed clerk in one province in Central Vietnam, Khanh – the monk’s lay name – continued to pursue his studies diligently and laboriously. Even as a child he knew a little Chinese. He still purchased Chinese books and greeted degree-holding visitors warmly to practice his skill. In only two or three years, because of his expeditious intelligence, he was able to grasp classical Chinese poetry. As for French and English books, he could read them forever without growing weary of them. He loved most books of inquiry and research in the areas of literature, sociology, philosophy and religion. Being unmarried, he could live frugally in order to save money for more books. That was his one interest or hobby in the past. But it made him rather tight with his money. He even dared refuse money to a sick friend out of fear it would have a dilatory effect on his book buying. And those books were his private lover that he would not let fall into the hands of another. He protected them by schemes quite clever and meticulous, such as not cutting the pages of new books and struggling to read in between the undivided sheets so that when a friend asked to borrow the book, he could reply that it was brand-new, and that he himself had not gotten a chance to look at it, so that the friend would go away trusting him since the pages were still folded together.

With a forceful hobby such as that, it was no wonder that Khanh was extreme in his faith in the religion he loved, especially when one considered that he truly enjoyed reading his books on philosophy and theology.

But the two periods of study and religious practice were not joined, as most people thought. Between them came another, middle period, one which prepared him for his life of religious practice. That was the time of love. Khanh loved, and loved madly, just as he had studied madly. But alas! He loved nearly to despair. For the woman Khanh loved was the wife of a good friend whom he did not want to deceive.

Did this woman share his sentiments? Khanh did not once dare ask himself. But to him, her words and gestures were so intimate, so loving, that he never for a moment doubted her heart. He felt the two need not confess their feelings for each other – warm glances, secret smiles, words pregnant with meaning were enough to express their passion.

This went on for some two years. Khanh lived in love and it seized his soul. No longer did he care for his study! His bookshelf remained closed and silent for months. He opened it only to allow others to borrow the books, for now he did not hold them or treasure them as he had before.

If this had gone on, Khanh could have lived forever peacefully in love, platonic and uncommitted. Yet one day in a fit of madness, Khanh bold the woman of his feelings. And to his great anguish, she, too, was in a similar plight; that is, for some time she had been deeply in love with her husband’s friend just as he had been in love with her. If their love had simply been one of burning passion, they would have committed a sin. But their many feelings had had the time, over a year, to simmer well in the minds of two intelligent and thoughtful persons. For this reason, once they understood each other thoroughly, anew sensation rose fiercely in their souls. It was the heart of sacrifice. They would strive to forget each other.

And that was the reason that Khanh joined the monastic order. He wished to go far away from his lover, far into another world. That world, if not the one of the dead, could only be the world of those who shave their heads and follow the Buddha.

In the beginning of his acceptance of the rule, Khanh already felt this third fondness of his life to be stronger than the two previous ones, for he saw that he loved the religion of Buddhism the way he loved books or a woman. But he had not yet learned that religion is more dogmatic than all the sources of human enjoyment. It does not allow you to apply this or that reason to define it for understanding. It forces you to obey it completely. So hard this proved for Khanh – a keen and clever man, whose mind had been transformed by the study of philosophy into a mind of ethics and science! Many times, following the pattern of the old monk, he sat in silent meditation seeking the truth and peace for his soul. But there was no way he could be at peace – he reflected more in the mind than in faith.

He understood at once that he still lacked belief. And he did not hold back as he disciplined himself to attain that faith. He recalled the meaning of a line from Pascal: “One must constantly have the movements of religion and in time one will believe.” Day after day, he carefully, reverently and with all the sincerity he could muster, performed all his tasks at the temple, just like all the others: adhering to a strict diet, reading scriptures, praying to Buddha, making offerings around the table of vegetarian dishes, doing all the things that once he had felt were not appropriate to a great and high religion like Buddhism. He no longer wished to reason, but rather to close his eyes and follow in faith.

After two years, faith came naturally to him. He felt peace, tran-quility and coolness gradually seep into his soul.

Now he suddenly became a devout follower. For three years the elder monk assigned him to a place by himself. The elder hoped Monk Tue would convert the new wave, the wave of Western-educated folk whom he compared to a tree without roots. “A man without religion is like a tree without roots. And one day, his soul shall dry and wither like that tree.” The elder hoped to save their souls, to take them to Nirvana, the place of escape. But that great task no one could accomplish without the aid of a monk who had a modern education and wide learning like Monk Tue. As for Khanh, he had a higher and more distant ideal. That was to reform Buddhism. With a band of young monks he dreamed he would enthusiastically raise the foundations of the mysterious religion that most of the ignorant monks had consists ently lowered and mixed up with the dribble of witchcraft. He believed that sooner or later he would succeed, or if not, after he achieved Nirvana his followers would continue the activities that he had initiated. His faith could not become any stronger, or any more secure. So firm and strong was it that he no longer feared reasoning and argument No ground or cause could ever shake his faith.

Now his faith was not a delusory one, but an enlightened one. Khanh’s mind was always clear and orderly. He thought up a practice he could keep and follow until he achieved his goal. That program was divided into three parts. One part was to work with his hands and discipline the body. He did this because he believed that the greatest and deepest thoughts and truth itself must be extant in a healthy body and wholesome mind. The Buddha had discovered the truth only after having abandoned a religious practice that was too austere. The second part of his program was to study Buddhism in books old and new, Eastern and Western, to expand his learning, to love more the religion he had given his heart to. Thirdly, he would chant and pray so that his mind would be at peace and his soul completely abandoned the noisy and complicated earthly life.

Monk Tue put that program into effect from the moment he returned to Ham Pagoda and he vowed to follow it until he reached his goal.
But one night as he was chanting scriptures, Monk Tue looked up at the altar and suddenly his eyes became fixed on the face of the statue of the Jade Fairy. All at once a whole dim past appeared in the mind of the devout monk. In trepidation, he buried his head in his scriptures and raised his voice, while striking hard the wooden fish [2] to wipe out the images of the past. But the fresh and pleasant face, the keen eyes and deep red lips of the statue caused the monk to recall each feature as if it were drawn upon a page with big letters. The monk shut fast his eyes and recited from memory several pages of scripture, but the pretty face only became more pronounced. And finally, there flashed before him a name in Vietnamese, the name of the woman from long ago.

It was not a person from the realm of the dead returning to be with someone from the living. Rather, a person among the living appeared to one in the world of the dead, the world of religious practice!
The next day, Monk Tue meditated, prayed and contemplated, his thoughts upon the Buddha. But the devout man’s mind was always on the woman, her gentle words and intimate manner.

The monk gave himself up to his flower garden, digging, turning the soil, pulling weeds without stop for one full day to exhaust his body so that his mind would no longer have the strength to think. But that night, he fell asleep and dreamed of the woman from the past.

That woman became almost an obsession, appearing before him day and night like a phantom….

For an entire month he lived in that state, in that invisible prison.
Then one day, without a word, Monk Tue ran away from the temple.

Autumn 1939
Translated from the story SƯ TUỆ.


[1] The Vietnamese refer to three major regions in their country: North, Central and South.
[2] wooden clapper in the shape of a fish struck with a gong during Buddhist prayers