ho-huu-tuong-ve-khai-hung

Hồ Hữu Tường về Khái Hưng

Bài Khái-Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của “văn chương sáng giá” của Hồ Hữu Tường, đăng trên Văn, số 22, năm 1964.


Mười tám năm qua, Khái-Hưng từ giã cõi đời, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Một đôi người biết những việc mà Khái-Hưng và tôi trù liệu vào những tháng chót của năm lịch sử, 1946, càng tiếc hơn nữa. Phỏng cho Khái-Hưng còn sống mười năm nữa thôi, thì tờ báo văn-nghệ Thời Phong, lúc ấy vừa kết thai, sẽ viết những trang gì trong lịch sử văn chương ở nước nầy? Rồi họ giục tôi nhắc lại khoảng đời đó của Khái-Hưng. Để cho những tài hoa hậu sinh nào thích thú thì dẫm bước theo con đường mà tác giả Hồn Bướm Mơ Tiên toan dấn thân vào…

Khái-Hưng tìm làm quen với tôi trước. Lúc ấy, tôi ở Hà-nội, trốn trong một cái phòng, không bước chơn ra ngoài, vì sợ trinh sát Việt-Minh gặp mà nguy cho tánh mạng. Ở trong phòng tôi bị ám ảnh bởi thần chết. Để đánh tan cái ám ảnh ấy, tôi viết. Viết sách phổ thông với mục đích là kiếm tiền để sống. Viết sách tư tưởng không cần xuất bản. Mỗi cuốn sách đều mang một bút hiệu khác nhau. Và với bút hiệu Huân Phong, tôi viết quyển Muốn làm chánh trị, viết để chơi, không cần xuất bản. Quyển nầy được một nhóm nhỏ sinh viên thích, họ chuyền tay nhau mà chép lại mỗi người một bản để giữ làm kỷ niệm và cho người thân yêu đọc mà thôi.

Không biết do ai tọc mạch mà Muốn làm chánh trị lọt vào tay Khái-Hưng. Theo lời của Khái-Hưng nói lại, Khái-Hưng đọc mê say một mạch. Và không tìm xin phép tác giả, Khái-Hưng đã trích một khúc rất dài mà đăng trong tờ tuần báo Chính nghĩa lúc ấy được Khái-Hưng coi sóc việc biên tập. Khúc ấy tựa đề là “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca“. Những độc giả cũ của Chính nghĩa chắc có nhiều người còn nhớ bài ấy. Lúc ấy, tôi đã viết ít nhiều sách phổ thông, song chưa sáng tác gì về văn nghệ, nay được một nhà văn có tên tuổi là Khái-Hưng để ý đến như vậy, tôi không khỏi có chút vui mừng.

Mấy tháng sau, Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà sách Minh Đức tổ chức những cuộc gặp gỡ hàng tuần giữa những nhà văn “không xếp hàng” tức là không ở trong Văn Hóa Cứu Quốc của Việt minh, thôi nhóm Hàn Thuyên, và thôi Tự Lực Văn Đoàn… Những người đầu tiên được mời là Tú Mỡ, Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Phạm Ngọc Khuê và tôi. Sau đó có thêm Phan Khôi, Đồ Phồn. Thỉnh thoảng có cả Vi Huyền Đắc…

Sau ba bốn lần hội, thình lình có Khái Hưng đến, có ý trách chúng tôi sao không mời anh, vì mặc dầu điều khiển tờ nhựt báo Việt Nam và tờ tuần báo Chính Nghĩa, cả hai toàn là cơ quan của V.N.Q.D.Đ., song ấy vì tình bạn với anh Tam mà làm, chớ bản thân của anh là một người “không xếp hàng” trong mặt trận văn hóa. Chúng tôi công nhận anh ngay vào nhóm. Và chiều thứ bảy nào, anh cũng đến dự buổi ăn chung. Khác có điều là vào mười hai giờ khuya, anh phải về lo bài cho báo. Chúng tôi thì ở lại, thức cả đêm để trao đổi cái thú vui của văn nghệ.


Khái-Hưng hiền lành, ít nói, hay cười, chớ không nghịch như Đoàn Phú Tứ, ranh mãnh như Nguyễn Tuân. Ăn xong, chúng tôi tự do, hoặc tụ một nơi, hoặc nhóm thành vài ba nhóm nhỏ. Có khi hai người muốn thân mật thì kéo nhau vào một phòng riêng mà tâm sự. Tú Mỡ và Nguyễn Xuân Khoát thích hát chèo, thì ngồi ngay dưới gạch, tay vỗ lên gạch lấy nhịp mà cùng hát. Nguyễn Tuân bữa nào cũng say, hết bên nhóm nầy, thì đến nghe chuyện của nhóm khác.

Khái-Hưng trầm tĩnh, tò mò và sâu sắc hơn cả, thường gầy những cuộc nói chuyện tay đôi với tôi để truy tôi về những gì mà tôi đã viết trong Muốn làm chánh trị. Về sau anh thú nhận: những bạn khác thảy là người quen lâu rồi và anh đến đây để hiểu rõ tôi hơn.

Điều mà anh thắc mắc hơn cả là tôi có nhiều ý kiến khác thường về cuộc tranh biện sôi nổi, vào những năm 1935, 1936, đối lập bên này là Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư, bên kia là hầu hết những cây bút có tiếng của phái mác xít, thì tại sao, lúc ấy là một lý thuyết gia của Đệ Tứ, tôi lại không tham chiến?

Tôi nhắc lại vấn đề nầy, bởi vì gần đây, ở Pháp, vừa diễn ra cuộc tranh biện giữa một bên là J. P. Sartre, một bên là những chiến sĩ của “tiểu thuyết mới”. J.P.Sartre phân biệt người “écivant” và nguồn “écrivain“. Thật ra danh từ thì mới, song ý niệm vốn có nguồn gốc nơi hai phái, l’art pour la viel’art pour l’art đã rạch ranh giới giữa hai phái văn sĩ có tiếng vào nửa thế kỷ sau của thế kỷ mười chín.


Tôi đáp lại rằng, theo tôi thấy, thì có ba loại văn nghệ chớ không phải là hai. Nhưng trong hoàn cảnh năm 1935, đặt vấn đề có ba mà không phải có hai là sớm quá, làm loạn tư tưởng của công chúng, chớ không giúp họ tiến thêm; vì vậy mà tôi nín.

H. – Bây giờ anh có thể nói thêm được chưa?

Đ. – Được. Sau gần một năm cách mạng, nói ra, ai cũng thấy rõ. Ba thứ văn nghệ ấy là: một là văn nghệ du hí, hai là văn nghệ ca tụng, ba là văn nghệ sáng giá. Vào thời bình hay thời phản cách mạng, hai thứ văn nghệ trước phồn thịnh hơn. Nhà văn viết để chơi, mà công chúng cũng thích loại văn ấy. Thứ văn nghệ du hí nầy là cả cái hệ thống nghệ thuật vị nghệ thuật… Có nhà văn viết để ca tụng, nịnh nọt, hoặc nịnh nọt chế độ, hoặc nịnh nọt người có quyền, hoặc nịnh nọt thị hiếu suy đồi của độc giả…

H. – Còn cái văn nghệ sáng giá là gì?

Đ. – Sáng là sáng tạo. Giá là giá trị. Một áng văn chương có tánh chất sáng giá là khi nào nó sáng tạo được một giá trị mà vào thời đại đó, được xem là một giá trị mới. Thành ra áng văn chương ấy hướng dẫn tư tưởng con người, dìu dắt lịch sử, lãnh vai trò tiên phong.

H. – Anh thử nêu vài thí dụ xem.

Đ. – Anh vốn biết quyển Nourritures terrestre của A. Gide, xuất bản trước giặc, mà trong mười mấy năm, chỉ bán có hai trăm quyển thôi. Vì nó nêu những giá trị có trước thời đại. Chừng công chúng tiêm nhiễm được thì ai cũng mua đọc. Một thí dụ khác: những tác phẩm của Gorki đã sáng tạo được một tâm hồn cách mạng. Song, cũng ca tụng xã hội chủ nghĩa như Gorki, mà các nhà của phái réalisme socialiste sau nầy không sáng tạo giá trị mới nào cả. Họ chỉ thuộc vào loại văn nghệ ca tụng.

H. – Như vậy, tánh chất của văn nghệ là một tánh chất tương đối, tương đối với vị trí của nó với sự biến đổi lịch sử. Phải không?

Đ. – Phải. Nước ta là một nước lạc hậu. Dân ta phải luôn luôn đi hia bảy dặm mới rượt theo kịp các dân khác. Một văn phái là một huyền-ngưng của một hệ thống giá trị luôn luôn biến đổi…


Lần sau, Khái-Hưng bộc bạch những suy tư mà anh đã có sau khi có cuộc nói chuyện trước. Anh nói:

– Những giá trị mà Tự-lực Văn-đoàn sáng tạo ra, xuyên qua thời cuộc, đã hóa ra lỗi thời. Ngày anh Tam rời văn nghệ để sang làm chánh trị cũng là ngày lịch sử ghi dấu chấm dứt sứ mạng của nhóm. Cuộc cách mạng đã dọn chỗ cho một trào lưu mới về văn nghệ. Bọn Văn-Hóa Cứu-Quốc nay đóng vai trò văn-chương ca tụng để tô điểm tòa kiến trúc mới là chế độ cộng sản. Tôi nghe chừng chúng ta, vì chống báng chế-độ, chúng ta phải sáng tạo những giá trị mới, làm một thứ “văn-chương sáng giá” như lời của anh. Phải có giá trị mới mới thắng họ được. Chớ lấy giá trị cũ mà chống họ, không nổi. Tôi hiểu tại sao anh rời bỏ Đệ Tứ. Còn ôm ấp giá trị giống với giá trị của họ, Đệ Tứ là thiểu số, làm sao chống lại số đông là họ. Phải có bửu bối hay hơn họ, mới thắng họ nổi. Tôi đã đăng bài “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca” vì thấy nó có duyên, pha một ý nghĩ hay hay. Bây giờ tôi mới hiểu tất cả giá-trị tượng-trưng của đoạn văn ấy.

Từ đó, Khái-Hưng và tôi hóa ra kẻ tri âm. Khái-Hưng rủ tôi cộng tác viết tiểu thuyết, cốt chuyện, triết lý do tôi xây dựng, Khái-Hưng lãnh phần trình bày cho có nghệ thuật. Tôi có xây dựng một ít nhân vật, phác một cốt chuyện, đặt tên tiểu thuyết là Gái nước Nam làm gì? trong tạp chí Tiên-Phong của Hội Văn-Hóa Cứu-Quốc, nhà xuất-bản Minh-Đức đã cho quảng cáo rầm rộ tên quyển tiểu thuyết này, gọi là để cấm ranh mà khẩn đất… Sau nầy về Nam, để tưởng nhớ Khái-Hưng, tôi thử viết để tả một vài nhân vật mà tôi đã xây dựng. Rồi dưới cái nhãn hiệu chung là Gái nước Nam làm gì? tôi đã trình bày được hai nhân vật là Thu Hương và Chị Tập. Sự ướm thử nầy để cho tôi thấy là tôi không có tài viết tiểu thuyết, nên tôi không nối tiếp nữa.

Khái-Hưng già hơn tôi, song say mê, hăng hái, kiên quyết hơn tôi nhiều. Sau khi đình bản tờ Việt Nam, anh chạy vốn, mướn nhà, mua giấy… để cho ra một tuần báo văn nghệ hầu đề cao cái “văn chương sáng giá”. Chúng tôi đồng ý chọn tên là Thời Phong.

Thời Phong có nghĩa là gió mùa, gió mùa ngự trị cả Á-châu, là nơi chôn nhau cắt rún của các tôn giáo lớn. Thời phong có nghĩa là cái chỉ hướng gió. Hiểu một cách khinh miệt, thì nghĩa bóng của tiếng ấy dùng để chỉ bọn luôn luôn hướng theo thời cuộc. Còn hiểu một cách đề cao, thì đó là một dụng cụ giúp cho người vượt biển biết hướng gió mà giương buồm cho đúng phép.

Mười tám năm qua, Khái-Hưng không còn. Chỉ còn cái sự nghiệp khi là đồng trụ của nhóm Tự-lực Văn-đoàn. Còn cái mộng to làm vị nguyên soái của “văn chương sáng giá” thì ô hô, liệu hai quyển Thu Hương Chị Tập có chút giá trị gì miên trường để nhắc nhở lại tên bộ tiểu thuyết trường giang là Gái nước Nam làm gì?

Hồ Hữu Tường
31-X-1964


Photo: HANOI 1946 – Le Petit Lac, manhhai

ho-huu-tuong-bon-muoi-mot-nam-lam-bao

Hồ Hữu Tường, Bốn mươi mốt năm làm báo – Chương khai diễn

Đánh máy lại phần Chương khai diễn – Khi chưa mọc lông, từ hồi ký Hồ Hữu Tường, Bốn mươi mốt năm làm báo, do Trí Đăng xuất bản, năm 1972.

Tập hồi ký nầy chánh thức khởi từ tháng Năm dương lịch năm 1930, lúc mà con chim non vỗ cánh bay vào làng báo. Nhưng cần nhắc về lắm việc đã xảy ra trước đó. Ít lắm từ đầu năm 1926.

Tôi đã biết đọc báo từ năm 1916. Đọc trong tờ tạp chí rất khô khan của Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác là Nam Phong. Cha mẹ tôi là tá điền của người cậu bà con, nhà gần nhà tôi, và làm hội đồng. Vì cái chức hội đồng ấy, cậu bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy. Nhưng trong nhà chẳng ai thèm đọc. Mỗi tháng, anh trạm thư đem đến một số. Nó liền bị ném vào góc, tha hồ ai muốn dùng cách nào thì dùng.

Đáng lẽ tờ Nam Phong chịu chung số phận với một tờ báo khác, mà tôi quên bẵng tên đi. Nhưng mà, những người đàn bá thấy trong Nam Phong có phần chữ nho, họ bảo là chữ của thánh hiền, không nên làm ô uế, nên tạp chí của Phạm Quỳnh tránh khỏi số phận bị ném vào cầu xí. 

– Thằng Thuộc mầy muốn lấy thì lấy, hai người chị dâu của cậu Sáu tôi cho phép tôi làm chủ tạp chí nầy.

Tôi đem về nhà, nằm lên võng, đưa kẽo kẹt mà đọc những bài khó khăn, chẳng hiểu chi ráo, để mà biết những danh từ lạ. Và để trưa trưa, đọc chán quá, ngủ một giấc ngon lành. Nào có dè Nam Phong gieo vào đầu óc tôi quá nhiều chữ nho, hại tôi mang một chứng bịnh mà Phan Văn Hùm đặt tên là “tân hủ nho” sẽ nói tới sau nầy.

Mãi đến chín năm về sau, vào cuối năm 1925, tôi mới biết thích và mê đọc báo. Tờ báo có cái công ấy là tờ Đông Pháp Thời Báo của ông cựu hội đồng Nguyễn Kim Đính, tức là thân phụ của anh Ngọa Long ngày nay. Và cơ hội làm cho tôi mê tờ báo nầy là vụ án của Phan Bội Châu. Nhà cách mạng tiền bối nầy hoạt động ra sao, xuất ngoại thế nào, tôi chưa hề biết. Ngay đến tên tuổi của cụ, tôi cũng chưa từng nghe. Đùng một cái như tiếng sét nổ bên tai, cả trường trung học Cần Thơ, nay là trường Phan Thanh Giản, được tin cụ bị đưa ra tòa Đề Hình Hà-nội mà xử. Đông Pháp Thời Báo đăng tải vụ án Phan Bội Châu với đủ mọi tình tiết ghi chép mọi câu vấn đáp, đọc qua, tôi thấy lòng tôi sôi nổi vô cùng. Rồi từ đó, ngoài bài tường thuật vụ án, chúng tôi có cảm tình với những bài khác, và trở nên độc giả sốt sắng.

Trong đám độc giả sốt sắng, có anh Trần Thiêm Thới, sau nầy có hợp tác với thi sĩ Đông Hồ mà xuất bản một tạp chí. Anh vóc cao nghều nghệu, và là người Hà-tiên. Chúng tôi đặt tên anh là cây tre Hà-tiên. Sau nầy khi vào làng báo, anh giữ tên ấy và ký là Trúc Hà. Anh Thới đề nghị ra một tờ báo trường. Báo đặt tên là gì nay tôi cũng quên mất. Mỗi tuần xuất bản một số, viết bằng tay, và bai ai nấy viết. Trong bộ biên tập, ngoài anh Trúc Hà, nay còn nhớ có anh Nguyễn Văn Cưng, anh Trần Ngọc Diệp và anh Ung Văn Khiêm. Cái may cho anh Trúc Hà là anh sớm chịu ảnh hưởng của Đông Hồ, nên sáng tác những bài thơ không nhuộm màu sắc chánh trị. Còn cả thảy các mặt khác đều bị ảnh hưởng của tờ Đông Pháp Thời Báo, nên đua nhau mà viết bài nặng mùi ái quốc. Báo hại, sau cuộc tranh đấu, tờ báo lọt vào tay của ban giám đốc, mấy ký giả tí hon bị đuổi hết. Anh Trúc Hà trở về thi thơ của xứ Hà-tiên. Những anh khác bị lôi cuốn vào phong trào Việt-nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, sang qua Tàu, chịu huấn luyện, trở về lãnh đạo cách mạng, bị tù đày…

Nên nhắc trước hết là anh Thạnh Búa. Anh bị đặt tên này bởi khi đá banh, thì cẳng ảnh ngay đơ, bàn chơn giống như lưỡi búa tra vào cáng. Tôi nhớ mãi anh ấy, bởi vì anh có biệt tài viết tiếng Pháp như là một nhà văn Pháp. Thạnh gốc gác ở Long-xuyên, quận Lấp-vò thì phải. Con nhà nghèo lắm. Đi học về còn phải tát ao bắt cá, phát cỏ để giúp cha mẹ. Từ lớp nhứt, ảnh đã học thuộc lòng cuốn từ điển Petit Larousse illustré. Vào trường Cần-thơ, trò chơi của chúng tôi là lật từ điển nầy; đọc một chữ, rồi đố anh đọc hết phần nghĩa lý của chữ đó. Anh đọc không sót một chi tiết. Đến lớp, bài luận văn bằng tiếng Pháp của anh làm cho vị giáo sư Pháp văn, tên là Bizot, ngạc nhiên, không tin rằng ảnh viết hay như vậy, và cứ nghi là ảnh cóp ở sách. Ông Bizot mới ra đề, bắt ảnh viết trước mắt xem. Ảnh cầm viết mà viết chẳng cần nháp, đưa ngay cho ông xem. Từ ấy, ông Bizot mua một tập giấy dày, đóng bìa cứng. Hệ có bài của anh, thì bắt chép vào, nói “để đem về Pháp mà khoe với các văn sĩ”.

Anh Thới Tre, là chủ bút của tờ báo trường nầy, tất nhiên giao cho Thạnh Búa mỗi tuần viết một bài “sáng tác”. Thạnh Búa viết truyện ngắn theo giọng của A. Daudet, đọc rất là thi vị. Và oái oăm thay, công việc “búa”, anh Thới lại giao cho tôi viết trong một bài bằng tiếng Pháp thứ hai “để cho Tây nó đọc”. Và trong tờ báo chỉ có hai bài chữ Tây của hai đứa tôi mà thôi. Thuở ấy, anh em đặt cho tôi cái biệt hiệu là Tường Dụng. Tôi dịch ra tiếng Pháp là Ventru, rồi nói lái lại là Vutren, và ký tên là Pierre Vutren. Ký như thế, tức là “lạy ông tôi ở bụi nầy”, nên trong danh sách bị đuổi, tôi đứng đầu sổ, còn bởi vì văn ấy là người, Thạnh Búa bị lộ ngay và lãnh hạng nhì.

Bị đuổi mà không chút hy vọng được nhận trở lại học, tôi sợ búa rìu của tía tôi, nên chạy chọt sang Tây du học. Tôi tự nhốt trong một ngôi trường, cắm đầu lo học. Mãi đến dịp lễ Giáng Sinh năm 1927, tôi mới có dịp may gặp những người viết báo hạng cừ trong dịp họ đến Marseille diễn thuyết chống khủng bố ở Đông-dương.

Đêm trước, tôi gặp trong buổi diễn thuyết Dương Văn Giáo và Trịnh Hưng Ngẫu. Dương Văn Giáo vốn là một thầy thông trước chiến tranh 1914-1918. Khi chiến tranh xảy ra, Pháp mộ một số lính và công nhơn mình sang Âu-châu, cần có thông ngôn theo nên Giáo tình nguyện sang Pháp. Giặc xong, Giáo không về xứ, ở lại học thêm, đỗ tiến sĩ luật khoa, làm trạng sư ở tòa Thượng Thẩm Paris. Và năm 1926, cùng với Bùi Quang Chiêu sáng lập tờ La Tribune Indochinoise, cơ quan của đảng Lập hiến tại Pháp. Ngày ấy, Dương Văn Giáo đến diễn thuyết trước khi xuống tàu về xứ. Trịnh Hưng Ngẫu vốn xuất thân là thầy giáo, nhảy qua viết cho tờ La Tribune Indochinoise ở Sài-gòn, và trong dịp Bùi Quang Chiêu về xứ, lãnh tụ thực dân là Henry de Chavigny de la Chevrotière tổ chức biểu tình chống đối, Ngẫu đá vào mông De la Chevrotière một cái quá mạnh, làm chiếc giày ăng mất, báo chí đăng chi tiết nầy làm phấn khởi đám thanh niên chúng tôi quá nhiều.

Nghe diễn thuyết xong là đã khuya. Ra đường Ngẫu bắt tay hỏi tên tôi, và hẹn sáng mai lại phòng ngủ gặp lại.

Đến đây, tôi lại gặp hai người nữa: ấy là Nguyễn Thế Truyền và Tạ Thu Thâu. Lúc ấy Nguyễn Thế Truyền đã lừng danh trong giới cách mạng nên đời sống của Truyền đã thành huyền thoại, mà bọn trẻ chúng tôi biết rành từ chi tiết xuất thân là con nhà khoa bảng ở Nam-định, Truyền đã sớm sang Pháp du học. Đỗ bằng kỹ sư hóa học, Truyền không hành nghề, lại lên Paris mà hợp tác với Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh), để thành lập một nhóm người Việt “chọc trời khuấy nước” chống thực dân ngay tại thủ đô nước Pháp. Năm 1922, Nguyễn An Ninh về xứ, sáng lập tờ La cloche fêlée. Còn những người kia ở lại cùng một số người Phi-châu và người Pháp sáng lập tờ Le Paris. Ít lâu sau, Nguyễn An Ninh trở qua rước hai cụ Phan về Sài-gòn, Nguyễn Thế Truyền lãnh trách nhiệm cho ra tờ Việt-nam hồn khét tiếng. Bị ngăn trở, báo nầy đổi tên lại là Hồn Nam-việt rồi Phục Quốc.

Còn Tạ Thu Thâu, tuy tôi chưa quen, song tôi đã nghe danh học giỏi từ năm 1924. Sau khi ra dạy học, Tạ Thu Thâu có hiệp với Trịnh Hưng Ngẫu, Nguyễn Khánh Toàn, Hà Huy Giáp, Bùi Công Trừng, Trần Ngọc Danh… mà thành lập đảng Jeune Annam, xuất bản tờ Le Nhà quê, và tổ chức lễ truy điệu cụ Lương Văn Can là thân sinh của chí sĩ Lương Ngọc Quyến, người đã chủ mưu cuộc khởi nghĩa Thái-nguyên.

Lúc ấy, tôi mới được mười bảy tuổi rưỡi, và chỉ học lớp Toán học, tương đương với Đệ Nhứt ta bây giờ. Nhưng đối với lúc ấy, kể là sớm lắm. Nhưng tôi cũng có chút danh tiếng “lẫy lừng”, là bên nhà, trước khi bãi khóa, tôi chỉ học đến lớp “Năm Thứ Hai”, tức là ngang với Đệ Lục, mà sang Pháp mấy tháng sau, tôi nhào đại vô lớp Đệ Nhị, học cuối năm, thi tú tài dẫn đầu số thí sanh Việt-nam. Nên mấy anh lớn nọ nghe danh học giỏi, mến tài, rủ tôi tới cho kỳ được, để dụ tôi đi theo con đường của họ. Nguyễn Thế Truyền khai hỏa:

– Ừ, như vậy mới được chớ. Đi làm cách mạng phải là những tay học giỏi. Chớ học trong lớp mà cầm cờ, rồi ra làm cách mạng, bọn thực dân nó chê rằng, tụi mình là tụi ratés, nên giả vờ làm cách mạng để cứu thể diện.

Truyền lớn hơn tôi đến hai mươi tuổi, thêm rành tâm lý. Biết tôi là con nhà nghèo, vì phục Nguyễn An Ninh tranh đấu nên vất vả chạy sang Tây cho bằng được, nên khen Ninh, khen để dụ tôi:

– Ừ em xem. Anh Ninh, sang Pháp, không đầy năm mà thi đậu cử nhơn luật, bọn Tây nó lát mắt, rồi ra làm cách mạng, chúng nó mới cứng mồm.

– Làm sao mà chỉ một năm, thi một năm, thi trọn ba năm luật được? Không phải mỗi năm thi một bằng sao?

– Quy chế thì như vậy. Nhưng khi Ninh mới sang Pháp, chánh phủ có ra những thi thố đặc biệt để nâng đỡ thanh niên, vì chiến tranh mà lỡ dở việc học hành. Cứ hai tháng là tổ chức một kỳ thi, tha hồ ai thi cũng được, miễn là hội đủ điều kiện. Mới qua, Ninh thi cử nhơn luật năm thứ nhứt. Sáu tháng sau Ninh thi cử nhơn luật năm thứ hai, hai tháng sau nữa, Ninh thi trọn bằng cử nhơn. Nhờ vậy mà đi tới đâu, giới trí thức Pháp ở Paris nể mặt. Em phải học giỏi như Ninh vậy, chúng nó mới ngán.

Nghe chuyện Ninh thi trọn cử nhơn chỉ trong một năm, hình ảnh của Ninh, vốn dĩ đã rất đẹp trong lòng tôi, càng thêm đẹp nữa. Có lẽ mắt tôi đã ra vẻ mơ mộng, Truyền còn bồi thêm để quảng cáo Ninh:

– Tụi Tây ít khi phục bằng cấp. Ban đầu hai cụ Phan giới thiệu Ninh cho bọn nó, bọn nó cho là nhờ học gạo thuộc lòng nhiều, nên đậu mà thôi. Ninh chạm tự ái, viết mấy bài báo, đưa cho tụi nó đăng. Ninh viết francais hay lắm, tụi nó lát mắt. Chừng đó mới chịu phục.

– Anh Ninh viết trong báo nào? 

– Khởi đầu, Ninh viết trong tờ Le Libertaire, là cơ quan anarchiste. Tây nó phục rồi, mới rủ Ninh đứng vào nhóm sáng lập tạp chí Europe.

Trịnh Hưng Ngẫu hỏi, với cử chỉ “chim mồi”:

– Có phải tạp chí Europe do J.R.Bloch làm giám đốc và bây giờ hãy còn ra đó không?

– Đúng vậy. Vào tạp chí Europe, Ninh làm quen với Léon Werth. Sau khi Ninh rủ Léon Werth qua bên mình, về Pháp, Léon Werth viết cuốn Cochinchine để ca tụng Ninh là người trí thức độc nhứt kể cả Tây lẫn Việt, mà Werth gặp ở Nam-kỳ.

Tôi có đọc quyển Cochinchine của Léon Werth, nay nghe được chi tiết nầy tỏ vẻ khoái lắm. Thấy tôi đã say men rồi, Truyền mới dụ:

– Đấy em thấy chưa, muốn làm cách mạng đắc lực, phải biết báo cho hay. Không làm cách mạng mà viết báo hay, cũng có lợi. Đây là qua dạy em cái bí quyết để thành công trong đời đó.

Ninh đã về Sài-gòn chuyến tàu trước rồi. Hôm ấy, Thâu và Ngẫu dắt tôi đến bến tàu, đưa Giáo và Truyền về xứ.

Tôi trở về nhà trường, cắm đầu vào sách vở. Sau năm học ấy, đậu tú tài, vào Đại Học Marseille. Nhờ học toán, nên thời giờ rỗi rảnh khá nhiều, anh em cắt tôi công việc, mỗi chuyến tàu từ bên nhà đến. Nhờ vậy mà tôi làm quen được một vài nhà báo nổi tiếng. Như cụ Phan Văn Trường, như Pham Văn Hùm, như Cao Văn Chánh, như Nguyễn Pho. Lúc ấy, tôi chưa biết ham làm cách mạng, nên không tìm dịp theo các nhà viết báo tiếng tăm nầy, mặc dầu kính phục tài nghề của họ.

ho-huu-tuong-bon-muoi-mot-nam-lam-bao

Hồ Hữu Tường, Bốn mươi mốt năm làm báo – Tựa

Đánh máy lại phần Tựa của hồi ký Hồ Hữu Tường,
Bốn mươi mốt năm làm báo, do Trí Đăng xuất bản, năm 1972.

Gẫm tôi chưa chiếm được địa vị số một trong làng báo, địa vị nầy cho phép tôi viết thiên hồi ký về sự nghiệp làm báo của tôi. Gẫm tôi chưa chấm dứt đời làm báo, tức là chưa có cơ hội để đứng ngoài nhìn vào với cặp mắt vô tư hơn và để cho lời nói mình có giá trị khách quan. Nhưng tôi có hai lý lẽ rất chủ quan khiến cho tôi cầm bút mà viết thiên hồi ký nầy.

Lý lẽ thứ nhứt là nhà xuất bản Khai Trí sắp cho xuất bản một tác phẩm của tôi đã viết năm 1950, xuất bản thành tập nhỏ tại Paris, trong hình thức những bài học hàm thụ về nghề làm báo. Năm 1965, tôi cho in lại cũng từng tập trong tuần báo Hòa Đồng, rồi có in thêm, đóng thành cuốn mà bán ra dưới nhan đề là: Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo. Chẳng dè độc giả thích thú, đòi hỏi nên nhà sách Khai Trí mới cho in lại kỳ này. Trong những tác phẩm của tôi, sách được in lại chỉ có Phi Lạc sang Tàu, kế đó là Muốn hiểu chánh trị, hàng thứ ba mới đến Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo. Tôi không biết trong số độc giả của quyển thứ nhứt, đã có ai thành công rạng rỡ trong cái thuật nói dóc như anh chàng Phi Lạc chăng? Tôi cũng chẳng biết có độc giả nào của quyển thứ hai đã thành một chánh khách trứ danh chăng? Nhưng mà tôi có biết một số người, nhờ đọc quyển Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo, mà bước qua ngưỡng cửa của làng báo và thành công trong cái nghiệp này. Tôi kết luận rằng hai tác phẩm kia chỉ “mua vui cũng được một vài trống canh” cho độc giả. Còn có giá trị thực tiễn, mới là quyển ba. Vậy viết hồi ký về bốn mươi mốt năm làm báo là phải hơn.

Lý lẽ thứ hai là khi viết hồi ký nầy, tôi sẽ có dịp nhắc đến một số người, một số việc, một số cảnh vật, mà nếu tôi không nhắc đến, e sẽ bị chôn vùi trong lãng quên. Vậy thiên hồi ký này có thể kể là một chứng tích lịch sử, mà khi tôi nói đến “cái tôi”, ấy không phải vì mục đích muốn khoe mình, mà là muốn tài liệu này có tánh cách nhân chứng. Thú thật, nhờ làm báo mà tôi quen biết với một số nhân vật ở hàng đầu của xã hội Việt Nam, cũng như một vài cây viết cừ trong làng báo quốc tế. Sử gia có thể lượm lặt trong thiên hồi ký này một ít tài liệu, về khoảng từ năm 1926, cho đến ngày nay. Ít nữa, công viết không hoài, đến nỗi tiếc sao đã phí phạm vô ích.