langage-de-classe

langage de classe

Trong ELT có một khái niệm là classroom language để chỉ ngôn ngữ mà giáo viên thường dùng trong lớp học để quản lý lớp. Nó là những mẩu câu rất cơ bản như “open your book, page…” hay là “repeat after me”. 

Có lẽ trong mọi lớp dạy ngoại ngữ đều có classroom language. Chẳng hạn trong lớp tiếng Hoa, giáo viên bước vào lớp thường nói 大家好 và cả lớp đáp lại bằng 老师好. Còn bây giờ trong lớp tiếng Pháp của tôi, khi thầy giáo bước vào, thầy chào bonsoir à tous, và cả lớp đáp lại bằng bonsoir monsieur. Tương tự:

Mở sách ra trang 14: Ouvrez votre livre page quatorze.

Lặp lại nào mọi người: Répétez tous ensemble.

Làm xong chưa: ça y est? Nếu xong rồi thì đáp là oui, ça y est. Nếu chưa xong thì đáp là non, pas encore

Bài làm này đúng hay sai: c’est vrai ou faux?

Có câu hỏi nào không: question?

Đúng rồi: bien hoặc très bien;

Hoan hô: bravo

Có mặt (hô lúc điểm danh): présent

Vắng mặt: absent

Cuối tiết học, thầy trò chào tạm biệt nhau bằng au revoir.

pronoms-sujets-pronoms-toniques

pronoms sujets, pronoms toniques

Mới học tiếng Pháp, mình chỉ biết xưng là je, gọi người đối diện là tu. Thế tại sao cụ cố Hồng lại xưng là “moa”, gọi người khác là “toa”?

À, ra là đại từ nhân xưng trong tiếng Pháp có phân biệt giữa pronouns sujets và pronoms toniques. Với pronoun sujet là je thì pronoun tonique tương ứng là moi. Tương tự, pronoun tonique của tutoi hoặc vous, của illui, của elle vẫn là elle, của nousnous, của vous (pluriel) là vous, của ilseux, của elleselles, vân vân.

Đó là lý do vì sao mà ngoài “moa” và “toa” lại còn có cả “lúy”:

Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế – bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp.

Sự phân biệt này khá tương tự như subject và object trong tiếng Anh. Còn chi tiết thì có lẽ sẽ bàn sau.

Nhưng thường thì, pronoms toniques dùng để nhấn mạnh một đối tượng, và sau c’est phải là nó chứ không thể là pronoms sujets. Vậy nên Lam Phương mới viết bài C’est toi chứ không viết bài C’est tu. Mình chỉ biết một bài tên là của Shakira mà thôi.

C’est toi qui emportes mon coeur au firmament,
et qui me fais envie à chaque instant,
à chaque moment,
il n’y a que la mort qui change mon sort.

Ảnh: nhạc sĩ Lam Phương

genre-et-nationalite

genre et nationalité

Đến bây giờ tôi mới hiểu cái đoạn Trần Trọng Kim chỉnh Phan Khôi rằng logique (luận lý) nếu là người thì là “cô” chứ không phải là “ông”.

Số là, khi phê bình cuốn Nho giáo, Phan Khôi đã mời Trần Trọng Kim tiên sanh đi với Khổng Tử, Mạnh Tử đi đến nhà M.Logique chơi, tại đó, chúng ta sẽ nói chuyện. Trong tiếng Pháp, M. là viết tắt của monsieur. Còn madame viết tắt là Mme, mademoiselle viết tắt là Mlle. Phan Khôi gọi logique là “M.Logique”, tức là đang cho rằng logique là giống đực. 

Trần Trọng Kim đáp lại trong bài Mời Phan Khôi tiên sinh trở về nhà học của ta mà nói chuyện (Phụ nữ Tân Văn số 74, ngày 16-10-1930) đã chỉnh cụ Phan Khôi rằng logique là “cô” chứ không phải là “ông”.

Về khoản này, Trần Trọng Kim đã đúng. Một trong những đặc điểm rõ ràng nhất của tiếng Pháp là nó luôn phân định giới tính cho các danh từ. 

Tous les groupes nominaux possèdent un genre: masculin ou féminin (parfois les deux).

Genre của một danh từ sẽ làm biến đổi article đi trước danh từ. Chẳng hạn, với những sự vật thuộc féminin [feminɛ̃] thì sẽ đi sau l’article défini là la, còn thuộc masculin [maskylɛ̃] thì đi sau từ le. Người Pháp nói la logique chứ không nói le logique, do đó luận lý là “cô” chứ không phải là “ông”. 

Nếu tôi nghe không nhầm thì monsieur Duy đã nói là genre có thể được phân biệt dựa vào đuôi của một từ (hình như gọi là terminaison). Những từ đuôi -ique thường là nữ tính. Chẳng hạn, Belgique (nước Bỉ) là nữ, nên người Pháp gọi là la Belgique. Đó là pays, còn nationalité [nasjɔnalite] là belge cho cả lẫn masculin lẫn féminin.

Một số các pays và nationalité khác:

la France: français et française

l’ Allemagne: allemand et allemande

l’ Italie: italien et italienne

l’ Espagne: espanol et espanole

l’Luxembourg: luxembourgeois et luxembourgeoise

le Japon: japonais et japonaise

la Chine: chinois et chinoise

le Laos: laotien et laotienne

le Cambodge: cambodgien et cambodgienne

le Vietnam: vietnamien et vietnamienne

la Suisse: suisse et suisse

les Etats-Unis d’Amérique: Américain et américaine 

Để hỏi ai đó quốc tịch gì, thì nói câu Quelle est votre nationalité? Trả lời là Je suis vietnamien, chẳng hạn. Còn hỏi quốc gia của bạn là gì thì nói Quel est votre pays? Trả lời là c’est le Vietnam.

Logique của tiếng Pháp là vậy, còn ý nghĩa sâu xa gì đằng sau việc xác định giới tính của các quốc gia hay không thì mình chưa biết. Nhưng tự dưng mình nhớ đến một bài học trong môn Intercultural Communications ở trường, đó là lý thuyết của Geert Hofstede trong nghiên cứu văn hóa. Hofstede là một social psychologist người Hà Lan. Ông đề xuất những dimensions để nghiên cứu, đánh giá văn hóa của một cộng đồng. Trong đó có dimension là masculinity-femininity.

The Masculinity side of this dimension represents a preference in society for achievement, heroism, assertiveness, and material rewards for success. Society at large is more competitive. Its opposite, Femininity, stands for a preference for cooperation, modesty, caring for the weak and quality of life. Society at large is more consensus-oriented.

Liệu người Pháp có một trực giác nào đó để xác định giới tính của một quốc gia hay không?

les-nombre

les nombres

The simplest words of 普通话 (pǔtōnghuà) must be the first three natural numbers: “一” (yī), “二” (èr), “三” (san). Recently I came across a meme on The Language Nerds page:

Well, it points out exactly how one’s smile could be wiped off when he comes to know the illogicality of 汉字 (hànzì). It’s much more time-saving to learn languages with orthographic writing than those with logographic writing, simply because compared with the number of morphemes, the number of phonemes are just too thin on the ground.

That’s not to mention today’s learned Chinese writing system is the simplified one, with fewer strokes. Just imagine if we were to learn from scratch all the complicated characters of traditional Chinese; it must be overloading.

At least I finished learning how to count from 0 to 999 in mandarin before I stopped my first class: It’s quite simple, and somehow similar to that of counting in Vietnamese: 0 (零, líng), 1 (一, yī), 2 (二, èr), 3 (三, san), 4 (四, sì), 5 (五, wǔ), 6 (六, liù), 7 (七, qī), 8 (八, bā), 9 (九, jiǔ), 10 (十, shí).

Then, if you want to say 11, just combine 10 and 1: 十 一, shí yī. Similarly, we have: 十 二, 十 三, 十 四, 十 五, and so on. And 20 is presented by “二 十”. 

我 二 十 七 岁

means

I am twenty seven years old.

With that rule of combination, 99 is presented by 九十九. And in simplified Chinese, “hundred” is “百”, pronounced in pīnyīn as “bǎi”. This sound is different from “白” meaning “white”. Suddenly, I’m thinking of a song:

百灵鸟从蓝天飞过 (pīnyīn: Bǎilíng niǎo cóng lántiān fēiguò)

means

Larks fly over the blue sky.

百灵鸟 (Sino-vietnamese: Bạch linh điểu) is a kind of lark. That is the beginning of the song 我爱你中国 (I love you, China). It was impressively performed by a bald guy named 平安 (Píngan) in The Voice China. Actually, even though I despise the country’s government, I really love Chinese culture and would hope to visit China someday. 

Sorry I was distracted. Anyway, if you want to say “999” in Mandarin, just put them all together decimally: 900 + 90 + 9, and we have:

 九百九十九

Pretty much like Vietnamese:

“chín trăm chín mươi chín”

Today I’ve learned how to count from 0 to one billion in français. First, just like English, you need to learn the first 20 natural numbers, including 0:

0 – zéro, 1 – un, 2 – deux, 3 – trois, 4 – quatre, 5- cinq, 6 – six, 7 – sept, 8 – huit, 9 – neuf, 10 – dix, 11 – onze, 12 – douze, 13 – treize, 14 – quatorze, 15 – quinze, 16 – seize, 17 – dix-sept, 18 – dix-huit, 19 – dix-neuf, 20 – vingt

Then you need to learn the multiples of 10: 30 – trente, 40 – quarante, 50 – cinquante, 60 – soixante. 70, 80 and 90, however, are quite tricky. We will talk about them later. 

Now, if you want to present 21, you say “vingt et un”, which means “20 and 1”. But for the rest from 22 to 29, you don’t need to add “et”. Just say: “vingt-deux” for 22, “vingt-trois” for 23, “vingt-quatre” for 24, and so on. Don’t forget the hyphen, or trait d’union. Similarly, to present 34 we say “trente-quartre”; or to present 51 we say “cinquante et un”.

When it comes to 70, french people do some calculations to limit the number of new words.To them, 70 is 60 and 10. Thus, they say “soixante-dix” for 70. Then, 71 is “soixante et onze”, for 71 equals to 60 plus 11. Next, we have “soixante douze” for 72, “soixante treize” for 73, and so on.

80 equals to 4 multiplied by 20. Therefore, it is presented as “quatre-vingts” meaning “four times twenty”. And then we have “quatre-vingt-un”, “quatre-vingt-deux”, “quatre-vingt-trois”… It repeats the same pattern as “soixante-dix” when it comes to 90: “quatre-vingt-dix”, then “quatre-vingt-onze”, “quatre-vingt-douze”, and so on, until we reach 100, which is “cent”.

1.000 is mille; 1.000.000 is million; and 1.000.000.000 is milliard. So if I want to present 1993, I say: “mille neuf cent quatre-vingt-treize”.

There’s a site that could help us practice writing numbers in français: le conjugueur le figaro.

lalphabet-phonetique

l’alphabet phonétique

Tiếng Pháp, cũng như tiếng Anh và tiếng Việt, có hai hệ thống là l’alphabet françaisl’alphabet phonétique. Vì sao không thể dùng chung một hệ thống ký hiệu cho cả chính tả lẫn ký âm? Trả lời triệt để câu hỏi này có thể tiến thêm một bước đến chỗ dàn xếp ổn thỏa các cuộc tranh luận bấy lâu nay về việc cải cách tiếng Việt. Ở bài viết này, mình chỉ đi được đến một lời giải đáp tương đối.

Thứ nhất, quá trình phát âm là một quá trình năng động và mang tính cá nhân cao. Biểu hiện dễ thấy nhất là tính vùng miền, cùng là chữ “gi” nhưng miền Bắc và miền Nam phát âm khác nhau. Trong khi đó, chính tả đòi hỏi một sự ổn định và nhất quán trên một lãnh thổ rộng lớn. Nếu mình nhớ không nhầm thì trong cuốn English Phonetics and Phonology, Peter Roach có nêu lên sự phân biệt giữa hai cách viết ký âm: một cái đặt trong hai dấu slash ‘/ /’ và một cái đặc trong cặp square brackets ‘[ ]’. Sự khác biệt nằm ở chỗ bên trong dấu ‘/ /’ là một quy định về cách phát âm của một ngôn ngữ, tức là thuộc về langue, còn bên trong dấu ‘[ ]’ là âm do một người phát ra được ghi lại bằng IPA, hiển nhiên sẽ bao gồm các đặc điểm riêng trong cách phát âm của người đó (mình đang liên tưởng đến nhân vật Francis Dolarhyde trong tiểu thuyết của Thomas Harris), tức là thuộc về parole. Langue parole đã được Saussure phân biệt rất rõ trong Cours de linguistique générale.

Thứ hai, nếu hệ thống chính tả cũng mang tính cách một đối một (one symbol, one sound) như hệ thống ký âm IPA thì nó sẽ làm cho ngôn ngữ trở nên nghèo nàn, mất đi tính võ đoán (ambiguity) vốn có. Ngôn ngữ cần có hiện tượng đồng âm khác nghĩa để có thể thâu tóm được sự vô hạn của thế giới bằng một số lượng hữu hạn các ký hiệu. 

Trong khi l’alphabet français giống hoàn toàn the English alphabet thì l’alphabet phonétique lại có nhiều khác biệt.

l’alphabet phonétique vẫn được phân thành les consonnesles voyelles. les voyelles lại gồm les voyelles orales les voyelles nasales. les consonnes gồm có 18 âm: /b/ trong bout, beau; /s/ trong si, ça (ç gọi là cédile); /d/ trong dit, date; /f/ trong faux, phare; /g/ trong gare, garage; /ʒ/ trong page, je; /k/ trong kilo, queue; /l/ trong la, le; /m/ trong maison, maman; /n/ trong nom, prénom; /ɲ/ trong campagne, champagne; /ŋ/ trong camping, funk; /p/ trong pas, pipe; /ʁ/ trong rue, roi; /t/ trong tout, tard; /ʃ/ trong chat, chien; /v/ trong vous, wagon; /z/ trong mise, zoo

Còn les voyelles orales gồm có 13 âm: /a/ trong chat, papa; /ɑ/ trong pâte, gla; /e/ trong été, thé; /ɛ/ trong sept, élève; /ɛː/ trong fête, maître; /ə/ trong monsieur, faisons; /œ/ trong peur, jeune; /u/ trong sous, fouet; /y/ trong tu, une; /o/ trong mot, fantôme; /ɔ/ trong porte, école; /ø/ trong bleu, cheveux và /i/ trong fini, île

Từ rue [ʁy] được tạo từ hai âm mà theo mình là khó nhất trong tiếng Pháp. Âm /ʁ/ là âm voiced uvular fricative, vốn không có trong hệ thống phụ âm tiếng Việt. Nhưng dường như các ngôn ngữ ở châu Âu rất thích tạo ra tính khu biệt ở khu vực cấu âm này. Nghe nói chữ “r” của tiếng Đức có thể tương ứng với [ʁ], [ʀ], [χ], [ʀ̥] và [ɐ].

So far, though, my favorite thing to say in all of Italian is a simple, common word: Attraversiamo. It means, “let’s cross over.” Friends say it to each other constantly when they’re walking down the sidewalk and have decided it’s time to switch to the other side of the street. Which is to say, this is literally a pedestrian word. Nothing special about it. Still, for some reason, it goes right through me. The first time Giovanni said it to me, we were walking near the Colosseum. I suddenly heard him speak that beautiful word, and I stopped dead, demanding, “What does that mean? What did you just say?” “Attraversiamo.” He couldn’t understand why I liked it so much. Let’s cross the street? But to my ear, it’s the perfect combination of Italian sounds. The wistful “ah” of introduction, the rolling trill, the soothing “s”, that lingering “ee-ah-moh” combo at the end. I love this word. I say it all the time now. I invent any excuse to say it.

(Elizabeth Gilbert, Eat, Pray, Love, 2007)

Hôm nay, anh Duy nói một câu khá gây suy nghĩ: “tiếng Pháp không phụ thuộc nhiều vào lưỡi mà vào môi”. Trong phân loại nguyên âm, người ta thường dựa vào độ nâng (height) của lưỡi – mở ra chiều hướng cao – thấp (dimension high/fermé – low/ouvert) – vốn gắn liền với độ mở của miệng (openclose), độ đưa ra trước của lưỡi (frontness) trong vocal tract– mở ra chiều hướng trước – sau (frontback), độ tròn của môi (roundness) – mở ra chiều hướng tròn – không tròn (rounded – unrounded), độ căng của dây thanh (tenseness) – mở ra chiều hướng căng – lỏng (tense lax) và trường độ (length) của nguyên âm, mở ra chiều hướng dài – ngắn (long – short). Còn trong phân loại phụ âm, người ta thường dựa vào vị trí cấu âm (place of articulation) và phương thức cấu âm (manner of articulation); Trong đó, vị trí cấu âm thường dùng để chỉ một điểm thuộc phần vòm miệng trên mà lưỡi sẽ tiếp xúc (môi, răng, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm, lưỡi con), còn phương thức cấu âm thì là cách mà puff of air đi qua khe hở tạo bởi lưỡi và điểm cấu âm như tắc (stops), xát (fricative), tắc-xát (affricate). Nhưng ngoài ra phải xét đến yếu tố voicing và cả các âm approximants Trong tiếng Anh, lưỡi cũng được phân bố thành nhiều khu vực (tip, blade, front, back, root) để tương ứng với từng vị trí cấu âm. Còn tiếng Pháp thì có khác không? Có đúng là không phụ thuộc nhiều vào lưỡi không?

Có thể thấy trong tiếng Pháp, tiêu chí phân biệt nguyên âm rõ nhất là ở việc luồng hơi thoát ra mũi hay ra miệng là chính, thế mới có les voyelles oralesles voyelles nasales. Les voyelles nasales chỉ có 3 âm thôi, là /ɑ̃/, /ɛ̃/ và /ɔ̃/ nhưng cũng gây nhiều khó khăn cho người Việt (trước có cả /œ̃/ nhưng hình như trong cách đọc gần đây người ta đã cho phép xem nó như /ɛ̃/).

Những từ mà trong đó có “in”, “im”, “ein” hoặc “ain” thì phát âm những chỗ đó bằng /ɛ̃/, chẳng hạn trong từ vin, un, sein, main, quinze, impossible. Những từ trong đó có “on” hay “om” thì phát âm bằng /ɔ̃/ như trong non, vont, ton, tomber. Còn những từ trong đó có “en” hay “an” thì phát âm bằng /ɑ̃/, như trong tant, quant, sans, français hay enchanté.

À bây giờ thì mình đã biết cách phát âm đúng hai câu đầu của bài La vie en rose:

[de jø ki fɔ̃ bɛ.se le mjɛ̃
œ̃ ʁiʁ ki sə pɛʁ syʁ sa buʃ]