duong-nghiem-mau

Dương Nghiễm Mậu

Vì sao Phí Ích Nghiễm lại chọn bút danh là Dương Nghiễm Mậu? Là bởi vì ông đặt tên ông ở giữa hai chữ đầu của quê ngoại (Dương Liễu) và quê nội (Mậu Hòa). Tôi không khỏi liên tưởng đến Dzư Văn Tâm đặt tên mình ở “trong lòng” tên của người con gái mà mình yêu, Thanh Tuyền, để làm thành bút hiệu Thanh Tâm Tuyền. 

Dương Nghiễm Mậu sinh năm 1936, cũng bằng tuổi Thanh Tâm Tuyền. Và nghĩa là, năm ông vào Nam (1954), ông 18 tuổi. 

Ông xuất hiện lần đầu trên Sáng Tạo ở số 28-29 bộ cũ (tháng 1-2 năm 1959), với truyện ngắn Rượu, chưa đủ. Mai Thảo kể đã nhặt bản thảo truyện này trong sọt rác của một tòa soạn để đem về đăng. 

Rượu, chưa đủ (1959)

Lúc này, Dương Nghiễm Mậu 23 tuổi. 

Không liên quan, nhưng mà hình như không phải cứ sống lâu, đọc nhiều là sẽ viết hay. Sự hay rất có thể chỉ xuất hiện trong một số khoảnh khắc xuất thần của cuộc đời. Cũng như “con tằm nhả được tơ óng mãi hay sao?”

Tinh anh phát tiết ra ngoài.
Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Phải chăng cái thời tơ óng của tôi đã đi qua (Đi qua những phóng túng hình hài)?

Mai Thảo bình truyện có một lối vào “mạnh dạn mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới”. Hẳn Mai Thảo muốn nói đến những tiền giả định (presupposition): Khi viết “về đến đầu ngõ thì tôi chia tay Thùy”, tác giả không cần nói rõ họ vừa đi đâu về, và Thùy là ai mà lại bước đi với dáng vẻ “lặng lẽ cuối đầu”. Tác giả cũng không cần giới thiệu Hùng là ai ngay từ đầu, cũng không giải thích vì sao mình thừa biết Hùng đọc cuốn sách gì. Chi tiết đó có lẽ chỉ để nói về sự quen thuộc và chán chường trong sinh hoạt của nhân vật chính và Hùng, một sự quen thuộc đến mức việc có hay không có người kia cũng không còn quan trọng. Giữa họ không có hồ hởi, không có thắm thiết.

Hùng rất là cynical, hình như hầu hết bạn bè của nhân vật chính đều cynical. Họ không còn tin vào những êm ái.

Tôi chỉ mới đọc qua ba truyện Niềm đau nhức của khoảng trống, Rượu, chưa đủKẻ sống đã chết, nhưng cũng thấy cái nhận định nói rằng có rất nhiều nhân vật mồ côi trong truyện của Dương Nghiễm Mậu là đúng. 

Những con sư tử là gì? Vì sao chúng lại bị khuyết tật (không có tai, mù mắt, cụt chân)? Và phải chăng vì khuyết tật nên chúng càng hung tợn? “Đến nay, hơn hai mươi tuổi đầu tôi sống như vậy”. Nhưng sống như vậy là sống thế nào? Là sống một cuộc đời được ẩn dụ như bị xâu xé bởi những con sư tử khuyết tật, hay là sống một cuộc đời toàn gặp ác mộng?

Tôi muốn van xin sự vắng mặt nhưng chính tôi thường vắng mặt. Những trang sách cứ qua mãi cho đến khi đôi mắt nhíu lại, cho đến khi bầu dầu vơi đi, cũng như những chặng đường, ngắn dần, lùi dần và cuộc đời lớn dần già dần, rồi tan dần đi. Tôi nghĩ đến những người đang ồn ào trong xóm. Những lúc tranh đua kiếm miếng có khi nào nghĩ đến cái thân phận làm người của họ không? Hôm nay họ xanh trẻ, thời gian sau họ già nua. Con cái họ lớn lên và già theo cùng những vui buồn, sinh tử, sợ hãi, chán ghét… rồi họ chết đi nhưng xóm nhỏ thì đông thêm, đông thêm mãi cho đến khi nào những người còn sống quên dần những người đã chết.

Dương Nghiễm Mậu, tuy vẫn viết về thời cuộc, nhưng nhiều khi, và ngay trong tác phẩm này, đã có khuynh hướng phổ quát đến kiếp người, cõi người. Ở tuổi 23, Dương Nghiễm Mậu đã nói về cuộc đời như thể rằng nó chỉ có bao nhiêu đó, và chẳng có gì vui đâu. 

Cuộc sống ngày nay mất đi những tham dự của sức mạnh siêu hình mà người trước tin cẩn để sống. Nhưng có lẽ thái độ can đảm liều lĩnh ấy khiến cho chúng tôi đau đớn hơn. Chúng tôi không thể đổ lỗi cho ai được khi chúng tôi tự cho mình là Thượng đế.

Và đến đây thì dấu vết Nietzsche khá rõ. Nhưng việc đưa vào mạch văn một triết lý như này quả có phần hơi thô.  

Lại nói, vì sao nhân vật chính của Dương Nghiễm Mậu rất giống với nhân vật chính trong Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền ở chỗ: là trí thức, trẻ tuổi, nhưng sớm buồn chán với cuộc đời, lung lạc và vô định? 

Phải chăng chỉ có những người nhìn thấy được những giới hạn không thể vượt qua và ý thức mạnh mẽ về mối quan hệ giữa “tôi” và “chúng ta” thì mới tìm đến hiện sinh? Và dù ta đã biết Sartre và Camus đã xuất hiện xong từ trước 1954, nhưng các thảo luận xoay quanh hiện sinh ở miền Nam bắt đầu sôi nổi từ lúc nào, như thế nào? Rượu, chưa đủ có phải là một tiếng vang lên giữa cái âm nền (ambient) đó, khi mà tác giả liên tục nói về lựa chọn, tự do, cái chết? Điều này cũng lặp lại ở Niềm đau nhức của khoảng trống. Những tác phẩm sau đó, Dương Nghiễm Mậu có thoát khỏi hiện sinh không? 

Đêm. Những lối ngõ. Phòng trọ tối. Ánh đèn đường xuyên qua những thanh chắn hắt lên tường trong lúc nhân vật chính nằm. Cái vibe này đã có trong Niềm đau nhức của khoảng trống. Hình như, một số nhà văn sẽ có khoái cảm trong việc dựng nên một cái atmosphere gần gũi với họ. Đó, rất có thể là không gian sống của Dương Nghiễm Mậu, ở độ tuổi đôi mươi.

Đoạn cuối nhịp dồn dập. Thực tôi đọc bài phê bình của Mai Thảo về đoạn này (“thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động”) trước khi tôi đọc đoạn này, và nó làm tôi hơi thất vọng.

Cách Dương Nghiễm Mậu đan xen đoạn tự sự của nhân vật chính và những đoạn văn được viết bởi một cô bạn của anh, tên Hương, có cần thiết không? Phải chăng những đoạn được trích ra là để làm cho rõ hơn cái ý niệm về miễn cưỡng, mất tự do? Những dòng văn có vẻ xô vỡ luân lý ấy (anh chàng 20 làm một người đàn bà 40 chửa hoang rồi phải đối mặt với trách nhiệm, hai người bạn tranh cãi về chuyện cái gì quan trọng hơn chuyện đứng bên này hay bên kia của một giòng sông ranh giới, và một người nói về việc con người bị kết án tự do) làm tôi nghĩ đến sự tò mò thích thú của bọn vừa dậy thì khi chơi trò truth or dare, hỏi những câu về chuyện phòng the. Thực ra, nếu đã nhìn thấy ranh giới đủ lâu, con người ta sẽ không còn thấy có gì hồi hộp hay hào hứng ở những sự phá bỏ luật lệ nữa.

Phải chăng Bếp lửa là sự ngộp thở trước “sự đa dạng khôn kiệt của cuộc đời”, và Rượu, chưa đủ cũng vậy?

Có một đoạn nói về việc đứa bé ở công viên thôi không còn chơi trò xây nhà đắp đê mà chuyển sang chơi trò đá dế. Chi tiết này Dương Nghiễm Mậu đưa ra chỉ để nói về sự rời bỏ những thú vui trẻ thơ khi người ta trưởng thành. Nhưng khi đọc nó, nhất là vào lần đọc đầu tiên, tôi không khỏi liên tưởng đến cái “bài học đường đời đầu tiên” của con dế Mèn của Tô Hoài, những choai choai ngu ngục. Và một đoạn phim Ngày giỗ (2003) của Hàm Trần, đoạn cross-cutting xen kẽ giữa trò chơi đá dế của hai anh em ngày còn nhỏ, với cảnh hai anh em cầm súng truy đuổi nhau ngoài chiến trường.  Ngày xưa ráy dế cho các chú ấy nóng tiết thì đá nhau mới sung, ngày nay bị làm dế cho người ta quay. L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!

Tôi cũng liên tưởng đến chi tiết chủ tiểu giết con ếch vì thích thú trước biểu hiện kỳ lạ khi một con vật chết trong Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại xuân (2003).

Bây giờ mùa nắng sắp tàn và sắp xa thêm những kỷ niệm. Dù có khuất xa đi nhưng nhờ những kỷ niệm để nắng tin rằng mình đã sống.


Photo: For him to live (2019), directed by Tomoyuki Kuramoto

nguyen-van-trung-ve-truyen-ngan-niem-dau-nhuc-cua-khoang-trong

Nguyễn Văn Trung, về truyện ngắn Niềm đau nhức của khoảng trống

Bài viết của giáo sư, nhà phê bình Nguyễn Văn Trung về tác phẩm Niềm đau nhức của khoảng trống của Dương Nghiễm Mậu.


Cứ để ý ngay những đầu đề truyện ngắn của một số nhà văn trẻ bây giờ, cũng có thể thấy được sự khác biệt về ý-hướng sáng tác của họ và những người lớp trước.

Tiểu thuyết không phải là tả cảnh, tả tình nhưng là một suy nghĩ. Do đó truyện không còn phải là một giải trí, nhưng là một sự thức tỉnh đưa tới nhận định về cuộc đời.

Sự thay đổi ý-hướng đó có thể làm cho nhà văn không cần bận tâm về cốt truyện hay tình-tiết ly-kỳ, rùng rợn hay phức-tạp bi đát. Cốt truyện hay không phải là chủ- yếu của truyện vì sự suy nghĩ có thể khởi điểm từ bất cứ một sự việc nhỏ mọn, tầm thường nào. Do đó, đọc truyện, không còn đi tìm cốt truyện hay, nhưng là xem sự thức tỉnh đạt tới một chiều sâu đến đâu trong việc tra hỏi về ý nghĩa cuộc đời.

Cốt truyện của Dương-Nghiễm-Mậu không có gì đáng kể, nhưng cái hay của nó chỉ ở những suy tư của nhân vật chính là tác giả.

Tác-giả kể một người thanh niên có cái bướu ở cổ vì thế không đi dự dạ hội được với một người con gái mình yêu. Chính người con gái này cũng không muốn đi với Hạnh, tên người thanh niên. Cái bướu là dịp để Hạnh nhận định về số phận ở đời của mình, và câu chuyện trình bày sự hành-trình nhận thức đó của Hạnh.

Kỹ-thuật diễn tả độc-thoại nội tâm, Hạnh suy nghĩ tự hỏi để dần dần khám phá thấy một ý nghĩa cuộc đời. Rất nhiều đoạn trong truyện là một thứ nói chuyện với chính mình: tự tra hỏi và trả lời.

Ví dụ:

“Sao nó lại có ? Sao nó lại lớn? Rồi có lớn đến chừng nào? Trong làn da mỏng này là cái gì? Cái kiếp trước của mình ư?”

Hay:

“Cái sự thực này làm anh không đến được với em và em run sợ nó. Không tại em, không tại anh, tại cái gì? Tại người ta ư? Hay tại cái kiếp trước của anh?”

Hạnh nhận thấy rằng cái bướu là một sự thừa thãi ở trên thân thể anh, là một quái gở phi lý mà mọi người muốn chối bỏ. Nếu Hạnh sống có một mình ở đời này thì không sao, chàng sẽ nuôi nấng nó, giữ nó lại được.

“Nhưng tôi còn có những ràng buộc vây quanh, nên nó là kẻ xa lạ, một sự quái gở, một hiện tượng quái gở mà mọi người chỉ mặt gọi tên nó”.

Chính vì Hạnh còn có Thúy, người yêu, và xã hội chung quanh mà Hạnh muốn vứt bỏ cái bướu đi. Nhưng có thể vứt bỏ được không? Hạnh đi tìm những lý do có thể đưa tới những giải đáp. Đó có phải là di truyền, do cha mẹ chàng để lại không? Hạnh đi tìm xem lại những ảnh cũ của cha mẹ bây giờ đã mất, không thấy họ có. Hay tại kiếp trước của chàng?

“Anh là kẻ độc ác nham hiểm đã ra cửa này vào cửa kia cho người ta thù ghét và đánh dấu không cho lẩn mặt. Người ta đã điểm danh anh rõ ràng là hiện thân một sự nối tiếp đày ải mà bây giờ anh phải gánh chịu?”

Khoa học bây giờ có thể giải quyết được không? Hạnh đi tìm bác sĩ, nhưng họ xem mà không chữa vì đó là triệu chứng của ung-thư, không nói cho Hạnh biết; tuy nhiên điều đó cũng làm cho chàng đoán được và buồn rầu bực bội trước một bất lực của khoa học. Hạnh có cảm tưởng đây là một số kiếp, định mệnh không thể tránh được và nhất là không được lựa chọn.

“Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình”. Nhưng Hạnh cũng nhận thấy: “Anh không thể không được quyền với thực tại”. Hạnh muốn thay đổi số phận, và ít ra, đó cũng là một lựa chọn theo ý muốn của chàng. Hạnh nghĩ đến việc đi tự tử. “Ít nhất ra tôi đã tự chọn cái chết”, tôi đã trách nhiệm một cuộc đời theo ý tôi. Hạnh ra nằm trên đường xe lửa, đợi chờ một chuyến tàu qua sẽ thực hiện sự lựa chọn của chàng. Nhưng chính lúc sắp xảy ra sự thực hiện đó, Hạnh như thấy một tiếng gọi: “Thế chính anh, anh không thể cắt nó đi được ư” làm cho Hạnh nhận ra một sự có thể có một lựa chọn khác, và Hạnh nhỏm dậy, lăn về bên cho chuyến tàu chuyển qua. Chàng về nhà, mua dao cạo, băng, cồn, thuốc đỏ. Thật là giản dị, chỉ cần một chút can đảm là “Tôi tự mang tôi đến đời sống”.

Nhưng Hạnh ngất đi khi cắt cái bướu, người ta đưa vào nhà thương cấp cứu. Khi Hạnh tỉnh lại, viên bác-sĩ đã từ chối chữa chàng mới nói thật cho chàng biết chàng bị ung thư. “Nếu để vậy thì nó phát ra chỗ thừa đó. Cắt nó đi sẽ lan vào trong. Rất khó chữa. Số mệnh của ông không còn bao lâu”.

Bây giờ thì Hạnh nhìn nhận số mệnh. Số mệnh của chàng là một sự cô đơn vì chàng là kẻ xa lạ của mọi người.

“Bao nhiêu năm cô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo – tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai – chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày hú còi và phun khói. Chỉ biết mang mình ra khoảng trống đóng lấy những vai trò lừa dối mình. Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối chích vào thân thể anh… Anh đã đánh lừa và mang anh đến với em – em đã chịu đựng sự có mặt của anh – nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh. Anh hốt hoảng ở giữa khoảng trống vây quanh anh đã lấp liếm che đậy. Nó hiện ra một vực thẳm sâu vắng. Anh la hét cho tiếng anh trả lại. Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình. Nhưng anh không thể không được quyền với thực tại. Anh có quyền về anh nên anh đã cầu cứu mọi người giúp anh, nhận anh là một người như họ. Anh đã cắt bỏ cái bướu để tìm về cõi sống, vì đám đông bình thường. Nhưng không được.

… Thân thể anh còn đây, cái bướu đã mất. Anh khước từ sự hiện diện vô ích của nó nên anh trở thành một sự không thực … Anh là một sự không thực nằm đây… Nhưng, từ đó cho anh biết rằng anh là gì? Anh hơn đám đông vây quanh bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt nhưng là một sự có mặt hư ảo, không thấy mình. Người ta khước từ anh – điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu”.

Đó là sự khám phá thấy số phận ở đời của Hạnh. Chúng là một quá khứ, một “hải đảo cô đơn ngàn đời, bởi nó công nhận niềm đau buốt của khoảng trống”, nhưng là một cô đơn có ý thức và ý hướng phản kháng. “Từ khước đám đông, thức giấc niềm đối kháng với bộ mặt vô hình nhìn xuống đời sống”.

Hạnh vĩnh biệt tình yêu, cuộc đời và lòng kiêu hãnh trước sự vĩnh biệt đó vì thái độ ý thức phản kháng của chàng.

(Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết, Tự Do 1962)

duong-nghiem-mau-niem-dau-nhuc-cua-khoang-trong

Dương Nghiễm Mậu, Niềm đau nhức của khoảng trống

Một truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu, được mình đánh máy lại và đăng lên blog này. Hôm nay, ngày 2 tháng 8, là ngày giỗ của Dương Nghiễm Mậu.


Tôi bỏ mình nằm lên giường không muốn cựa quậy, quần áo dạ hội lần đầu tiên tôi mặc lên mình không được tới đám đông còn trên thân tôi. Tiếng nói Thúy cất lên như một mũi kim nhọn trích vào tim tôi ê ẩm đau buốt và choáng váng: “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế..”. Bóng tối vây phủ chung quanh bưng bít. Không khí oi bức ngạt thở một buổi tối trở trời như sắp vào một cơn giông bão khiến cho từng tế bào của thân thể rạo rực chung với mọi vật vây quanh. Tôi nằm ngửa nhìn lên trần nhà loáng thoáng những vết sáng song song từ một ngọn đèn ngòi cửa chiếu qua cửa chớp in hình không lay động. Cái bướu, phải rồi chính cái bướu. Tôi lấy tay gối ở đầu ra sờ lên chiếc bướu nằm ngay trên cổ tôi. Một cục thịt to hơn nắm tay trồi lên ở cạnh hàm phía trái. Tay tôi ướt nhép mồ hôi để lên đó, tôi muốn sờ như tìm lại từng chút, từng chút cái sự thật nằm đây mà tôi đã quên lãng. Dù không có ánh sáng, không có tấm gương trước mặt nhưng tôi thấy nó rõ hơn bao giờ hết, nó là một cục thịt phồng ra, bao bọc chung làn da thân thể tôi. Có một khoảng sần sùi màu chàm hơi tía, trên đó có mấy sợi lông đen mọc ra như một khóm lông heo. Cái này có người đã bảo với tôi là cái kiếp trước – những kiếp của tôi là một cái gì đó rất độc ác. Tôi đã đầu thai vào nhiều cửa, nhưng chẳng ai nuôi được tôi, tôi bỏ họ lại. Tôi đã ra vào bao nhiêu lần – rồi đến một lần nào đó có kẻ đã biết – và đánh dấu vào thân thể tôi một chút chàm, một chòm lông heo để cho tôi biết thân và đừng đầu thai vào quấy đảo họ. Nhưng kẻ độc ác nọ đánh dấu ở ngay cổ tôi trên cái bướu này. Sao họ không đổ chàm, chét lông heo vào lưng, vào bụng hay vào những chỗ tôi có thể che dấu? Cái kiếp trước của tôi ra sao? Thực như thế ư? Nhưng còn cái bướu – cái phần ở trong lần lông heo, trong lần da này là gì?

Nó là thịt ư? nhưng sao nó lại lớn ra mãi thế này. Tôi đã bỏ quên nó, nhưng nó đã lớn theo tuổi tôi. Tôi biết như thế, tôi thấy hoảng hốt: rồi nó sẽ lớn bằng cái gì?

Bây giờ nó đã bằng nắm tay – bàn tay tôi vừa đủ úp lên nó, mai kia nó lớn lên mãi, lớn mãi bằng mặt tôi, hơn mặt tôi. Khi đó tôi sẽ có một cái đầu thứ hai, cái cổ, cái vai, cái mình tôi đang có đây phải gánh chịu cưu mang nó. Tôi nghĩ đến khi tôi chết trong cái thân thể kỳ lạ này chắc những con người quan tâm nghiên cứu về cơ thể học sẽ xin cắt cái đầu tôi để nghiên cứu, người ta sẽ ngâm vào trong một cái lọ thủy tinh mà triển lãm – gọi đó là một cái quái thai cho những người sau này ngắm nghía, xem xét, cười cợt – “Thôi tôi van, tôi van đừng làm tôi như thế, không bao giờ như thế phải không, nhất định anh tin vậy Thúy ạ”. Tôi hoảng hốt muốn kêu thành tiếng, muốn phá vỡ cái im vắng tù ngục vây quanh, cái thảng thốt đau nhói của mũi kim cứ ân sâu dần vào tim thỉnh thoảng lay động khẽ cho tôi biết cảm giác đó. Tôi thấy như chiếc bướu từ lúc này bắt đầu lớn nhanh hơn nữa – và tay tôi không còn đủ sức che hết, tôi vội bỏ tay rồi xoay mình nằm sấp xuống giường.

Tiếng chuông đồng hồ đổ chín giờ tối. Buổi dạ hội đã bắt đầu được nửa giờ. Tôi nghĩ đến quang cảnh khu biệt thự, những vòm cây mang phiến lá xanh ngả xuống một mái nhà thấp, có ống khói lớn. Khoảng vườn cỏ xanh, lối đi giải cuội trắng. Rồi những hoa lá trang điểm cùng ánh đèn xanh đỏ như trái chín mọng ngọt lịm, những điệu nhạc bắt đầu dấy lên những âm thanh âu yếm, ngọt ngào như những sợi tơ tẩm vàng óng trải ra vây bắt lấy những đôi trai gái y phục lộng lẫy. Cái âm thanh du dương như một giòng sông nào suôi chảy vang vọng ấp ủ vỗ về cho những bàn tay siết lại với nhau, cho những thân hình quấn quít lấy nhau, những cặp môi, đôi mắt, và những tâm hồn du lên cái khoảng xanh êm dịu của bóng đêm… Những ly rượu khai vị nồng cháy, tiếng cười ròn tan… Tôi đã không tới được đấy cùng Thúy đêm nay như từng giây từng phút, từng giờ, từng ngày trước đó tôi đã mơ tưởng, nuôi nấng – “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế…” tiếng của Thúy lại cất lên.

“Bà Oanh mời chúng ta tới dự buổi dạ hội vào tối thứ bảy tới đây. Bà ta khánh thành biệt thự vừa được kiến trúc lại. Bà ta bảo buổi dạ hội sẽ thêm trang trọng nếu có anh và em” – “Thế anh có bằng lòng dẫn em tới không” – “Sao lại không? Anh chưa bao giờ đến với đám đông có thêm một người thứ hai – Anh chỉ mang một mình anh tới đó như một sự lạc lõng bỏ quên không ai quan tâm. Sự thực lẻ loi này như một thách đố lớn và không ai muốn đoái nhìn. Và tất nhiên anh dẫn em. Muốn hay không là ở em chứ đâu phải ở anh” – “Em nhận lời – em sẽ trang điểm như thế nào theo ý anh” – “Em thì không cần phải trang điểm cũng đủ rồi” – “Em sẽ mặc chiếc áo màu hồng tía có giát kim tuyến đỏ, tóc vấn cao… Anh thì anh khó nói lắm. Em biết thừa đi chứ. Anh yêu cái màu hồng tía ấy ghê lắm…” – “Chỉ có mình anh là khen em thôi. Bây giờ anh hẹn đi” – “Anh sẽ tới đón em trước đó nửa giờ, anh sẽ coi em trang điểm và, nửa giờ để chúng ta tới”. Sau buổi hẹn, tôi thắc thỏm nhìn vào tấm thiếp mời. Tôi may bộ quần áo dạ hội hợp thời trang, tôi căn dặn người thợ may chăm sóc cho nó xứng đáng để rồi tôi đi dự với nàng, chúng tôi có mặt sẽ giúp cho buổi dạ hội trang trọng thêm – Bộ quần áo còn giữ nếp trên thân thể tôi đang bị làm nhàu nát đây không tới đó. Tôi đã giữ đúng giờ hẹn tới nhà Thúy và sẽ thấy nàng trang điểm. Vừa từ cổng bước vào, người u già nhìn tôi ngạc nhiên:

– Kìa cậu Hạnh, tôi chưa bao giờ thấy cậu lịch sự làm dáng như tối nay.

Tôi mỉm cười, hỏi về Thúy, u già kể lể:

– Cô ấy ở trên phòng, mấy ngày nay cô ấy không bước ra khỏi phòng, như lo nghĩ chẳng vui vẻ và ăn uống điểm trang gì cả…

– Sao vậy – Tôi nghĩ chắc nàng cũng thấp thỏm chờ đợi như tôi. Chúng tôi chưa bao giờ đi đâu với nhau. Buổi dạ hội này như một sự giới thiệu cho mọi người biết chúng tôi đã đính hôn. Điều mà không ai ngờ tới. Tôi đi vội vào nhà.

Mẹ nàng ngồi ở phòng khách đứng lên, tôi cúi đầu chào.

– Sao mấy bữa nay anh không tới. Em nó làm sao ấy…

– Dạ, xin phép bác cho cháu lên thăm em…

– Chắc nó mong anh đấy. Không khi nào tôi thấy nó lạ như ít bữa ay.

Tôi bỏ phòng khách chạy vội lên với nàng. Gian phòng riêng thân mật ấm áp vẫn như mọi bữa. Ánh sáng vừa nhạt cho tôi thấy Thúy đẹp lạ lùng ngồi tì tay nơi ghế. Chắc nàng chờ tôi rồi mới bắt đầu trang điểm theo ý tôi. Nhưng thái độ, cử chỉ vui mừng của tôi không làm nàng vui, nàng khẽ chào tôi, và ngồi im nơi ghế. Tại sao? Nàng nhìn tôi từ đầu đến chân, và nhìn vào mặt tôi lâu hơn nữa rồi hai tay ôm lấy mặt mà khóc.

– Sao em, thế em quên hôm nay anh hẹn em đi dạ hội sao? gần đến giờ rồi…

– Anh đừng nhắc dạ hội nữa. Anh ngồi xuống đi. Từ sau hôm hẹn với anh em khổ quá, không giờ phút nào em không nghĩ đến anh, nghĩ đến mặt anh…

Tôi như một cái máy ngồi xuống ghế nghe nàng nói, nhưng nàng không nói tiếp được.

– Chắc em ngại đám đông vì em không quen, thì thôi chứ sao em khóc làm gì…

– Em nghĩ còn sau này, sau này nữa chứ… Tôi hỏi bao nhiêu nguyên do, nhưng nàng đều lắc đầu bảo không, mãi đến lúc tôi sắp ra về nàng mới nói:

– Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế…

Tôi đứng soi mặt tình cờ vào tấm gương trang điểm của nàng, lúc đó tôi mới thấy, tôi mới biết, tôi mới hiểu cái bướu đang ngự trị trên cổ, cạnh mặt tôi đây. Tôi để tay lên đó để sờ thấy nó hiện hữu giữa đời sống. Điều mà khi tôi yêu nàng – khi mà tôi yêu tôi – tôi bỏ quên nó, tôi không quan tâm đến.

Nàng ôm mặt khóc. Tôi lấy tay giữ lấy cái bướu bỏ chạy ra khỏi phòng, xuống nhà tôi quên cả chào hỏi, dừng lại. Tôi chạy mau, tay giữ bướu tự mở cửa ra đường. Tôi hốt hoảng lo lắng khi có người, tôi sợ họ nhìn thấy. Tôi nghĩ rằng người ta đang hò hét quanh tôi đòi bỏ tay ra cho họ nhìn, bao nhiêu bước chân đuổi bắt rộn lên, rồi điệp điệp trùng trùng những khuôn mặt xa lạ, ghê gớm, quỷ quái hiện đến như chỉ thấy cái bướu tôi mang trên thân thể. Tôi dùng tất cả sức lực mình cố chạy cho nhanh, lẩn trốn vào bóng tối. Tôi muốn vươn tay phá lũng tất cả ánh sáng đang chiếu rọi chung quanh. Chừng như nó sáng thêm, sáng một cách rực rỡ, đùa cợt làm cho tôi không biết đâu ẩn thân. Trở lại phòng tôi khóa cửa chắc chắn rồi lăn mình trên giường – Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế… Sao nó lại có? Sao nó lại lớn? Rồi nó lớn đến chừng nào? Trong lần da mỏng này nó là cái gì? Cái kiếp trước của mình ư?

Tại sao từ bao nhiêu năm nay tôi quên cái bướu lớn theo bên mặt tôi – nhất là từ một năm trở lại đây, từ ngày tôi gặp lại nàng – lúc đó nàng có thấy cái bướu chứ? và để mãi cho đến bây giờ mới nhìn thấy. Buổi tối nay nàng nhìn tôi rất lâu – nàng nhìn cái bướu lâu hơn, kỹ càng hơn rồi ôm mặt khóc không dám nhìn vào đó. Nó bỗng nhiên đứng lên to lớn giữa đời sống để cho nàng, cho tôi cùng nhận ra – rồi đám đông cùng đến một lúc đối diện và ngăn cách tôi – “Anh thấy rồi em ạ, chắc em vẫn còn đang khóc và còn khóc. Mười mấy năm trời rồi, lúc nhà anh, nhà em còn ở bên nhau. Cái huyện lỵ bé nhỏ chỉ có mỗi một dãy phố chợ, nhà em ở đầu dãy, nhà anh ở đó cùng em. Em đừng khóc nữa, anh sẽ kể lại em nghe thời thơ ấu, của dĩ vãng, năm bấy giờ anh còn sống bên gia đình trong một ngôi nhà nhỏ mái ngói nâu. Hai nhà cách nhau một hàng dâm bụt xanh có hoa màu đỏ. Những năm đầu tiên chúng ta cắp sách đến trường huyện, mỗi ngày chúng ta đi về với nhau.

Ngày bấy giờ em như một trái đào nhỏ, anh và em thời thơ ấu. Chúng ta học thi xem đứa nào thuộc bài, nhiều điểm – mỗi lần trước khi tới lớp chúng ta cùng ngửa tay ra xem tay đứa nào sạch… những ngày nghỉ, em nhớ không, chúng ta cùng nhau làm cỗ hoa, lá dâm bụt, bằng một củ khoai, cũng nấu nướng đơm cỗ và mời mọc. Chúng ta đã làm đám ma một con ruồi, em đã khóc và anh đã khóc… nhiều lắm, bao nhiêu thứ, bao nhiêu kỷ niệm, dù không gợi ra em cũng nhớ, anh tin rằng em nhớ. Ngày ấy anh mang tên như một cái mặt sị, bụ bẫm của anh – Bệu – nghe tức cười thật, còn em, em là bé Thúy của ông giáo Trúc… Nhưng ngày ấy, em nhớ chứ, trên cổ anh chưa manh nha một triệu chứng gì rằng anh có một cái bướu đang hiện diện trong đời sống đây. Anh nhớ rằng sau đó gia đình em nghèo dần rồi rời phố huyện đi. Em cho anh một con búp bê. Em đi với một cỗ xe ngựa màu nâu. Ai cũng buồn. Anh đã khóc. Mối xúc động ấy có phải vì em không? Những ngày sau đấy anh chẳng hiểu rằng em đi đâu, có điều chắc chắn rằng em đi xa lắm, không bao giờ thấy, như một cái gì vô cùng hoang đường mà mỗi người chúng ta thường lưu giữ. Anh lớn lên, anh không còn vui đùa với em, anh bỏ anh lêu lổng cùng khắp phố huyện, đánh bi đánh đáo, tắm sông rồi mỗi buổi chiều ra đứng bên đường xe lửa la thét với còi tàu, nhiều lần nhảy lên những toa xe cuối trở than, anh nghĩ nếu anh ngồi xuống đó con tàu sẽ mang anh đi xa – rất xa và có thể tới nơi em ở. Nhưng không bao giờ. Anh la thét ném đá cho những con tàu bỏ anh lại với đời sông huyện lỵ… ngày tháng trôi mau, mười mấy năm trời sau đấy cái bướu này đã mọc và lớn lên từ lúc nào. Anh không sao nhớ được. Anh nhớ thuở xưa nơi cổ này chỉ có chút màu chàm và lông heo, nó chỉ như một người có nốt ruồi thịt và mấy sợi râu. Nhưng cái bướu đã lớn làm cho khoảng da căng thêm, hình như lông mọc nhiều hơn. Thời thơ ấu chưa có, khi anh yêu em cái bướu mới lớn… Rồi sau này!… rồi sau này – phải rồi cái bướu, chính cái bướu. Bao nhiêu con mắt có con mắt của em không? như nhưng mắt súng đang nhìn vào mặt anh này hình như đòi được xét đến. Không thể nào đem cái mặt này đi bên cái mặt kiều diễm của em. Anh không muốn và cả em nữa – vậy thì đúng rồi em từ chối đến buổi dạ hội tối nay là phải, và điều quan trọng hơn hết em đã nói cho anh biết: Anh có một cái bướu. Thôi em đừng khóc, để anh ru em trở về khúc ca của dĩ vãng và anh hiện ra với thời dĩ vãng, anh mang em về đời sống và ngày mai… này thôi em… em biết, anh biết lắm”. Tôi nói lẩm bẩm trong miệng như van lơn, hơi thở nóng hầm hập phả xuống lần gối; đầu tôi nhức nhối, chân tay ê ẩm không muốn cựa quậy. Bộ quần áo mới cứng và chật làm cho thân tôi nóng bức, bực dọc. Không khí vây quanh vẫn im lìm. Tôi trở dậy bật đèn thay quần áo. Tôi yên tâm giờ phút này không còn ai quấy rầy tôi nữa.

Tôi thấy tôi rối trí quá thường. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra với cái bướu. Tôi nhớ rõ hồi xưa nó chỉ một chút. Hay nó cũng như một đời người, những năm thơ ấu qua đi cho đến tuổi dậy thì, sau cơn sốt vỡ da nó mới lớn dậy và trưởng thành. Năm nay tôi 22 tuổi, tôi vừa ở tuổi dậy thì, người ta phải qua năm 25, 26 mới hết lớn, vậy chắc tôi còn lớn – và cái bướu còn lớn theo. Tôi nghĩ xem nó có phải một bệnh di truyền không: Năm tôi còn nhỏ đã mồ côi – năm 10 tuổi. Tôi nhớ về cha mẹ tôi mơ hồ vì tôi không được sống với cha mẹ. Tôi là đứa con thứ hai và cũng là con út. Tôi có người chị lấy chồng sớm, hơn tôi một tuổi – sau khi sanh đứa cháu đầu lòng thì qua đời vì bệnh tràng nhạc. Hay tôi mắc cái bệnh đó? Nhưng sao lâu thế này, lớn thế này tôi không thấy đau đớn gì? và tôi vẫn chưa chết? Tôi ở với bà nội, sau khi sinh tôi, cha mẹ tôi bất hòa mỗi người ở một nơi. Tôi chưa sống lâu với cha mẹ tôi. Tôi ở với mẹ tôi, mẹ tôi nói xấu nguyền rủa cha ôi. Tôi sang ở với cha tôi, cha tôi nói xấu và nguyền rủa mẹ tôi. Tôi là một đứa con, tôi là một cái bị thịt – một cái đích để hai người chửi và nguyền rủa cho tôi chịu đựng, tủi hờn… không ai thương sót vỗ về an ủi tôi, tôi như người khác máu không liên lạc gì về ai – trừ bà nội tôi.

Tôi mang nỗi tủi hờn về cho bà tôi an ủi nguôi ngoai, chính thế nên ở với cha hay mẹ, tôi chẳng dám nhìn vào mặt ai, nên sau khi hai người qua đời tôi không nhớ rõ từ nét mặt, dáng dấp… và tôi chẳng nhớ giỗ chạp bao giờ, may tôi còn nhớ tên ở trong tờ khai sinh để đề vào những giấy tờ…

Không biết cha hay mẹ tôi có bướu ở cổ như tôi không? Tôi chợt nhớ tấm ảnh chụp gia đình tôi năm tôi còn nhỏ, tôi còn mang theo. Tôi lục tìm ra soi dưới ánh sáng đèn. Tấm ảnh đã cũ, nó nhỏ bằng bàn tay tôi. Bà nội tôi ngồi trên chiếc ghế bành ở giữa, hai bàn tay sòe ra ở đầu gối, hai bàn chân cũng sòe ra. Bên cạnh có cơi trầu, ống phóng. Cha tôi mặc áo gấm có hoa, đầu rẽ đường ngôi thẳng chải dầu bóng, mẹ tôi chít khăn có để tóc đuôi gà mặc áo tứ thân cầm quạt, chị tôi mặc áo dài tóc để cun cút – và tôi thấp bé, đầu trọc, đeo khánh, quần sẻ đũng… mỗi người trong tấm ảnh chỉ to bằng đầu đũa, mặt tôi nhỏ hơn hạt ngô – vì vậy tôi chẳng nhìn thấy dấu vết gì về chứng tích của một cái bướu ở cha hay mẹ tôi. Tôi chưa thấy ai như vậy. Sao tôi lại có.

Khoa học ngày nay tiến bộ, ai cũng biết, vậy đối với cái bướu này chắc chẳng nghĩa lý gì, nó là một cục thịt cứ việc cắt đi là hết. Người ta còn đổi đàn ông ra đàn bà và ngược lại – vậy đối với tôi: Tôi tự nhiên thấy yên tâm. Tôi cất tấm ảnh vào chỗ cũ rồi mở cửa ra ban công đứng nhìn xuống đường. Có một cơn mưa nhỏ đổ xuống lúc trước vừa dứt hạt, mặt đường nhựa bóng nhẫy ánh đèn mấy vòm cây xanh đen đứng đằng xa. Trong khoảng mây tối trên đầu hỉnh ảnh khuôn mặt Thúy hiện ra với một vẻ sầu thảm, đôi tay úp lên mặt và những búp tóc xõa vây quanh – Không sao đâu em, anh thấy rồi và anh có thể làm mất nó, em sẽ ngạc nhiên thấy nó không còn, khi đó chúng ta sẽ dự một buổi dạ hội khác – Nó là một vật thừa trên thân thể anh… Tôi nhớ lại một thằng bạn có lần bảo tôi: Cái mặt mày kỳ cục và quái gở như thời đại này. Tôi cho đó là một câu đùa cợt. Nếu nó hợp với thời đại, đúng với thời đại thì sao nó không được người ta công nhận – Nhất là người yêu tôi. Nó là một sự phi lý đến cùng cực mà mọi người chối bỏ. Nếu tôi chỉ có một mình, tôi sẽ nuôi nấng nó như tôi – Nhưng tôi còn những ràng buộc vây quanh nên nó là một kẻ lạ, một sự quái gở – Một hiện tượng quái gở mà mọi người chỉ mặt gọi tên nó. Nó ở một mình trên thân thể tôi, hay ở một thiểu số nữa. Cái thiểu số này, đám đông từ chối, bởi vì họ sợ họ là một sự thiếu thốn một sự quái gở lớn lao hơn.

Tôi bỏ tay vuốt thanh sắt ban công mát lạnh, những hạt nước còn đọng lại, tôi đưa bàn tay lạnh đó ấp lên cái bướu. Cảm giác lạnh làm tôi rùng mình và nổi gai ốc khắp người – “…Sao mày lớn quá thế, như vậy tức là mày không muốn yên thân phải khong? Quân phiến loạn. Nhưng vô ích con ạ! Mày biết thân phận mày không chứ?”

Qua một đêm trằn trọc làm buổi sáng hôm sau tôi dậy sớm, tôi nghĩ đến ông bác sĩ quen – ông ta là người đã khám sức khỏe tôi nhiều lần. Chính ông cũng đã bảo cho tôi biết hồi xưa tôi đau ruột thừa, điều tôi không nghĩ ra. Tôi tin ông có thể biết căn nguyên cái bướu này. Tôi sửa soạn mặc quần áo, trước khi ra đường tôi đứng soi mặt vào gương. Tôi hốt hoảng nhìn cẩn thận lại mặt tôi – Cái bướu qua thêm một đêm chừng như đã lớn hơn nhiều. Phải cắt nó đi. Tôi nghĩ vậy. Tôi đi ra ngoài đường và chờ ở một trạm xe buýt – giờ đi làm nên đông đảo. Tôi thấy mọi người hình như chăm chú nhìn tôi. Một người già nhắc lại gọng kính. Hai người con gái sì sào nói nhỏ rồi cùng nhìn mỉm cười. Người thanh niên đứng trước mặt quay đầu lại. Khắp tất cả, ngay một đứa trẻ cũng để tay soa lên cổ nó, như ở vị trí cái bướu của tôi, để xét xem nó có một cái bướu không. Hai tai tôi nóng ran, chắc đang đỏ tía lên nữa. Tôi muốn lấy tay che lên cổ, nhưng hai bàn tay đều ngượng ngùng, thừa thãi không biết cất dấu đi đâu. Tôi nhìn xuống đất rồi lủi ra đầu đường. Tôi vội gọi một chiếc xe nhảy lên. Tôi không còn muốn nhìn vào mặt ai nữa.

Tôi là người thứ hai trong phòng khách đợi. Phòng khám bệnh chưa tới giờ mở cửa. Hai dãy ghế dài bọc vải xanh quay mặt vào nhau. Người khách thứ nhất là một người đàn bà đứng tuổi mặc quần áo đen và buộc một tấm khăn trắng mỏng lên đầu kín cả mang tai. Bà ngồi ở góc kín nơi tay phải, lúc tôi bước vào bà hơi ngẩng lên nhìn chậm chạp. Đôi mắt dại vàng nằm sâu ở quầng mắt thâm đen. Màu da vàng sám có bội nghệ.

Bà ta ngồi thu một chân lên ghế ôm vào ngực và thỉnh thoảng ho khan.

Tôi ngồi ở ngay đầu ghế bên này. Nhìn vào tấm cửa mở hé vào phòng khám bệnh. Gian nhà vẫn không thay đổi gì – làn gạch vàng dưới chân – làn vôi trắng khỏa khắp các mảnh tường và trần – mùi thuốc phảng phất. Người y-tá trở ra vặn chiếc quạt trần, người đàn bà nhìn lên và ra dấu tắt đi. Tôi lặng thinh, người đàn bà tự nhiên lên tiếng:

– Tôi gặp hơi quạt là như muốn sốt rét. Khổ quá ông ạ, xin lỗi nếu ông không vừa lòng.

– Dạ thưa bà không sao, tôi cũng sợ quạt, chắc bà bệnh đã lâu.

– Vâng tôi yếu lâu lắm, người bảo đau gan, người bảo đau phổi… uống thuốc Bắc mãi không khỏi, nên đi khám xem bác sĩ bảo bệnh gì. Còn ông, chắc ông đau cổ.

Tôi giật mình, sao bà ta lại nghĩ thế. Tôi vội bảo:

– Không, tôi không đau cổ. Tôi đau tim bà ạ.

– Xin lỗi ông, tôi tưởng cái nhọt thì đau lắm. Tôi chưa hề gặp ai thế.

– Dạ vâng. Tôi có thế từ hồi mới sinh, nó là một cái tật, như một ngón tay, ngón chân thừa vậy thôi.

– Thưa ông thế nó không đau ạ?

– Không, thưa bà nó như thường vậy thôi.

Bắt đầu thêm có hai bệnh nhân đến. Một cụ già và một thanh niên trẻ hơn tôi. Hai người ngồi ở ghế đối diện. Không ai nói nữa. Câu chuyện giữa tôi và người đàn bà không tiếp tục và tôi cũng không muốn nói đến cái bướu. Tôi đau tim, tôi hơi tức cười khi trả lời câu đó. Nhưng biết đâu, tôi lo lắng và nghe ngóng, tôi thấy như cái bướu bắt đầu phập phồng và tiếng đập ở đấy.

Nếu thực sự tim ở đó thì tôi sẽ làm sao? Bắt buộc gì tim cứ phải ở ngực, khi tôi sinh ra biết đâu không phải là một sự sắp xếp sai lầm. Cũng như cái bướu, sao lại cái bướu có ở cổ tôi mà người khác không có, nhất nữa tôi không thấy dấu hiệu gì bảo rằng đây là một căn bệnh. Tôi cố gắng gạt ý nghĩ ấy đi, nhưng tôi chẳng yên tâm chút nào.

(còn nữa)

mai-thao-con-duong-duong-nghiem-mau

Mai Thảo, Con đường Dương Nghiễm Mậu

Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau “viễn phương” hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, tờ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần sà lỏn của Doãn Quốc Sĩ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng” “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” người bạn ngạc nhiên hỏi. “Mặc moi” tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồi côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình, sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một toà báo của Mậu. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.

Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hỏm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mĩm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang Cộng Sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: “Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy”. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn chỗ đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã “phải đi”, cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói loà. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: “Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ”, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh “Dương Nghiễm Mậu”. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: “Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa” và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lỉnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.

Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

– Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.

– Sao lại những hai tên?

– Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:

– Anh bị bắt vì tội gì?

– Tôi không biết.

– Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

– Nghề văn nghệ sĩ.

Tên quản huấn dốt nát chẳng hiểu nghề văn nghệ sĩ là cái nghề quỷ gì, nhưng nét mặt rạng rỡ:

– Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiểm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh Cộng Sản. Cái “tội văn nghệ sĩ” do tên quản huấn dốt nát định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đểu dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế và đang phải sống giữa chế độ hiện giờ của chúng ta. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.

Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh “Sáng vác ô đi tối vác về” rồi nhé, Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ Cộng Sản, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm: “Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?” Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

duong-nghiem-mau-viet-ve-vu-trong-phung-1966

Dương Nghiễm Mậu, viết về Vũ Trọng Phụng (1966)

Bài trên tập san Văn số 67, Sài Gòn, ngày 1-10-1966

Để nhìn lại khuôn mặt của giai đoạn lịch sử, để tìm lại đời sống thực của xã hội đã qua, để hiểu biết những nguyên nhân sâu xa của mọi biến chuyển trọng đại nào đó chúng ta có thể tìm tới đó những tài liệu lịch sử xã hội chính xác, những bản tường trình, những đạo luật, những bút ký, nhật ký… và tất nhiên không thể bỏ qua những công trình nghệ thuật, văn chương bởi vì văn chương nghệ thuật của bất cứ thời nào cũng không ít thì nhiều phản ảnh đời sống của một giai đoạn lịch sử đã qua. Không những thế, những tác phẩm văn chương thường là những nhân chứng giá trị hơn hết, trung thực hơn hết. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn nói với chúng ta tinh thần một thời tao loạn, chán ghét chiến tranh… Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du phơi bày một xã hội tranh tối tranh sáng của ma quái và sự thực của những bất công xã hội, những bải hoải suy vong… Những tác phẩm ấy đã soi chiếu cho chúng ta đời sống, tâm tư con người, hoàn cảnh xã hội của một giai đoạn lịch sử. Nhưng nói như thế không có nghĩa rằng nó chỉ phản ảnh cho sự thực của một thời mà nhiều khi nó là gương soi của con người trong nhiều thời. Để nhìn lại thực trạng xã hội Việt Nam trước năm 1945, để tìm hiểu nguyên nhân của cuộc giải phóng dân tộc, để biết những nguyên cớ sâu xa nào đã ảnh hưởng đến thời đại chúng ta hiện nay, chắc chắn chúng ta có thể tìm thấy một phần nào những câu trả lời nơi những tác phẩm văn chương tiền chiến, những trả lời ngay thẳng giá trị…

Sau những thất bại của phong trào Văn Thân, những nổi dậy chống trả của Hoàng Hoa Thám, Tán Thuật, Nguyễn Trung Trực… chỉ còn là những ngọn lửa cháy không ngừng trong lòng người dân Việt, chế độ của thực dân Pháp đã vững trên đất nước ta, thì xã hội ta đã bước sang một giai đoạn mới. Trên phương diện chính trị chúng ta đã mất chủ quyền, đất nước bị chia làm ba miền với ba chế độ cai trị khác nhau, nghĩa là chúng ta chỉ còn là một nước bị đô hộ. Không những thế chúng ta không phải chỉ bị đô hộ bởi một nước cùng một nền văn minh là nước Tàu mà chúng ta còn phải chịu sự đô hộ của một nước khác với một nền văn minh khác hẳn. Chúng ta không những chỉ chịu một nền cai trị mới mà tất cả những giá trị tinh thần, nền tảng giáo dục, cơ cấu tổ chức xã hội cũng bị thay đổi, làm xáo trộn hẳn. Trên phương diện văn chương, chúng ta có thể tìm thấy những bằng cớ, những sự thật trong cuộc thay đổi lớn lao này. Không cần viện ra nhiều, chỉ cần nói đến những tác phẩm lớn, những tác giả tiêu biểu cho những khuynh hướng khác nhau chúng ta đã có thể thấy xã hội đang thay đổi, nghĩa là chúng ta có thể thấy khuôn mặt của xã hội ta trước năm 1945 ra sao.

Nhìn lại văn chương tiền chiến chúng ta thấy những tranh chấp mới cũ, những đập phá hình thức, những kêu đòi tự do cá nhân trong hầu hết những tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn, nó phản ảnh đời sống, tinh thần của một lớp người mới trong xã hội ta. Chúng ta còn thấy những lạc hậu, nghèo đói khổ ải, những tráo trở biến động, những thét gào trong những tác phẩm Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Đoàn Phú Tứ… Trong văn chương tiền chiến đời sống của xã hội ta đã được ghi lại một cách phong phú. Nhưng để lại cho chúng ta một bức họa sâu sắc, đầy đủ hơn hết tình trạng xã hội ấy thì phải nói đến những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Có người nói rằng trong khi còn ở Pháp, Tạ Thu Thâu đã nói muốn biết xã hội Việt Nam ra sao thì chỉ cần đọc Vũ Trọng Phụng thì biết. Nếu thế thì quả Tạ Thu Thâu đã có một con mắt tinh đời.

Nhân dịp tưởng niệm Vũ Trọng Phụng tôi ghi lại dưới đây những ý kiến vụn vặt của tôi, những cảm nghĩ của đời sống sau ông những biến cố trùm lấp, điều tôi muốn nói đến nhiều nhất là thử căn cứ vào hai tác phẩm chính của Vũ Trọng Phụng là Số đỏ Giông tố phác họa lại thực trạng xã hội Việt Nam thời nô lệ. Một thực trạng đang kêu đòi giải phóng, cách mạng…

* * *

Vũ Trọng Phụng sinh năm 1911 (1) và mất năm 1939 – đúng vào khoảng thời gian nền đô hộ của người Pháp ở Việt Nam đã vững vàng.

Cuốn Số đỏ của Vũ Trọng Phụng nhằm mô tả một lớp người đặc biệt của thành thị, bọn người học đòi Tây phương. Họ cho rằng dân ta hủ lậu, phản văn minh tiến bộ. Họ cổ động cải cách y phục, hô hào cho giới bình dân, cổ võ thể thao. Sang đến cuốn Giông tố – Vũ Trọng Phụng phóng con mắt bao quát hơn mô tả một gia đình quan lại – đó là gia đình Tạ Đình Hách, từ một tên trọc phú trở thành nghị viên – một kẻ đã dùng tất cả thế lực tiền tài để đàn áp đám dân nghèo, phơi bày mọi hình vi bẩn thỉu. Một gia đình thối nát, vợ ngủ với cung văn, chồng hiếp dâm, con ma cô và đồng thời liên can đến một gia đình thôn quê – gia đình ông đồ Uẩn – một ông đồ thất thế, bạc nhược. Với hai tác phẩm đó, Vũ Trọng Phụng đã mô tả một đời sống thành thị nhầy nhụa với gái điếm, thuốc phiện, tiền bạc, rượu lậu, với những kẻ lăn mình vào đời sống nặng vật chất, chuộng hư danh – và một đời sống thôn quê tối tăm thất học, tinh thần hương đảng xôi thịt khiếp sợ dưới quyền cai trị của bọn quan lại. Trong cái sân khấu tranh tối tranh sáng đó những nhân vật thời đại đã được Vũ Trọng Phụng vẽ ra.

Trước hết ta hãy nói đến một hạng người mà Xuân Tóc Đỏ là tiêu biểu, đó là hạng “chó nhảy bàn độc”. Từ một tên ma cà bông trèo sấu, đã lĩnh công hai hào một ngày để ngồi trên mũi ô tô mà thổi loa, mà gào những chữ di tinh, mộng tinh cho “vua thuốc lậu” Nam Kỳ, chạy cờ hiệu, đi nhặt banh sân quần, bị đuổi vì nhòm đầm thay quần; nhưng hoàn cảnh giả dối đưa hắn thành một người khai hóa xã hội:

– Ông, ông là ai?

Xuân Tóc Đỏ ưỡn ngực lên, giấu cái chổi lông gà sau lưng, nghiêm trang:

– Tôi? …là một người dự một phần trong việc Âu hóa.

– À!

– Một người cải cách xã hội… có trách nhiệm quốc dân văn minh hay là dã man.

Một nhà Âu hóa chưa đủ, hắn còn trở thành một sinh viên trường thuốc, một ông đốc luận bàn về y học, trở thành một nhà thể thao ái quốc, bạn của nhà báo, bác sĩ, của sư mô, bàn việc phục hưng đạo Phật quanh miếng thịt chó, đã giải phóng phụ nữ bằng phương pháp làm hại đời một người con gái, giữ kiên trinh cho bà góa phụ bằng cưỡng bức… Từ xã hội hạ lưu hắn đã chen chân góp mặt với giới thượng lưu: Xuân Tóc Đỏ cảm thấy thời cuộc đã mở rộng con đường công danh… Nó đã có một địa vị to tát trong đám những bậc thượng lưu. Rồi hắn lớn tiếng: “… Quần chúng nông nổi ơi, mi đã biết đâu cái lòng hy sinh cao thượng vô cùng nó khiến ta chối từ danh vọng…” Hắn đã gọi đám quần chúng là mi, hắn đương nhiên nhận mình là kẻ hy sinh, duy trì hòa bình, cứu nạn can qua. Cả một đám người đã hoan hô nó, đã ca ngợi nó, người cai trị đã phong chức nó, cả đến người đại diện cho hội Khai trí Tiến đức, đại diện cho trí thức xã hội cũng phải: “Lại đây với cái nguyện vọng được yết kiến quan tài tử Xuân, bậc vĩ nhân của xã hội”.

Cùng với trường hợp của Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ, nhân vật chính của Giông tố là Tạ Đình Hách cũng có những nét tương tự, nhưng Xuân Tóc Đỏ dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cố ý đưa đẩy hắn như một sự tình cờ, không do tâm địa của Xuân mà do hoàn cảnh xã hội gian trá, lừa bịp sản xuất ra hắn; càng mang bộ mặt ngờ nghệch, ngu muội bao nhiêu càng để lộ cái sự thật về nếp sống thượng lưu của thành thị, nó là cái cớ để lộ chân tướng những Văn Minh, cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, Typhn, Tuyết, Joseph Thiết… Nhân vật Tạ Đình Hách khác hẳn, Nghị Hách đã được giới thiệu và trình bày là một con người tâm địa độc ác, cướp vợ bạn, dâm đãng, thủ đoạn:

– Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?

– Phải

– Cái thằng cha bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và, chỉ bởi một thủ đoạn ấy, đã tậu được ba trăm mẫu ruộng đất rẻ tiền ấy à?

– Chính thế.

— Cái thằng cha độc ác đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống giếng mà khai người ta tự tử ấy à?

– Nó đấy.

– … Đây này nhé: lão nghị ấy có năm trăm đồn điền trên tỉnh này, một cái mỏ than Quảng Yên này, ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, bạc nhà nó cứ gọi là gà ăn không hết.

Đó chỉ mới là những điều được dân chúng biết, còn bao điều khác trong bóng tối. Cái con người đã dám thốt ra: “Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu, đã tin ở cái quyền năng của tiền bạc, thế lực, chức tước là Bắc kỳ nhân dân đại biểu, giao du với những ông tuần, quan công sứ, quan tổng đốc. Nghị Hách có thể làm bất cứ việc gì như mua lòng một ông quan, rải truyền đơn, làm đại biểu nhân dân, vu cho nhân dân làm phiến loạn, đổi đen ra trắng như lật bàn tay. Con người như Nghị Hách đủ làm một biểu tượng cho bất cứ một xã hội nào, cái xã hội mà trong đó tiền bạc nắm quyền sinh sát con người. Với tiền bạc do thủ đoạn tạo ra, Nghị Hách có con đi Tây học về mở trường, có một Tiểu vạn trường thành, có hàng bao nhiêu cung tần mỹ nữ, kẻ hầu người hạ, mua được cả trinh tiết gái tân. Từ trong cái nhầy nhụa đó, Nghị Hách lại vung tiền ra mua danh vọng, phát chẩn cho dân nghèo (mà chính hắn đã bóc lột) và nghiễm nhiên là một nhân dân đại biểu, rồi từ đó cũng có thể nhận là một nhà ái quốc, cách mạng tranh đấu giúp đỡ dân nghèo, thật là mỉa mai. Ngoài hai hạng người đặc biệt nói trên, chúng ta có thể xếp chung quanh đó những hạng người khác đã là bộ mặt xã hội cho thời nô lệ.

Hạng nho sĩ thất thế: người đại diện là ông đồ Uẩn ở Quỳnh thôn, người mà Tú Anh – con Nghị Hách, một người Tây học, cho rằng: Cũng là một nhà nho hẳn hoi, mà một nhà nho thì vẫn khí khái lắm – nhưng ông đã khí khái thế nào? Ông khúm núm trước cửa quan nhận cho Nghị Hách cưới con, lên mặt với làng, từ bỏ nếp sống cũ để “khi đi qua chợ Đồng Xuân, Long đã thoáng thấy ông đồ Uẩn ngồi vắt vẻo trên chiếc xe nhà mà Tú Anh đã tậu cho Mịch – trông mặt bố vợ hụt lúc ấy có vẻ dương dương tự đắc quá, có vẻ ngạo mạn quá…”

Vũ Trọng Phụng đi từ nhân vật đồ Uẩn đã đưa ra nhận xét về ảnh hưởng của Nho học thời ấy “cái nền học thuật ấy vẫn chế tạo ra những hạng người cực đoan, hay thì hay vô cùng, hoặc dở thì cũng dở vô cùng. Cho nên cái tiết tháo của nhà nho hoặc cái đê tiện của nhà nho đều cùng đứng về hai thái cực cả. Ông đồ Uẩn chính là hạng thuộc về cái thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh lôi cuốn đến không giữ được nhân cách… với một hạng hào thứ hai nữa đã thành thực đi theo đạo Cần Vương cũng như đã thành thực quay về kinh thờ một ông công sứ đến nỗi sì sụp bốn lễ bốn vái mà không thấy ngượng, có thể cho xích tay cả gia đình bạn đồng chí cũ đã cứu mình thoát chết để dâng công mà không hói hận mảy may… người cao khiết quá, giữ tiết tháo một cách nghiệt ngã thì thành ra gàn dở vô dụng cho đời, mà người trung dung quá thiên về chủ nghĩa gia đình quá thì thường vì bốn chữ vinh thân phì gia mà mất hết lương tâm”.

Hạng Tây học: trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói đến bọn Tây học nhiều, nhưng riêng hạng này có thể chia làm nhiều hạng khác nhau:

– Bắt chước cái rởm của Tây phương, tự cho là Âu hóa, cải cách, nhân vật điển hình là Văn Minh. Hắn sang Tây để học ăn chơi, về nước lo cải cách y phục nhố nhăng, moa toa với cả bố. 

– Học Tây đỗ đạt, có tinh thần tiến bộ nhưng chỉ nghĩ tới mình như Tú Anh. Hoặc vẫn nhờ cậy trông chờ ở một thế lực khác như ông huyện Cúc Lâm.

– Theo Tây đến tưởng mình là Tây, như Typhn, Joseph Thiết, Trực Ngôn – đặc biệt là Joseph Thiết, dân An nam vào làng Tây chưa đủ lại còn ở trong đảng Bảo hoàng, “không phải làm việc cho triều Huế, nhưng cho dòng họ Orléans bên Pháp và Léon Daudet”.

Tất cả bọn này tự coi như giới thượng lưu, nói tiếng Pháp, nhảy đầm, chơi quần vợt, ăn uống ở những nơi sang trọng riêng biệt.

Hạng con đẻ của đời sống vật chất: có thể nói tất cả những nhân vật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng do đời sống vật chất mà ra – nhưng có một hạng người đặc biệt hư hỏng, dâm đãng, nhất là đàn bà là do cái đời sống xa hoa, phè phỡn mà tạo ra. Đó là bà Phó Đoan, hai đời chồng, đa dâm, nuôi chó như nuôi chồng, mồm nói kiên trinh, bụng mong bị hiếp – có thể nói đây là một loại đĩ – đĩ có tàn có tán, đĩ có hương án thờ vua, bởi vì chính bà Phó Đoan đã được ban tiết hạnh khả phong. Sau đó đến Thị Mịch. Từ một cô gái quê ngây thơ chất phác trở thành dâm đãng, lãng mạn, xảo quyệt. Rồi cô Tuyết, rồi vợ Nghị Hách… tất cả là nạn nhân của đời sống xã hội.

Hạng học đòi hợm hĩnh: Có thể nói đến cụ cố Hồng, bố của Văn Minh – người đã làm bộ như có con làm quan nói đi nói lại: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi để tỏ ra mình già cả, là cố… moa toa với con, ham danh hão; vừa nghe nói đến Hồng lô tự khanh, đã vội kêu: “Bay đâu bày hương án”. Bên cạnh đó là bà đồ Uẩn, ông Typhn, vợ Văn Minh.

Hạng đầu cơ thời thế: người tiêu biểu là Victor Ban, làm nghề cỡi ngựa thi, làm thuốc lậu, mở nhà chứa, mở khách sạn trở thành giàu có. Cùng với sư cụ báo Gõ Mõ, lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để mưu lợi.

Những điều tôi trình bày ở trên chỉ mới được phác lược chưa đi sâu vào từng chi tiết, nhưng nó đã khá rõ để cho chúng ta hiểu một phần nào xã hội Việt Nam thời nô lệ Pháp. Một xã hội đã thay đổi hoàn toàn trên căn bản do sự du nhập nền văn minh Tây phương. Ở đây do người Pháp đại diện. Một sự thay đổi không phải với tinh thần cách mạng. Chính bản chất của xã hội Việt Nam không phải tiến đến sự thay đổi đó – mà đây là một sự du nhập miễn cưỡng, xã hội bị thay đổi không tự nó.

…Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đứng riêng ra với vẻ cười cười chua chát nhưng đầy căm phẫn trước một xã hội mục nát, bẩn thỉu, cái xã hội chẳng riêng cho thời nô lệ mà cho bất cứ xã hội nào khi ở đó vật chất được đề cao, tiền bạc nắm quyền sinh sát, bọn trí thức thượng lưu ăn chơi cờ bạc, đĩ điếm, bọn cai trị hà hiếp cướp bóc, nơi đời sống bị đè nén, không công bằng, không tự do.

Người ta có thể gán cho tác phẩm của Vũ Trọng Phụng màu sắc bi quan, bất mãn, thiếu xây dựng – đó là một sự lầm lẫn – Vũ Trọng Phụng phải là người can đảm tin tưởng hơn hết, và xây dựng hơn hết mới có đủ sức để viết ra như vậy – xã hội như thế phải bị thanh toán – và Vũ Trọng Phụng viết ra đó cho mọi người phải nhìn thấy con đường và nhiệm vụ phải làm – con đường và nhiệm vụ mà chưa biết đến bao giờ con người mới có thể hoàn tất được. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như một bức thông điệp nhân đạo gửi cho nhân loại với tất cả yêu thương và tin tưởng của một người đã sống và chết đi trong đau khổ, đói rét, bệnh tật – chắc Vũ Trọng Phụng không muốn loài người phải như thế nữa.

Qua những tác phẩm, Vũ Trọng Phụng trình bày xã hội theo con mắt của mình, đó là con mắt của một thiên tài, và với ý thức của một chiến sĩ cách mạng – thiên tài vì nghệ thuật chụp bắt nhân vật và sự kiện, chiến sĩ cách mạng vì Vũ Trọng Phụng đã nắm được căn bản ý thức đời sống con người mà viết nó ra – từ thực tại đó nhân vật sự việc đã vượt ra để trở thành điển hình bất tử

* * *

Đọc trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, nhân khi nói về trường hợp Vũ Ngọc Phan tìm đọc cuốn Giông tố từ khi nó còn được đăng báo cho tới khi in thành sách, tôi mới biết rằng những sách của Vũ Trọng Phụng thuở đương thời đã bị đả kích không ít. Tôi không được biết đã có những ai thời đó lên tiếng trên báo để kết án những sách của Vũ Trọng Phụng là đồi trụy, ngoại lai, sa đọa hay không nhưng chắc chắn là trong xã hội đã có những kẻ dè bỉu kết án nó. Không có bằng có về những kết án lố bịch đó, nhưng tôi nghĩ chắc chắn người ta sẽ dẫn chứng những đoạn nghị hách hiếp dâm Thị Mịch trên xe hơi; Long ngủ với Tuyết trong khách sạn; cảnh Nghị Hách sau khi cưới Thị Mịch về ngồi sờ mó người vợ lẽ có mang, hôn hít, ôm ấp rồi vỗ cái bụng chửa đánh bốp một cái mà kêu: “thế này còn nước mẹ gì nữa!” cảnh Nghị Hách chiếu phim con heo; cảnh Xuân Tóc Đỏ khám ngực cô Tuyết; Xuân Tóc Đỏ nhòm đầm thay quần; cảnh bà Phó Đoan tắm khan vỗ bì bạch vào bụng; Xuân Tóc Đỏ hiếp bà Phó Đoan… và không biết bao nhiêu điều khác để kết án, nhưng có điều chắc chắn tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không phải chỉ thành công, chỉ được dựng thành bởi toàn những điều ấy. Trong phần kết cuốn Giông tố trong cảnh ăn chơi ở một nhà chứa, Vũ Trọng Phụng đã phác họa một bức tranh khá linh động, trong bức tranh đó diễn tả cảnh đồi trụy, cảnh thú vật của người ăn chơi “khách có đến ba chục người… toàn là những thiếu niên tri thức, cử nhân tú tài, giáo sư của Đại Việt học hiệu… Đời là một cuộc chiến đấu. Đời là một cuộc chiến đấu… Một ông giáo khác kêu như hóa dại, như sắp cởi cả quần áo để chạy ra đường – Nàng không yêu ta, ta phải hiếp… nàng. Một ông cử nhân khác gọi: Hỡi khổ chủ. Hỡi khổ chủ, vào hộ một tay mau lên. Một chị em thất thanh kêu lên: Ông giáo gì mà đểu thế. Lúc nãy thì sao đứng đắn thế..”. Đọc lại đoạn đó tôi không hiểu thời đó những nhà giáo – những nhà giáo còn nhiều nề nếp đạo đức cũ, còn phong độ những nho sĩ còn có một đời sống đẹp sáng – có lấy làm khó chịu hay không? Tôi nghĩ chắc những vị giáo sư thực sự là những bậc thầy thì sẽ chỉ buồn lòng ngao ngán cho một thực trạng xã hội, buồn lòng vì trong giới có những người không xứng đáng, các vị ấy hiểu rõ ràng những sự kiện trong một tác phẩm văn chương không phải là một sự bịa đặt hoàn toàn và ở trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng những sự kiện đó được viết ra không ngoài mục đích nói lên tha thiết. Nhưng có lẽ những kẻ đồi trụy hơn ai hết lại lớn miệng hơn ai hết lên tiếng cho rằng nhà văn đã bôi nhọ nhà giáo, đã làm mất uy tín nhà giáo, đã làm cho xã hội đồi trụy, làm những mầm non hư hỏng. 

Người ta có thể, có quyền đứng trên những vị trí cá biệt để lên tiếng trước bất cứ một vấn đề gì liên quan đến đời sống cộng đồng. Để phê phán một tác phẩm văn chương người ta cũng có thể đứng trên những quan niệm đạo đức, luân lý, xã hội nào đó để phê phán, nhìn tác phẩm với con mắt và quan điểm riêng.

Nhưng đồng thời phải nhớ người viết cũng có quan điểm, con mắt riêng của họ. Một tác phẩm văn chương không thể là một cuốn sách dạy luân lý. Và khi lên tiếng phê phán, một người phê bình đứng đắn phải nhìn thấy. Nhưng để nhìn thấy tất nhiên không phải là những con mắt chột, những thành kiến hẹp hòi thiển cận phát sinh từ những tâm hồn vấy bùn, những kẻ chỉ nhìn thấy văn chương mỗi một khía cạnh hạn hẹp là sự ích lợi. Tôi nghĩ, nếu Vũ Trọng Phụng còn sống đến ngày nay, còn tiếp tục viết thì chắc chắn Vũ Trọng Phụng sẽ nhiều lần khóc dở mếu dở trước những hạch hỏi hỗn láo tại sao thế này, tại sao thế kia, xã hội ta đâu có thế này, đâu có thế kia, tại sao không thế này, thế kia, không lành mạnh xây dựng, bệnh hoạn đồi trụy, nguy hại cho tinh thần thanh thiếu niên… Mà trong khi đó có khi chính Vũ Trọng Phụng, hay bất cứ những người viết nào khác lại là những người lo xây dựng, lo lành mạnh cho đời sống hơn ai hết. Tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã minh chứng điều đó với chúng ta. Có tiếng gào thét đòi cách mạng, đòi được sống tốt đẹp hơn nào mạnh bằng tinh thần những tác phẩm mà Vũ Trọng Phụng đã viết?

Văn chương của bất cứ thời nào cũng không thể thoát ra khỏi xã hội của nó, xã hội mà tác giả đã sống ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Nói như thế không có nghĩa rằng người viết chạy theo thời đại, chạy theo xã hội, coi văn chương chỉ là một phương tiện hành động. Văn chương trước nhất phải là văn chương đã, sau đó là những gì tác giả nó viết ra. Những gì viết ra đó là phần nào suy nghĩ, phần nào đời sống, phần nào quan điểm của một người, mà người đó sống trong một thời đại, một xã hội nào đó. Dù muốn dù không không thể chối cãi được điều này. Nó có đó chứ không phải là đặt ra, khoác vào, trùm lên. Chắc chắn Vũ Trọng Phụng cũng không đặt ra những điều ông định nói nhưng là ông thấy phải nói, nếu nói thì nói thế không thể nói khác, viết là phải viết thế chứ không phải là bây giờ phải viết thế này, viết thế khác cho hợp thời, cho ăn khách. Nghĩa là nhà văn viết những gì của nhà văn tự nó. Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là tất cả thời đại ông sống, trong văn chương tiền chiến khuôn mặt thời đại không phải chỉ có trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó có mặt trong rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả nhưng nó kết tinh, nó điển hình nhất trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó điển hình đến độ vượt thoát ra khỏi chính thời đại nó. Đó là bằng cớ minh chứng tài năng của Vũ Trọng Phụng. Nó cũng minh chứng rằng một tác phẩm bám sát lấy thời đại, cuộc sống của một xã hội nào đó không có nghĩa chỉ sống trong một thời, một hoàn cảnh mà nó vượt thoát ra, vẫn thành công…

8-1966
Tập san Văn số 67
Sài Gòn ngày 1-10-1966


  1. Thực tế, Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912

Photo: 33 Devant le Grand Marché
Ville de Hanoi : [album de photographies]
Date: 1916
Couverture temporelle: 1910-1916 ?
Couverture spatiale: Hanoi (Vietnam)
Format: Tirage argentique collé sur carton
Cote: PH04-33
Description: Vue d’un marché à ciel ouvert de Hanoi.