mot-dan-giai-ve-deleuze

Một dẫn giải về Deleuze

Đọc Deleuze: A guide for the perplexed (2006) của Claire Colebrook.

Trong khi các poststructuralist ở Pháp xem xét cuộc sống, hiện hữu, tồn tại, hoặc cái thực trong các hệ thống (chẳng hạn như hệ thống ngôn ngữ), thì Deleuze lại xem các hệ thống được nảy sinh từ và là một phần của cuộc sống. Deleuze tin rằng có tồn tại những dấu vết của cuộc sống bên trong mọi hiện hữu và phi hiện hữu. Ông dành cả đời mình để ngẫm về cuộc sống, và đề xuất khái niệm về sự khác (différence). Với ông, cuộc sống không phải là một điều sẵn có rồi thay đổi và biến hóa, mà cuộc sống nằm ở mọi khả năng của sự khác. Triết học với Deleuze không phải là đi tiếp những con đường đã được đi, mà là mở ra một con đường chưa được mở. Theo đó, triết học không nhất thiết phải có một hình thức chuẩn mực. Triết học không phải là dọn dẹp cho ngăn nắp các suy tưởng, không phải là sản tạo những logic trừu tượng xa lạ với cuộc sống, cũng không phải là giản lược cuộc sống xuống thành một chân lý tinh gọn.

Tư duy là một hành động của sống, nhưng sống không nhất thiết và cũng không miễn cưỡng phải có tư duy. Deleuze không nghĩ rằng cuộc sống là một dạng quyền năng tạo ra trí não con người để từ đó trí não nhận thức lại chính cuộc sống. Ông cho rằng, sự tồn tại của tư duy, trong đó có tư duy về cuộc sống, cũng chỉ là một khả năng trong vô vàn khả năng của cuộc sống mà thôi. Nghĩa là, cuộc sống độc lập với nhận thức con người, bao hàm cả những khả năng mà con người không tồn tại.

Cuộc sống, với Deleuze, không chỉ là sự sinh trưởng, chảy trôi của vạn vật hiện hữu, mà bao hàm cả sự suy tàn, ngưng đọng và cả những tiềm năng của hiện hữu, hay khả hữu. Bởi vì tương tự như triết lý bĩ cực thái lai của Á Đông, chính suy tàn, ngưng đọng là cơ sở của sinh trưởng, chảy trôi. Trong cái nhìn của Deleuze, sự sống không đối lập với cái chết, mà nó chứa đựng cái chết, cùng những lệch lạc, dư thừa, hủy thể, tàn khốc lẫn biến cố của nó. Cả sống và chết đều là hai mặt của désir (từ Spinoza) hay plan d’immanence.

Chính đây là điểm thoát ly của Deleuze với truyền thống triết học cho rằng cái tốt là cái dung dưỡng cuộc sống, còn cái xấu là cái hủy diệt cuộc sống. Deleuze không bao giờ nói một tồn tại về mặt chính trị, nghệ thuật hay triết học nào đó là tốt vì nó phục vụ cuộc sống, Deleuze sẽ hỏi rằng tồn tại đó đang dung dưỡng kiểu sống hoặc cách sống nào. Tư tưởng Deleuze về cuộc sống do đó không thuộc về vitalism như nhiều người vẫn bảo. Deleuze quan niệm rằng hiện hữu chỉ là một trong vô vàn khả hữu của cuộc sống, và nó được mở ra không vì một sự hợp lý nào cả. Ông cũng cho rằng tri nhận về cuộc sống của trí não con người chỉ thực sự bắt đầu khi nó chạm ngưỡng những điều, những sự bất khả tri, bất khả tư nghị.

Từ lập trường này, Deleuze đón nhận sự thống trị của công nghệ mới mà không hề sợ hãi. Trong cách nghĩ cũ, máy móc chỉ là một đứa con của trí óc con người, nhằm phục vụ con người, một phó sản thứ cấp, phái sinh được thêm vào cuộc sống. Đến khi nó bắt đầu có sự phát triển riêng, cách vận hành riêng, vượt khỏi tầm hiểu biết hoặc kiểm soát của nhiều người, thì nó bắt đầu bị kết án là hủy hoại cuộc sống. Nhưng Deleuze nhìn thấy ở máy móc, điện ảnh, thực tại ảo và các sáng tạo khác của trí óc dấu hiệu của sự sống, vì sống, với Deleuze, chính là khả năng của sự khác.

Deleuze định nghĩa lại những sáng tạo của con người không phải như một lệ thuộc, một tồn tại thứ cấp, mà chính là cuộc sống. Bởi cuộc sống không phải là một tồn tại hoàn chỉnh trong một sự phân biệt rạch ròi với những gì ngoại lai với nó. Deleuze không cho rằng cuộc sống là một thứ ngoại tại với sinh thể để từ đó tri giác và tri nhận, mà cuộc sống chính là những liên kết và tương tác đã tạo ra cái mà ông gọi là image – những liên kết và tương tác giữa trí não và cơ thể, giữa các cơ quan với nhau và với các kích thích bên ngoài. Chính image hình thành nhận thức của con người về nội hàm của khái niệm “cuộc sống”. Nhưng trước cả khi khái niệm “cuộc sống” ra đời, những mối quan hệ giữa vạn vật đã diễn ra rồi.

Tâm trí con người, do đó, không phải là thứ cần nhìn vào khi muốn tìm cuộc sống, và cuộc sống cũng không phải hình ảnh được thiết lập thông qua một nỗ lực sắp đặt vạn vật trong một trật tự có nghĩa. Vì những mối liên kết và tương tác, những sáng tạo, hay tri giác vượt ngoài khả năng thâu tóm của nhận thức. Đời sống của một tế bào được nhận thức bởi chính liên kết giữa nó với những tế bào khác; và mỗi tế bào đều có tiềm năng cho multiplicité của các mối quan hệ khác nhau. Trong thế giới này, nó được nhận thức bởi mối quan hệ này, nhưng trong những thế giới khả hữu khác, nó có thể được nhận thức bởi những mối quan hệ khác. Hoa lan và những con ong, chẳng hạn, cần phải liên hệ nhau để sinh tồn. Những bước sóng ánh sáng có thể được tri giác thành màu sắc nhờ đôi mắt, nhưng cũng có thể có một thế giới khả hữu mà ở đó các bước sóng ánh sáng có thể được tri giác bằng nhiệt. Và khi đôi mắt tiến hóa để thích nghi với vấn đề về ánh sáng, những loài mới, những sinh thể mới ra đời.