duong-nghiem-mau-niem-dau-nhuc-cua-khoang-trong

Dương Nghiễm Mậu, Niềm đau nhức của khoảng trống

Một truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu, được mình đánh máy lại và đăng lên blog này. Hôm nay, ngày 2 tháng 8, là ngày giỗ của Dương Nghiễm Mậu.


Tôi bỏ mình nằm lên giường không muốn cựa quậy, quần áo dạ hội lần đầu tiên tôi mặc lên mình không được tới đám đông còn trên thân tôi. Tiếng nói Thúy cất lên như một mũi kim nhọn trích vào tim tôi ê ẩm đau buốt và choáng váng: “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế..”. Bóng tối vây phủ chung quanh bưng bít. Không khí oi bức ngạt thở một buổi tối trở trời như sắp vào một cơn giông bão khiến cho từng tế bào của thân thể rạo rực chung với mọi vật vây quanh. Tôi nằm ngửa nhìn lên trần nhà loáng thoáng những vết sáng song song từ một ngọn đèn ngòi cửa chiếu qua cửa chớp in hình không lay động. Cái bướu, phải rồi chính cái bướu. Tôi lấy tay gối ở đầu ra sờ lên chiếc bướu nằm ngay trên cổ tôi. Một cục thịt to hơn nắm tay trồi lên ở cạnh hàm phía trái. Tay tôi ướt nhép mồ hôi để lên đó, tôi muốn sờ như tìm lại từng chút, từng chút cái sự thật nằm đây mà tôi đã quên lãng. Dù không có ánh sáng, không có tấm gương trước mặt nhưng tôi thấy nó rõ hơn bao giờ hết, nó là một cục thịt phồng ra, bao bọc chung làn da thân thể tôi. Có một khoảng sần sùi màu chàm hơi tía, trên đó có mấy sợi lông đen mọc ra như một khóm lông heo. Cái này có người đã bảo với tôi là cái kiếp trước – những kiếp của tôi là một cái gì đó rất độc ác. Tôi đã đầu thai vào nhiều cửa, nhưng chẳng ai nuôi được tôi, tôi bỏ họ lại. Tôi đã ra vào bao nhiêu lần – rồi đến một lần nào đó có kẻ đã biết – và đánh dấu vào thân thể tôi một chút chàm, một chòm lông heo để cho tôi biết thân và đừng đầu thai vào quấy đảo họ. Nhưng kẻ độc ác nọ đánh dấu ở ngay cổ tôi trên cái bướu này. Sao họ không đổ chàm, chét lông heo vào lưng, vào bụng hay vào những chỗ tôi có thể che dấu? Cái kiếp trước của tôi ra sao? Thực như thế ư? Nhưng còn cái bướu – cái phần ở trong lần lông heo, trong lần da này là gì?

Nó là thịt ư? nhưng sao nó lại lớn ra mãi thế này. Tôi đã bỏ quên nó, nhưng nó đã lớn theo tuổi tôi. Tôi biết như thế, tôi thấy hoảng hốt: rồi nó sẽ lớn bằng cái gì?

Bây giờ nó đã bằng nắm tay – bàn tay tôi vừa đủ úp lên nó, mai kia nó lớn lên mãi, lớn mãi bằng mặt tôi, hơn mặt tôi. Khi đó tôi sẽ có một cái đầu thứ hai, cái cổ, cái vai, cái mình tôi đang có đây phải gánh chịu cưu mang nó. Tôi nghĩ đến khi tôi chết trong cái thân thể kỳ lạ này chắc những con người quan tâm nghiên cứu về cơ thể học sẽ xin cắt cái đầu tôi để nghiên cứu, người ta sẽ ngâm vào trong một cái lọ thủy tinh mà triển lãm – gọi đó là một cái quái thai cho những người sau này ngắm nghía, xem xét, cười cợt – “Thôi tôi van, tôi van đừng làm tôi như thế, không bao giờ như thế phải không, nhất định anh tin vậy Thúy ạ”. Tôi hoảng hốt muốn kêu thành tiếng, muốn phá vỡ cái im vắng tù ngục vây quanh, cái thảng thốt đau nhói của mũi kim cứ ân sâu dần vào tim thỉnh thoảng lay động khẽ cho tôi biết cảm giác đó. Tôi thấy như chiếc bướu từ lúc này bắt đầu lớn nhanh hơn nữa – và tay tôi không còn đủ sức che hết, tôi vội bỏ tay rồi xoay mình nằm sấp xuống giường.

Tiếng chuông đồng hồ đổ chín giờ tối. Buổi dạ hội đã bắt đầu được nửa giờ. Tôi nghĩ đến quang cảnh khu biệt thự, những vòm cây mang phiến lá xanh ngả xuống một mái nhà thấp, có ống khói lớn. Khoảng vườn cỏ xanh, lối đi giải cuội trắng. Rồi những hoa lá trang điểm cùng ánh đèn xanh đỏ như trái chín mọng ngọt lịm, những điệu nhạc bắt đầu dấy lên những âm thanh âu yếm, ngọt ngào như những sợi tơ tẩm vàng óng trải ra vây bắt lấy những đôi trai gái y phục lộng lẫy. Cái âm thanh du dương như một giòng sông nào suôi chảy vang vọng ấp ủ vỗ về cho những bàn tay siết lại với nhau, cho những thân hình quấn quít lấy nhau, những cặp môi, đôi mắt, và những tâm hồn du lên cái khoảng xanh êm dịu của bóng đêm… Những ly rượu khai vị nồng cháy, tiếng cười ròn tan… Tôi đã không tới được đấy cùng Thúy đêm nay như từng giây từng phút, từng giờ, từng ngày trước đó tôi đã mơ tưởng, nuôi nấng – “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế…” tiếng của Thúy lại cất lên.

“Bà Oanh mời chúng ta tới dự buổi dạ hội vào tối thứ bảy tới đây. Bà ta khánh thành biệt thự vừa được kiến trúc lại. Bà ta bảo buổi dạ hội sẽ thêm trang trọng nếu có anh và em” – “Thế anh có bằng lòng dẫn em tới không” – “Sao lại không? Anh chưa bao giờ đến với đám đông có thêm một người thứ hai – Anh chỉ mang một mình anh tới đó như một sự lạc lõng bỏ quên không ai quan tâm. Sự thực lẻ loi này như một thách đố lớn và không ai muốn đoái nhìn. Và tất nhiên anh dẫn em. Muốn hay không là ở em chứ đâu phải ở anh” – “Em nhận lời – em sẽ trang điểm như thế nào theo ý anh” – “Em thì không cần phải trang điểm cũng đủ rồi” – “Em sẽ mặc chiếc áo màu hồng tía có giát kim tuyến đỏ, tóc vấn cao… Anh thì anh khó nói lắm. Em biết thừa đi chứ. Anh yêu cái màu hồng tía ấy ghê lắm…” – “Chỉ có mình anh là khen em thôi. Bây giờ anh hẹn đi” – “Anh sẽ tới đón em trước đó nửa giờ, anh sẽ coi em trang điểm và, nửa giờ để chúng ta tới”. Sau buổi hẹn, tôi thắc thỏm nhìn vào tấm thiếp mời. Tôi may bộ quần áo dạ hội hợp thời trang, tôi căn dặn người thợ may chăm sóc cho nó xứng đáng để rồi tôi đi dự với nàng, chúng tôi có mặt sẽ giúp cho buổi dạ hội trang trọng thêm – Bộ quần áo còn giữ nếp trên thân thể tôi đang bị làm nhàu nát đây không tới đó. Tôi đã giữ đúng giờ hẹn tới nhà Thúy và sẽ thấy nàng trang điểm. Vừa từ cổng bước vào, người u già nhìn tôi ngạc nhiên:

– Kìa cậu Hạnh, tôi chưa bao giờ thấy cậu lịch sự làm dáng như tối nay.

Tôi mỉm cười, hỏi về Thúy, u già kể lể:

– Cô ấy ở trên phòng, mấy ngày nay cô ấy không bước ra khỏi phòng, như lo nghĩ chẳng vui vẻ và ăn uống điểm trang gì cả…

– Sao vậy – Tôi nghĩ chắc nàng cũng thấp thỏm chờ đợi như tôi. Chúng tôi chưa bao giờ đi đâu với nhau. Buổi dạ hội này như một sự giới thiệu cho mọi người biết chúng tôi đã đính hôn. Điều mà không ai ngờ tới. Tôi đi vội vào nhà.

Mẹ nàng ngồi ở phòng khách đứng lên, tôi cúi đầu chào.

– Sao mấy bữa nay anh không tới. Em nó làm sao ấy…

– Dạ, xin phép bác cho cháu lên thăm em…

– Chắc nó mong anh đấy. Không khi nào tôi thấy nó lạ như ít bữa ay.

Tôi bỏ phòng khách chạy vội lên với nàng. Gian phòng riêng thân mật ấm áp vẫn như mọi bữa. Ánh sáng vừa nhạt cho tôi thấy Thúy đẹp lạ lùng ngồi tì tay nơi ghế. Chắc nàng chờ tôi rồi mới bắt đầu trang điểm theo ý tôi. Nhưng thái độ, cử chỉ vui mừng của tôi không làm nàng vui, nàng khẽ chào tôi, và ngồi im nơi ghế. Tại sao? Nàng nhìn tôi từ đầu đến chân, và nhìn vào mặt tôi lâu hơn nữa rồi hai tay ôm lấy mặt mà khóc.

– Sao em, thế em quên hôm nay anh hẹn em đi dạ hội sao? gần đến giờ rồi…

– Anh đừng nhắc dạ hội nữa. Anh ngồi xuống đi. Từ sau hôm hẹn với anh em khổ quá, không giờ phút nào em không nghĩ đến anh, nghĩ đến mặt anh…

Tôi như một cái máy ngồi xuống ghế nghe nàng nói, nhưng nàng không nói tiếp được.

– Chắc em ngại đám đông vì em không quen, thì thôi chứ sao em khóc làm gì…

– Em nghĩ còn sau này, sau này nữa chứ… Tôi hỏi bao nhiêu nguyên do, nhưng nàng đều lắc đầu bảo không, mãi đến lúc tôi sắp ra về nàng mới nói:

– Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế…

Tôi đứng soi mặt tình cờ vào tấm gương trang điểm của nàng, lúc đó tôi mới thấy, tôi mới biết, tôi mới hiểu cái bướu đang ngự trị trên cổ, cạnh mặt tôi đây. Tôi để tay lên đó để sờ thấy nó hiện hữu giữa đời sống. Điều mà khi tôi yêu nàng – khi mà tôi yêu tôi – tôi bỏ quên nó, tôi không quan tâm đến.

Nàng ôm mặt khóc. Tôi lấy tay giữ lấy cái bướu bỏ chạy ra khỏi phòng, xuống nhà tôi quên cả chào hỏi, dừng lại. Tôi chạy mau, tay giữ bướu tự mở cửa ra đường. Tôi hốt hoảng lo lắng khi có người, tôi sợ họ nhìn thấy. Tôi nghĩ rằng người ta đang hò hét quanh tôi đòi bỏ tay ra cho họ nhìn, bao nhiêu bước chân đuổi bắt rộn lên, rồi điệp điệp trùng trùng những khuôn mặt xa lạ, ghê gớm, quỷ quái hiện đến như chỉ thấy cái bướu tôi mang trên thân thể. Tôi dùng tất cả sức lực mình cố chạy cho nhanh, lẩn trốn vào bóng tối. Tôi muốn vươn tay phá lũng tất cả ánh sáng đang chiếu rọi chung quanh. Chừng như nó sáng thêm, sáng một cách rực rỡ, đùa cợt làm cho tôi không biết đâu ẩn thân. Trở lại phòng tôi khóa cửa chắc chắn rồi lăn mình trên giường – Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế… Sao nó lại có? Sao nó lại lớn? Rồi nó lớn đến chừng nào? Trong lần da mỏng này nó là cái gì? Cái kiếp trước của mình ư?

Tại sao từ bao nhiêu năm nay tôi quên cái bướu lớn theo bên mặt tôi – nhất là từ một năm trở lại đây, từ ngày tôi gặp lại nàng – lúc đó nàng có thấy cái bướu chứ? và để mãi cho đến bây giờ mới nhìn thấy. Buổi tối nay nàng nhìn tôi rất lâu – nàng nhìn cái bướu lâu hơn, kỹ càng hơn rồi ôm mặt khóc không dám nhìn vào đó. Nó bỗng nhiên đứng lên to lớn giữa đời sống để cho nàng, cho tôi cùng nhận ra – rồi đám đông cùng đến một lúc đối diện và ngăn cách tôi – “Anh thấy rồi em ạ, chắc em vẫn còn đang khóc và còn khóc. Mười mấy năm trời rồi, lúc nhà anh, nhà em còn ở bên nhau. Cái huyện lỵ bé nhỏ chỉ có mỗi một dãy phố chợ, nhà em ở đầu dãy, nhà anh ở đó cùng em. Em đừng khóc nữa, anh sẽ kể lại em nghe thời thơ ấu, của dĩ vãng, năm bấy giờ anh còn sống bên gia đình trong một ngôi nhà nhỏ mái ngói nâu. Hai nhà cách nhau một hàng dâm bụt xanh có hoa màu đỏ. Những năm đầu tiên chúng ta cắp sách đến trường huyện, mỗi ngày chúng ta đi về với nhau.

Ngày bấy giờ em như một trái đào nhỏ, anh và em thời thơ ấu. Chúng ta học thi xem đứa nào thuộc bài, nhiều điểm – mỗi lần trước khi tới lớp chúng ta cùng ngửa tay ra xem tay đứa nào sạch… những ngày nghỉ, em nhớ không, chúng ta cùng nhau làm cỗ hoa, lá dâm bụt, bằng một củ khoai, cũng nấu nướng đơm cỗ và mời mọc. Chúng ta đã làm đám ma một con ruồi, em đã khóc và anh đã khóc… nhiều lắm, bao nhiêu thứ, bao nhiêu kỷ niệm, dù không gợi ra em cũng nhớ, anh tin rằng em nhớ. Ngày ấy anh mang tên như một cái mặt sị, bụ bẫm của anh – Bệu – nghe tức cười thật, còn em, em là bé Thúy của ông giáo Trúc… Nhưng ngày ấy, em nhớ chứ, trên cổ anh chưa manh nha một triệu chứng gì rằng anh có một cái bướu đang hiện diện trong đời sống đây. Anh nhớ rằng sau đó gia đình em nghèo dần rồi rời phố huyện đi. Em cho anh một con búp bê. Em đi với một cỗ xe ngựa màu nâu. Ai cũng buồn. Anh đã khóc. Mối xúc động ấy có phải vì em không? Những ngày sau đấy anh chẳng hiểu rằng em đi đâu, có điều chắc chắn rằng em đi xa lắm, không bao giờ thấy, như một cái gì vô cùng hoang đường mà mỗi người chúng ta thường lưu giữ. Anh lớn lên, anh không còn vui đùa với em, anh bỏ anh lêu lổng cùng khắp phố huyện, đánh bi đánh đáo, tắm sông rồi mỗi buổi chiều ra đứng bên đường xe lửa la thét với còi tàu, nhiều lần nhảy lên những toa xe cuối trở than, anh nghĩ nếu anh ngồi xuống đó con tàu sẽ mang anh đi xa – rất xa và có thể tới nơi em ở. Nhưng không bao giờ. Anh la thét ném đá cho những con tàu bỏ anh lại với đời sông huyện lỵ… ngày tháng trôi mau, mười mấy năm trời sau đấy cái bướu này đã mọc và lớn lên từ lúc nào. Anh không sao nhớ được. Anh nhớ thuở xưa nơi cổ này chỉ có chút màu chàm và lông heo, nó chỉ như một người có nốt ruồi thịt và mấy sợi râu. Nhưng cái bướu đã lớn làm cho khoảng da căng thêm, hình như lông mọc nhiều hơn. Thời thơ ấu chưa có, khi anh yêu em cái bướu mới lớn… Rồi sau này!… rồi sau này – phải rồi cái bướu, chính cái bướu. Bao nhiêu con mắt có con mắt của em không? như nhưng mắt súng đang nhìn vào mặt anh này hình như đòi được xét đến. Không thể nào đem cái mặt này đi bên cái mặt kiều diễm của em. Anh không muốn và cả em nữa – vậy thì đúng rồi em từ chối đến buổi dạ hội tối nay là phải, và điều quan trọng hơn hết em đã nói cho anh biết: Anh có một cái bướu. Thôi em đừng khóc, để anh ru em trở về khúc ca của dĩ vãng và anh hiện ra với thời dĩ vãng, anh mang em về đời sống và ngày mai… này thôi em… em biết, anh biết lắm”. Tôi nói lẩm bẩm trong miệng như van lơn, hơi thở nóng hầm hập phả xuống lần gối; đầu tôi nhức nhối, chân tay ê ẩm không muốn cựa quậy. Bộ quần áo mới cứng và chật làm cho thân tôi nóng bức, bực dọc. Không khí vây quanh vẫn im lìm. Tôi trở dậy bật đèn thay quần áo. Tôi yên tâm giờ phút này không còn ai quấy rầy tôi nữa.

Tôi thấy tôi rối trí quá thường. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra với cái bướu. Tôi nhớ rõ hồi xưa nó chỉ một chút. Hay nó cũng như một đời người, những năm thơ ấu qua đi cho đến tuổi dậy thì, sau cơn sốt vỡ da nó mới lớn dậy và trưởng thành. Năm nay tôi 22 tuổi, tôi vừa ở tuổi dậy thì, người ta phải qua năm 25, 26 mới hết lớn, vậy chắc tôi còn lớn – và cái bướu còn lớn theo. Tôi nghĩ xem nó có phải một bệnh di truyền không: Năm tôi còn nhỏ đã mồ côi – năm 10 tuổi. Tôi nhớ về cha mẹ tôi mơ hồ vì tôi không được sống với cha mẹ. Tôi là đứa con thứ hai và cũng là con út. Tôi có người chị lấy chồng sớm, hơn tôi một tuổi – sau khi sanh đứa cháu đầu lòng thì qua đời vì bệnh tràng nhạc. Hay tôi mắc cái bệnh đó? Nhưng sao lâu thế này, lớn thế này tôi không thấy đau đớn gì? và tôi vẫn chưa chết? Tôi ở với bà nội, sau khi sinh tôi, cha mẹ tôi bất hòa mỗi người ở một nơi. Tôi chưa sống lâu với cha mẹ tôi. Tôi ở với mẹ tôi, mẹ tôi nói xấu nguyền rủa cha ôi. Tôi sang ở với cha tôi, cha tôi nói xấu và nguyền rủa mẹ tôi. Tôi là một đứa con, tôi là một cái bị thịt – một cái đích để hai người chửi và nguyền rủa cho tôi chịu đựng, tủi hờn… không ai thương sót vỗ về an ủi tôi, tôi như người khác máu không liên lạc gì về ai – trừ bà nội tôi.

Tôi mang nỗi tủi hờn về cho bà tôi an ủi nguôi ngoai, chính thế nên ở với cha hay mẹ, tôi chẳng dám nhìn vào mặt ai, nên sau khi hai người qua đời tôi không nhớ rõ từ nét mặt, dáng dấp… và tôi chẳng nhớ giỗ chạp bao giờ, may tôi còn nhớ tên ở trong tờ khai sinh để đề vào những giấy tờ…

Không biết cha hay mẹ tôi có bướu ở cổ như tôi không? Tôi chợt nhớ tấm ảnh chụp gia đình tôi năm tôi còn nhỏ, tôi còn mang theo. Tôi lục tìm ra soi dưới ánh sáng đèn. Tấm ảnh đã cũ, nó nhỏ bằng bàn tay tôi. Bà nội tôi ngồi trên chiếc ghế bành ở giữa, hai bàn tay sòe ra ở đầu gối, hai bàn chân cũng sòe ra. Bên cạnh có cơi trầu, ống phóng. Cha tôi mặc áo gấm có hoa, đầu rẽ đường ngôi thẳng chải dầu bóng, mẹ tôi chít khăn có để tóc đuôi gà mặc áo tứ thân cầm quạt, chị tôi mặc áo dài tóc để cun cút – và tôi thấp bé, đầu trọc, đeo khánh, quần sẻ đũng… mỗi người trong tấm ảnh chỉ to bằng đầu đũa, mặt tôi nhỏ hơn hạt ngô – vì vậy tôi chẳng nhìn thấy dấu vết gì về chứng tích của một cái bướu ở cha hay mẹ tôi. Tôi chưa thấy ai như vậy. Sao tôi lại có.

Khoa học ngày nay tiến bộ, ai cũng biết, vậy đối với cái bướu này chắc chẳng nghĩa lý gì, nó là một cục thịt cứ việc cắt đi là hết. Người ta còn đổi đàn ông ra đàn bà và ngược lại – vậy đối với tôi: Tôi tự nhiên thấy yên tâm. Tôi cất tấm ảnh vào chỗ cũ rồi mở cửa ra ban công đứng nhìn xuống đường. Có một cơn mưa nhỏ đổ xuống lúc trước vừa dứt hạt, mặt đường nhựa bóng nhẫy ánh đèn mấy vòm cây xanh đen đứng đằng xa. Trong khoảng mây tối trên đầu hỉnh ảnh khuôn mặt Thúy hiện ra với một vẻ sầu thảm, đôi tay úp lên mặt và những búp tóc xõa vây quanh – Không sao đâu em, anh thấy rồi và anh có thể làm mất nó, em sẽ ngạc nhiên thấy nó không còn, khi đó chúng ta sẽ dự một buổi dạ hội khác – Nó là một vật thừa trên thân thể anh… Tôi nhớ lại một thằng bạn có lần bảo tôi: Cái mặt mày kỳ cục và quái gở như thời đại này. Tôi cho đó là một câu đùa cợt. Nếu nó hợp với thời đại, đúng với thời đại thì sao nó không được người ta công nhận – Nhất là người yêu tôi. Nó là một sự phi lý đến cùng cực mà mọi người chối bỏ. Nếu tôi chỉ có một mình, tôi sẽ nuôi nấng nó như tôi – Nhưng tôi còn những ràng buộc vây quanh nên nó là một kẻ lạ, một sự quái gở – Một hiện tượng quái gở mà mọi người chỉ mặt gọi tên nó. Nó ở một mình trên thân thể tôi, hay ở một thiểu số nữa. Cái thiểu số này, đám đông từ chối, bởi vì họ sợ họ là một sự thiếu thốn một sự quái gở lớn lao hơn.

Tôi bỏ tay vuốt thanh sắt ban công mát lạnh, những hạt nước còn đọng lại, tôi đưa bàn tay lạnh đó ấp lên cái bướu. Cảm giác lạnh làm tôi rùng mình và nổi gai ốc khắp người – “…Sao mày lớn quá thế, như vậy tức là mày không muốn yên thân phải khong? Quân phiến loạn. Nhưng vô ích con ạ! Mày biết thân phận mày không chứ?”

Qua một đêm trằn trọc làm buổi sáng hôm sau tôi dậy sớm, tôi nghĩ đến ông bác sĩ quen – ông ta là người đã khám sức khỏe tôi nhiều lần. Chính ông cũng đã bảo cho tôi biết hồi xưa tôi đau ruột thừa, điều tôi không nghĩ ra. Tôi tin ông có thể biết căn nguyên cái bướu này. Tôi sửa soạn mặc quần áo, trước khi ra đường tôi đứng soi mặt vào gương. Tôi hốt hoảng nhìn cẩn thận lại mặt tôi – Cái bướu qua thêm một đêm chừng như đã lớn hơn nhiều. Phải cắt nó đi. Tôi nghĩ vậy. Tôi đi ra ngoài đường và chờ ở một trạm xe buýt – giờ đi làm nên đông đảo. Tôi thấy mọi người hình như chăm chú nhìn tôi. Một người già nhắc lại gọng kính. Hai người con gái sì sào nói nhỏ rồi cùng nhìn mỉm cười. Người thanh niên đứng trước mặt quay đầu lại. Khắp tất cả, ngay một đứa trẻ cũng để tay soa lên cổ nó, như ở vị trí cái bướu của tôi, để xét xem nó có một cái bướu không. Hai tai tôi nóng ran, chắc đang đỏ tía lên nữa. Tôi muốn lấy tay che lên cổ, nhưng hai bàn tay đều ngượng ngùng, thừa thãi không biết cất dấu đi đâu. Tôi nhìn xuống đất rồi lủi ra đầu đường. Tôi vội gọi một chiếc xe nhảy lên. Tôi không còn muốn nhìn vào mặt ai nữa.

Tôi là người thứ hai trong phòng khách đợi. Phòng khám bệnh chưa tới giờ mở cửa. Hai dãy ghế dài bọc vải xanh quay mặt vào nhau. Người khách thứ nhất là một người đàn bà đứng tuổi mặc quần áo đen và buộc một tấm khăn trắng mỏng lên đầu kín cả mang tai. Bà ngồi ở góc kín nơi tay phải, lúc tôi bước vào bà hơi ngẩng lên nhìn chậm chạp. Đôi mắt dại vàng nằm sâu ở quầng mắt thâm đen. Màu da vàng sám có bội nghệ.

Bà ta ngồi thu một chân lên ghế ôm vào ngực và thỉnh thoảng ho khan.

Tôi ngồi ở ngay đầu ghế bên này. Nhìn vào tấm cửa mở hé vào phòng khám bệnh. Gian nhà vẫn không thay đổi gì – làn gạch vàng dưới chân – làn vôi trắng khỏa khắp các mảnh tường và trần – mùi thuốc phảng phất. Người y-tá trở ra vặn chiếc quạt trần, người đàn bà nhìn lên và ra dấu tắt đi. Tôi lặng thinh, người đàn bà tự nhiên lên tiếng:

– Tôi gặp hơi quạt là như muốn sốt rét. Khổ quá ông ạ, xin lỗi nếu ông không vừa lòng.

– Dạ thưa bà không sao, tôi cũng sợ quạt, chắc bà bệnh đã lâu.

– Vâng tôi yếu lâu lắm, người bảo đau gan, người bảo đau phổi… uống thuốc Bắc mãi không khỏi, nên đi khám xem bác sĩ bảo bệnh gì. Còn ông, chắc ông đau cổ.

Tôi giật mình, sao bà ta lại nghĩ thế. Tôi vội bảo:

– Không, tôi không đau cổ. Tôi đau tim bà ạ.

– Xin lỗi ông, tôi tưởng cái nhọt thì đau lắm. Tôi chưa hề gặp ai thế.

– Dạ vâng. Tôi có thế từ hồi mới sinh, nó là một cái tật, như một ngón tay, ngón chân thừa vậy thôi.

– Thưa ông thế nó không đau ạ?

– Không, thưa bà nó như thường vậy thôi.

Bắt đầu thêm có hai bệnh nhân đến. Một cụ già và một thanh niên trẻ hơn tôi. Hai người ngồi ở ghế đối diện. Không ai nói nữa. Câu chuyện giữa tôi và người đàn bà không tiếp tục và tôi cũng không muốn nói đến cái bướu. Tôi đau tim, tôi hơi tức cười khi trả lời câu đó. Nhưng biết đâu, tôi lo lắng và nghe ngóng, tôi thấy như cái bướu bắt đầu phập phồng và tiếng đập ở đấy.

Nếu thực sự tim ở đó thì tôi sẽ làm sao? Bắt buộc gì tim cứ phải ở ngực, khi tôi sinh ra biết đâu không phải là một sự sắp xếp sai lầm. Cũng như cái bướu, sao lại cái bướu có ở cổ tôi mà người khác không có, nhất nữa tôi không thấy dấu hiệu gì bảo rằng đây là một căn bệnh. Tôi cố gắng gạt ý nghĩ ấy đi, nhưng tôi chẳng yên tâm chút nào.

(còn nữa)

mai-thao-con-duong-duong-nghiem-mau

Mai Thảo, Con đường Dương Nghiễm Mậu

Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau “viễn phương” hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, tờ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần sà lỏn của Doãn Quốc Sĩ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng” “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” người bạn ngạc nhiên hỏi. “Mặc moi” tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồi côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình, sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một toà báo của Mậu. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.

Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hỏm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mĩm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang Cộng Sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: “Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy”. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn chỗ đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã “phải đi”, cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói loà. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: “Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ”, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh “Dương Nghiễm Mậu”. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: “Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa” và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lỉnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.

Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

– Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.

– Sao lại những hai tên?

– Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:

– Anh bị bắt vì tội gì?

– Tôi không biết.

– Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

– Nghề văn nghệ sĩ.

Tên quản huấn dốt nát chẳng hiểu nghề văn nghệ sĩ là cái nghề quỷ gì, nhưng nét mặt rạng rỡ:

– Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiểm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh Cộng Sản. Cái “tội văn nghệ sĩ” do tên quản huấn dốt nát định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đểu dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế và đang phải sống giữa chế độ hiện giờ của chúng ta. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.

Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh “Sáng vác ô đi tối vác về” rồi nhé, Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ Cộng Sản, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm: “Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?” Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

cai-chet-cua-tam-ich

Cái chết của Tam Ích

Bài viết của Viên Linh, đăng trên Khởi Hành số 139, Sài Gòn, 13.1.1972. Viết bổ sung 2006.


Tam Ích tên thật là Lê Nguyên Tiệp, sinh năm 1915 (có nơi ghi là 1917) quê xã Ngọc Đường, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, là con trai của cụ Tú Lê Nguyên Long, ông đã rời gia đình quê quán vào Nam từ năm 1935 tham gia nhóm Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu. (*) Hồi thập niên ’40, đầu ’50 thành lập nhóm Chân Trời Mới cùng các bạn Thiên Giang, Thê Húc, ước vọng hoạt động cải cách xã hội, nhân sinh, tất cả những gì ông ôm ấp chỉ còn lại trong sách vở.


Nhà văn, nhà phê bình, giáo sư Tam Ích, hồi 14 giờ chiều ngày 5 tháng 1, 1972, đã treo cổ tự tử tại tư thất số 563/74 đường Phan Đình Phùng, Sài gòn, để lại bốn bức thư tuyệt mạng gửi cho nhà chức trách, thân nhân và ông Ngô Đình Căn, Hội Subub, cùng hàng ngàn bộ sách quý.

Được biết, lợi dụng lúc toàn gia đình đi vắng, ông Tam Ích đã ra sân thượng, dùng nhiều quyền tự điển và các sách bìa cứng xếp chồng lên nhau, chui đầu vào chiếc thòng lọng đã buộc sẵn từ một sà ngang, rồi đạp đố chồng sách dưới chân.

Thuở thiếu niên ông là một học sinh rất giỏi ở trường Vinh cùng thời với ông Phạm Biểu Tâm ở trường Y khoa sau này. Ông cũng là một nhà văn nổi tiếng cánh tả, đã cùng với hai ông Thiên Giang và Thê Húc thành lập Tủ sách Chân Trời Mới, xuất bản loại sách nghiên cứu phê bình Văn Học Chính Trị có khuynh hướng Xã hội. Ông cộng tác với hầu hết các tạp chí văn học uy tín tại Sài gòn, có thể kể Giữ thơm quê mẹ do Nhất Hạnh chủ trương (1965), Tư tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh do Tuệ Sỹ chủ bút (1966-), Văn do Trần Phong Giao điều hành, Khởi hành, Diễn đàn, Thời tập của Viên Linh. Tác phẩm đã xuất bản của ông có thể kể:

  • Nghệ thuật và Nhân sinh, Chân Trời Mới, Sài Gòn, Nam Việt [*đề trên sách], 1949; cùng viết với Thiên Giang, Thê Húc.
  • Dialogue, Pháp ngữ, Lá Bối xuất bản, 1965.

Nhiều người viết, trong đó Nhất Hạnh viết tiếng Anh, và Tam Ích viết tiếng Pháp. Bài của Tam Ích nhan đề: Lettre à André Malraux.

  • Trẻ Guernica, Lá Bối.

Nguyên tác của Hermann Kesten, Blanche Gidon dịch ra Pháp ngữ, Tam Ích “diễn” ra Việt ngữ. Chữ diễn là do Tam Ích muốn dùng như thế, hơn là dịch.

  • Sartre và Heidegger trên thảm xanh, 1968.
  • Ý Văn, I, Lá Bối, 1967. (lưu trên mạng Talawas)
  • Ý Văn, II. và Hồ Sơ Văn Hoá. (Tác phẩm chưa xuất bản).

(Tác phẩm đắc ý cuối cùng của ông, tập nghiên cứu về hiện sinh và các bài đã đăng trên các tạp chí văn học.)

Khoảng ba bốn năm gần đây, vì tình trạng sức khỏe, ông đã tạm nghỉ việc huấn luyện sinh ngữ và dạy triết tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, Đà Lạt, Louis Pasteur v.v… Ông được bốn người con gồm ba trai và một gái, tất cả đều đã trưởng thành. Ông thọ 58 tuổi.

Nhóm Chân Trời Mới đã tung hoành một thời gian trong làng báo và ngành xuất bản mà những bài tham luận của Tam Ích được đón đọc một cách nồng nhiệt, uy thế của Tam Ích lên cao thì Mật Thám Pháp bắt ông tra tấn đánh đập tàn nhẫn hàng tháng trời nhưng ông không khai ai hết. Cuối cùng Tam Ích bị Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đưa ra Đà Nẵng an trí. Tại đây ông làm Tự vị Pháp Việt với Đào Văn Tập và đi dạy Pháp Văn.

Khi trở về Sài gòn, Tam Ích không hoạt động gì nữa. Năm 1954 đồng bào miền Bắc di cư vào Nam trong đó có đồng bào Công Giáo Ba Làng tức là các làng Sùng Mãn, Ngoại Hải, Như Xuân và các làng không Công Giáo như Du Xuyên, Biên Sơn, Ngọc Đường, đã báo tin cho Tam Ích biết cụ Tú Ngọc Đường thân phụ của ông đã bị chính người con trai, cũng là em ruột của Tam Ích, một cán bộ đệ tam, đưa ra tố khổ. Cụ Tú Ngọc Đường phải tự vận chết, còn cụ bà thì bị đuổi ra khỏi nhà. Hẳn là từ đó những sách vở mà ông cho là tiến bộ của thời đại, chủ thuyết mà ông và bằng hữu thời trẻ lập nhóm để nghiên cứu, nhà xuất bản Chân Trời Mới in những nghiên cứu sưu tầm và những hệ luận từ đó mà có, đáng để ông giẫm chân lên, bước vào cõi chết.

Tôi không có mặt tại hiện trường, chỉ hỏi quanh những bạn bè từng tới lui nhà Tam Ích, như Hoàng Trúc Ly, Trần Tuấn Kiệt, rằng có ai có mặt ở đó ngay tức khắc không, và chồng sách mà ông giẫm chân lên là những cuốn nào, ngoài “mấy cuốn từ điển” như người ta nói. Không ai biết gì hơn.

Theo một thư mục nọ, thì bảy phần mười sách của Chân Trời Mới in ra, mà Tam Ích là linh hồn, là sách nghiên cứu, khảo luận. Hai phần mười là sách dịch, còn lại mới là truyện. Như thế, sự đóng góp của ông nhiều lắm.

Tôi tin dưới chân Tam Ích, cách một khoảng không, có những cuốn như Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp, Giữa Hai cuộc Cách Mạng, Văn chương và Xã hội, Cuộc cách mạng Việt Nam thành công chăng?… Toàn sách do Chân Trời Mới in khoảng 1947, 48, 49.

Cái chết của nhà văn Tam Ích khiến giới cầm bút Miền Nam buồn bã. Và ngậm ngùi. Có lẽ ngậm ngùi nhiều hơn. Nguyên do thúc đẩy tới sự việc hiện chưa ai được biết rõ, và trong lá thư gửi cho nhà chức trách, kẻ tuyệt mệnh “yêu cầu đừng điều tra về cái chết của ông, bởi ông tìm lấy” như Dương Trữ La viết trong tin Thời sự Văn nghệ Khởi Hành, nhưng nhìn qua thì ngoài những phiền bực, những hệ lụy của đời sống thường tình phải có trong một ‘thời đại pháo xiết,’ hẳn còn những nguyên do có thể suy đoán – một cách xa gần – thường khiến những người trí thức tự kết liễu đời mình. Những tuyệt vọng và những phi lý người khác không thể nhìn thấy như người trong cuộc.

Giẫm chân lên một chồng sách cao, hất đổ chồng sách xuống, ông bước cái bước cuối cùng trên dương thế, trên chữ nghĩa, trên chủ thuyết. Buông hai chân trong không, và hai tay trong không, ông chết đứng, chết lửng lơ. Cái chết không thoải mái, cái chết rất khổ cực, cái chết khó thở. Năm mươi tám tuổi là còn trẻ lắm. Còn sống lắm. Nhưng hẳn là người quá cố đã thấy đời sống không còn ý nghĩa gì nữa.

Lửa giường, lạ thay lần này không ấm nữa. Ngọn đèn dầu lạc cũng không còn để làm gì nữa. Và tiên dược vốn gây nên những thiên đường ảo giác lần này vô dụng, tuy rằng chưa chắc ông đã cần những ảo giác do nó đem lại. Nó vốn là thuốc quên, lần này thật là hiếm hoi, không còn công hiệu chút nào. Người quá cố nhất định còn sáng suốt đến giây phút cuối cùng. Nhưng đã phải chọn cái chết. Điều đó thật là buồn rầu. Càng buồn rầu hơn khi những năm sau này ông đã xa cái Chân Trời Cũ kia, và hô hào cho một nền văn chương dân tộc, là “văn chương Miền Nam vạm vỡ,” như ông viết trong bài “Văn chương tân Duy nhiên ở Việt Nam” đăng trên Khởi Hành.

Nhà văn mới quá cố là người tôi có dịp liên lạc nhiều trong mấy năm sau này, từ khi ông viết cho tờ Tuần báo Nghệ Thuật – tôi làm thư ký toà soạn, 1966 – viết cho Khởi Hành – và viết thường xuyên “mỗi tuần chỉ một trang” cho tờ tuần báo Diễn Đàn từ khi tôi làm chủ bút tờ tuần báo này.

Ông là người dễ dãi, nhiều tin tưởng, vui vẻ nhưng có đôi chút mặc cảm với lớp trẻ tuổi, tôi nhận thấy như thế, nhưng hy vọng nhận lầm. Tôi không rõ đây là mặc cảm gì, nhưng có một cái gì đó như là ngập ngừng; hay tính ông vốn thận trọng, e dè chăng? Một cách nào đó tôi thấy Tam Ích rất đắn đo khi nói chuyện, giống như cách viết của ông – ông hay dùng những gạch ngang trong câu văn – một cách như là dừng lại để nhấn mạnh, dừng lại để nói thêm – trước khi để câu văn nối mạch.

Ký giả Lô Răng cũng nhận ra điều mô tả ở trên, nhưng viết một cách khác:

“Tam Ích và Hà Thượng Nhân là chỗ quen biết lâu năm. Một bữa Tam Ích có đến toà soạn [Tiền Tuyến] tìm họ Hà, không gặp. Trong lúc ngồi tiếp ông Tam Ích, tôi thấy ông nói năng rất kiểu cách, thái độ nhã nhặn. Tôi nhớ ông có để lại một cái danh thiếp trên đó ông viết cho Hà Thượng Nhân một đôi câu tiếng Pháp rất văn hoa.

Thái độ của ông bữa ấy làm tôi suy nghĩ. Ông là một nhà báo, nhà văn “tiền bối” nổi tiếng đã lâu rồi. Ngay từ hồi mới hồi cư về thành (1950) tôi đã thấy nhiều bài văn, bài báo của ông xuất hiện ở trong Nam, cùng một lứa với Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, v.v… Tuổi của ông cũng đã lớn, trên 60. Tại sao đối với một kẻ hậu sinh như tôi mà ông lại khiêm cung quá vậy?” (**)

Trong cái nhìn của người viết bài này, cái đáng quí nhất ở ông là nhận mình là nhà văn lớp trước, đã thất bại, ông tạo cho một số người đi sau cái hào quang rực rỡ về việc cầm bút; trong khi qua tấm gương cụ thể nhất là ông, nghề cầm bút không rực rỡ như thế. Vì thời thế, ông lạc lõng.

Cũng nhờ có cuộc đảo chính 1963, không khí chính trị bớt ngột ngạt, và môi trường văn hoá mở rộng hơn, ảnh hưởng ky-tô-giáo xẹp đi dần, báo chí có tinh thần Đông Phương, khuynh hướng dân tộc, trở về nguồn, và Thiền học nhẹ nhàng như một cơn gió mát, một lớp sương mai làm chân trời xanh hơn, mơ màng hơn, đẹp huyền diệu hơn. Nếu không có cuộc đảo chính đó, chưa có các tạp chí như Giữ Thơm Quê Mẹ, Tư Tưởng, Nghệ Thuật, và chưa có những Đại Học như Vạn Hạnh, Hoà Hảo,… và những trí thức như Tam Ích, Thạch Trung Giả, Hồ Hữu Tường… chưa thể xuất hiện trở lại.

Một điều khác là Tam Ích làm giảm đi ảnh hưởng các nhà văn nhà thơ quốc tế bên các nhà văn nhà thơ Việt Nam; nhấn mạnh nhiều lần rằng chúng ta dư sức viết hay như họ, không lý gì để nghĩ rằng Tây là nhất, Mỹ là nhất. Ta cũng vẫn nhất như thường. Điều này rất quan trọng khi mà trước đó không lâu, và kéo dài trong nhiều năm, mấy ông du học Tây, ở Bỉ về nước đem theo thơ văn những Paris, những tóc vàng, những nhân vật chêm tiếng Pháp linh tinh tạo cho độc giả trẻ cái lại căng trí thức và một khi nói đến Văn đến Triết là nói đến Prévert, đến Sagan, đến Sartre, … Những người như Tam Ích, tiếng Pháp không thua mấy ông Tây con kia, đề cao văn chương dân tộc, ca ngợi Việt Nam, đã góp công rất nhiều để Văn học Miền Nam thời kỳ thứ hai, – từ 1964 tới 1975 – phong phú hẳn so với thời kỳ 1954-1964.

Trên tờ Nghệ Thuật trước đây cũng như ngay trên mặt báo Khởi Hành này, Tam Ích có nói tới vài ba cây bút trẻ là những người có những “truyện ngắn hay nhất trong thế kỷ này” mà ông đọc được. Nói như thế chắc là không đúng hoàn toàn. Nhưng có nên hiểu một cách khác chăng; là ông muốn nói Tây Mỹ gì nó cũng thế thôi (Bùi Giáng diễn tả ý nghĩ tương tự bằng một danh từ khác: bá láp). Nó cũng nhiều cái vớ vẩn bá láp không kém gì mình, đừng tưởng rằng chỉ có ở Tây Bán Cầu là nhất thế giới mà lầm. Ông bảo nghĩ như thế là “u mê dại dột” (trong bài “Mười Năm Truyện Ngắn” – Nghệ Thuật Xuân Bính Ngọ 1966). Ông bảo sở dĩ ta chưa có dịp để năm châu bốn biển trầm trồ khen ngợi là vì đất nước lâm vào những cảnh “lịch sử chó má” nên chưa ai biết đến văn chương mình mà thôi. Nhiều tin tưởng như thế, ông hẳn là người cởi mở.

Là người mời ông viết bài cho ba tờ tuần báo khác nhau từ 1966 tới nay, tôi chưa từng thấy ông chê bai một ai trong bài viết, dù rằng hầu như trong bài viết nào ông cũng nhắc đến tên năm bảy người. Ông nhắc nhở nhiều lắm, mỗi khi có dịp. Ông không phải là một học giả chỉ còn chú ý đến vấn đề, vấn đề không thôi, mà luôn luôn chú ý đến sự kiện và nhân vật. Đọc ông sẽ biết thêm những liên hệ của ông đối với những người được nhắc đến. Sẽ thấy từ ông A đến ông Z, và từ một tác giả lão thành tới một người chưa tên tuổi. Đó cũng là một điều đáng qúi: Qua điều này, Tam Ích chứng tỏ ông luôn luôn theo dõi sinh hoạt văn học nghệ thuật, những chuyện đang xảy ra, những người vừa mới tới: ông có tuổi, tóc đã bạc, nhưng chưa ra ngoài lề, không đứng bên lề sinh hoạt, mà ở trong, có mặt thường trực, bên cạnh các nhà văn nhà thơ trẻ. Chắc chắn ông không bao giờ muốn để mất một khoảng cách nào.

Tam Ích, đôi khi ông viết XXX; bút hiệu này của ông không biết có nghĩa gì? Ích cho xã hội, cho văn chương, cho vợ con? Nhưng ông đã từ bỏ một số tư tưởng chính trị đã theo đuổi từ lâu – trong khi Tết Mậu Thân, người bạn sát cánh với ông thời Chân Trời Mới là Thiên Giang còn bỏ ra ngoài – và ông từ một năm nay không còn hoạt động đều nữa. Riêng tôi sẽ chẳng còn bao giờ như có lần, nhận được thủ bút của ông với một chữ ký tắt: XXX.


(*) Ngay từ buổi đầu, vào những năm ’30, [chủ nghĩa mác-xít du nhập vào Việt Nam] đã có sự phân chia làm hai trường phái, nói giản dị hơn, hai khuynh hướng: stalien (theo Staline) và trốtkýt, (theo Trotsky), Đệ Tam và Đệ Tứ. Ở Việt Nam Đệ Tam do Nguyễn Ái Quốc, sau này là HCM, đứng đầu; Đệ Tứ do Tạ Thu Thâu đại diện.

Cả Staline và Trotsky đều là nhân viên Bộ Chính trị đảng CS Nga, thân cận của lãnh tụ Lenine. Nhưng sau khi Lenine chết, 1924, cuộc Cách mạng tháng mười 1917 ở Nga bị Staline phản bội. Staline đã dựng nên những vụ án gọi là “gián điệp,” “theo phát xít Đức Nhật,” “tay sai đế quốc tư bản” để loại trừ những người đối nghịch. Trong số 1956 đại biểu của Đại Hội XVII, Staline bắt giam và thủ tiêu 1108 người về các tội trên. Năm 1939 trong các bức thư từ Trung Quốc gửi về nước cho đảng CSVN, HCM tán thành các vụ án do Staline dựng nên và gọi phe Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu là “bọn chó săn của phát-xít Nhật và phát-xít quốc tế.” (Tóm ý của Hoàng Hoa Khôi trong bài “Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam”, Paris, 1991.) Chú thích này mới bổ sung, không có trong bài viết về Tam Ích năm 1972.

(**) Ký giả Lô Răng, Nhân cái chết của Tam Ích, Khởi Hành 139, 1.72. Bài thơ của Hoàng Trúc Ly khóc Tam Ích cũng trích từ số báo này.


Phụ lục 1: Cái chết của Tam Ích

“Đột nhiên, khi viết đến đây, tôi lại nhớ đến nhà văn Tam Ích vốn là một cây bút lừng lẫy trong những năm 1947-1951 trên tờ Việt Bút Tân Văn ở Sài gòn. Thuở đó, về nhật báo thì có hai tờ hàng đầu – một là Thần Chung của Nam Đình và hai là Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc. Còn tuần báo thì không tờ nào có thể sánh nổi với Việt Bút Tân Văn trong đó nòng cốt là Tam Ích.

Năm 1970, khi lão tiền bối Trần Văn Ân tục bản tờ Đời Mới – có nhờ tôi đứng tên chủ nhiệm – đó là vì tiên sinh đang phụ tá về Chính trị và Văn hóa cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nên không tiện chính thức chủ trương tờ báo. Lúc đó, nhà văn Tam Ích cũng vốn là chỗ thân tình với Trần Văn Ân, nên thường tới lui báo quán đặt tại đường Bùi Thị Xuân. Do vậy, tôi cũng được dịp trò chuyện với Tam Ích nhiều lần về rất nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội.

Cũng nhờ vậy, tôi được biết Tam Ích rất uyên thâm về triết học và văn chương – và qua những lần đó, tôi cũng được dịp học hỏi rất nhiều. Cũng trong những lần đó, đôi khi tôi bắt gặp những nét ưu phiền tiềm ẩn kín đáo trong ánh mắt của Tam Ích. Có lần ông ấy nhắc đến sự tự kết liễu cuộc đời của nhà văn Stephen Sweiss và nhà văn Ernest Hemingway – mỗi người đều tự bắn vào đầu mình mấy phát đạn.

Thế rồi chỉ ít lâu sau đó, tôi bàng hoàng và buồn bã khi hay tin nhà văn Tam Ích tự kết liễu đời mình bằng cách đứng lên trên một chồng cao, những quyển tự điển… cổ cho vào giây thòng lọng, rồi dùng chân đá đổ những quyển sách bên dưới…”

Trần Bình
(Nguyên chủ nhiệm Đời Mới, Sài gòn: bản thảo gửi Viên Linh, chưa đăng)


Phụ lục 2: Khóc Tam Ích

“Cách đây mấy tháng, Tam Ích gặp tôi và căn dặn: Nếu tao chết, mày làm thơ khóc tao. Tôi tưởng anh khôi hài, hay ít ra, đó là sự thật có tính cách khôi hài. Khốn khổ cho tôi, nay sự thật đã đến, cớ sao tôi phải khóc? Tôi hỏi Tam Ích, nhưng Tam Ích nào có nói gì đâu? Tôi hỏi Trời, nhưng Trời nào có nói gì đâu?”

Nỗi buồn siết cổ ngàn thu,
Cho người nghẹn họng giã từ khổ đau
Tấm thân huyễn vọng về đâu
Trái tim đã nát, vết sầu chưa tan.

Nỗi buồn buộc chặt vành tang
Vòng tay bạch lạp
áo quan một người.

Hoàng Trúc Ly
(Khởi Hành số 139 – 13.1.1972)

thieu-son-bai-hoc-phan-khoi-1967

Thiếu Sơn, Bài học Phan Khôi (1967)

L.T.S: Đây là bài của nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết về cụ Phan Khôi và bài này đã đăng trên báo Thần Chung số 316 ngày 23-7-1967 tại Saigon. Chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo.

Tạp chí Văn học, số 122, năm 1971.


Ông Phan Khôi với bút hiệu Chương Dân và nhiều bút hiệu khác nữa có một địa vị đặc biệt trong làng báo và làng văn hồi tiền chiến.

Trong Thi tù tùng thoại cụ Huỳnh thúc Kháng đã phải hạ bút khen ông khi ông còn thanh niên cùng ở tù chung với các cụ tại đề lao Faifo. Hồi đó, vào năm 1908, các cụ bị tập trung ở khám Faifo để rồi sẽ bị phân tán đi các nơi khác. Hôm sau có một số người bị đày ra Côn đảo thì hôm trước các cụ tổ chức một bữa tiệc trong tù để cùng nhau xướng họa với đề tài kẻ ở, người đi. Cụ Huỳnh đã viết: “Trong khi các bạn tiễn, có mấy bài tứ tuyệt của ông Tú Phan Khôi là xuất sắc hơn cả.”

Xướng hoạ với những ông cử, ông nghè bằng chữ Hán mà được chính một ông nghè khen là xuất sắc hơn cả đủ thấy cái giá trị của Tú Khôi ngay từ ngày ông chưa có chỗ ngồi ở làng văn, làng báo.

Ông đã viết cho những tờ Đăng cổ tùng báo, Nam phong, Hữu thanh, Thực nghiệp dân báo, Lục tỉnh tân văn v.v… Ông đã làm thư ký cho ông Bạch thái Bưởi, dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành. Nhưng người ta chỉ bắt đầu biết tới ông khi ông viết cho Đông Pháp thời báo, Thần chung và nhất là Phụ nữ tân văn.

Ông Diệp văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác, nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi bật.

Ông chỉ nổi bật khi ông được mời viết cho Phụ nữ tân văn của ông bà Nguyễn đức Nhuận. Hồi đó, vào khoảng 1930, một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi.

Vậy mà Phụ nữ tân văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng bốn bài 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp cỡ Huyện, Phủ. Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo. Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ văn chương của Phan Khôi mới dám trả tới giá đó mà thôi. Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua Phụ nữ tân văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài gẫy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thân tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste).

Những cái gì người ta cho là phải, là đúng thì ông đưa ra những lý luận, trưng ra những bằng chứng để đi tới kết luận là trái là sai. Võ hậu là một con dâm phụ chuyên quyền, ông Phan dẫn chứng ở sách vở ra để chứng minh rằng bà ta là một người đàn bà vượt khuôn khổ, một bộ óc thông minh tuyệt vời, một phụ nữ phi thường.

Cố nhiên là nhiều khi ông ngụy biện nhưng ngụy biện một cách rất tài tình và ngay trong khi ngụy biện ông cũng dẫn chứng được phần nào những ưu điểm của một nhân vật mà thành kiến chỉ cho thấy khuyết điểm mà thôi.

Đạo Nho người ta cho là khuôn vàng, thước ngọc, là xương tủy của đạo lý dân tộc. Ông Phan Khôi, một nhà nho chánh tông lại viết cả loạt bài để đả phá đạo Nho cho là một đạo bảo thủ phản tiến hóa.

Thú vị nhất là khi ông đóng vai tuồng ngự sử trên văn đàn để bắt “phốt” (faute) những nhà văn có tên tuổi vào hạng tiền bối hay đàn anh. Cả tới cái tên người ta ông cũng không tha. Ông bắt lỗi cụ Nguyễn chánh Sắt sao lại viết Sắt, phải viết Sắc mới đúng theo chánh tả, một nhà nho không thể có tên Sắt (sắt thép) mà phải có tên Sắc (hương sắc, sắc không), vả lại theo chữ Nho thì đích thị là chữ Sắc. Ông bắt lỗi cụ Đặng thúc Liêng sao lại để dư một chữ g? Liên là hoa sen mới đúng. Còn Liêng là vô nghĩa.

Ông bút chiến toàn những “tay tổ”. Với ông Phạm Quỳnh, ông gia cho chữ học phiệt.

Với ông Trần Trọng Kim, ông phê bình gắt gao bộ Nho giáo với những kiến thức sâu rộng và những lý luận đanh thép của ông. Nhưng ông cũng có những sơ hở để đối phương đập lại ông. Ông mời ông Trần về với M. Logique.

Ông Trần nhắc chừng cho ông nhớ Logique thuộc về giống cái thì phải gọi là Cô chứ sao gọi là Me-sừ.

Những giai thoại về Phan Khôi nhiều lắm, nói không hết. Nhưng có điều nên biết là ông cố ý chơi ngông để được tiếng là ngông.

Ông muốn làm hề để chọc cười thiên hạ. Ông thật tình muốn phục vụ chân lý và lẽ phải, thấy bậy thì nói, thấy sai thì sửa.

Đã có lần ông sửa cả văn chương chữ Hán của những bậc đại nho. Ông nói: Không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu. Cũng như chữ Tây viết đúng mẹo luật mà chưa đúng theo lề lối của Tây thì Pas francais, chữ Hán cũng vậy, viết theo lề lối Việt Nam thì cũng Pas chinois.

Phải nhìn nhận rằng ông Phan Khôi là một người thông minh, học rộng, biết nhiều, chịu khó suy nghĩ, có óc nhận xét, tinh tế, cốt cách tánh tình, tác phong đều đàng hoàng nghiêm cẩn, nhưng cố tình vươn mình để tiến xa hơn những nhà nho khác mà ông cho là cố chấp, bảo thủ, lạc hậu. Ông tự học để đọc được sách Pháp. Ông dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành chính là để đọc thêm chữ Pháp.

Ông sở đắc khá nhiều về học thuật, tư tưởng của Pháp. Nhưng ông cũng có tật là được mới nới cũ. Cái học cũ là cái học căn bản của ông.

Nhờ cái học mới mà ông thấy được những nhược điểm và khuyết điểm của cái học cũ. Nhưng người như ông làm sao thoát ly khỏi cái học căn bản nó đã đi sâu vào máu huyết của ông, xây dựng nên con người của ông.

Do đó mà ông không thể đi xa được trên con đường tân học. Ông có cái hăng say của kẻ nhập môn nên chưa có cái chín chắn của người thuần thục.

Ông Phan Văn Hùm đã chê ông chỉ mới hiểu được cái luận lý hình thức (logique formelle) nên nhiều khi có phiến diện. Ông cũng Pas francais nhưng thật ra ta có cần gì Francais hay Pas francais.

Ta chỉ cần đi xa hơn cái học tư sản mà người ta tường lấy nó làm khí giới và đồ trang sức để phát triển những khả năng tiểu xảo của mình.

Có như thế ta mới đi tới cái học nhân bản hiểu mình, hiểu người, hiểu đời để tổng hợp thành cái vốn tinh thần cho ta thay những liên quan mật thiết với dân tộc, với nhân loại.

Có như thế ta mới từ bỏ được lối chơi cá nhân để hòa mình vào tập thể. Ông Phan Khôi mới có lối chơi cá nhân và chưa có lối chơi tập thể.

Như trên tôi đã nói nhờ căn bản nho học và những gì ông đã sở đắc về học thuật Tây phương, ông Phan Khôi đã có lối chơi cá nhân rất vững vàng và ngoạn mục, tạo cho ông một địa vị đặc biệt trong làng văn.

Ông không a dua theo thời thượng, chống công thức gắt gao, không để một thế lực nào chi phối nên nhất thiết những gì ông nói ra, viết ra đều do ông suy nghĩ theo đầu óc của ông. Mà đầu óc ông như ta đã biết là một thứ đầu óc thông minh, phong phú, chịu suy nghĩ, độc lập, bướng bỉnh nên nói khác với mọi người. Hồi đó dường như ông đã dịch chữ original là “cổ quái” nhưng có lẽ nên dịch là “độc đáo”.

Tôi muốn gọi ông là độc đáo chứ không nỡ cho ông là cổ quái. Đã có lần ông bút chiến với cụ Huỳnh thúc Kháng. Cụ Huỳnh nói tới tuổi tác của cụ, ông trả lời là đừng nêu vấn đề tuổi tác ra, cãi nhau là để làm sáng tỏ chân lý, ai đuối lý là thua, không cần biết người đó lớn hay nhỏ, trẻ hay già. Ở trên mặt báo thì ngáo ngổ như thế, nhưng kỳ thật trong thâm tâm ông vẫn kính phục cụ Huỳnh cũng như ông vẫn có cảm tình với tất cả những người sạch sẽ lương thiện có tư cách và tiết tháo. Còn những kẻ thiếu căn bản, thiếu giáo dục, đê hèn, bần tiện, ông khinh ra mặt và chẳng muốn làm quen.

Ông Bùi thế Mỹ đã nói đúng khi ông nói: Ông Phan “bất cận nhân tình” nhưng thực ra ông chỉ bất cận vơi những kẻ mà ông không muốn gần chứ khi ông thấy có điểm nào chơi được thì ông cũng chịu chơi.

Có điều là chính ông mới là con người khó chơi, vì ông thẳng thắn, phân minh, trực ngôn và không hay nhân nhượng.

Ông không bao giờ lợi dụng ai, nhưng ông không để cho ai lợi dụng mình.

Một tờ báo nào mời ông viết thì trước hết ông hỏi giá cả đàng hoàng, làm giao kèo kỹ lưỡng, phải nghiêm chỉnh tôn trọng giao kèo. Phần ông không bao giờ ông bội ước với ai nhưng ông không bằng lòng cho người ta bội ước với ông. Nhưng ở đời đâu phải chỉ có những con đường thẳng, tới những khúc quanh co thì ông không đi được. Do đó mà có chuyện. Có rất lắm chuyện về ông.

Tú Mỡ làm thơ chọc ông, ông phản công lại và ký bằng bút hiệu Tú Sơn, Sơn này không phải là núi. Sơn này là Seul. Tú Sơn tức là Tout seul nghĩa là “chỉ có một mình”. Độc lập cũng được, cô độc cũng được.

Nhưng miễn là ông không lệ thuộc ai, không ai chi phối ông được. Ông hoàn toàn tự chủ, triệt để tự do. Ông tài cao, học rộng nên có lối chơi cá nhân rất đẹp. Nhưng thời cuộc biến chuyển bắt buộc mọi người phải hòa mình vào tập thể. Người ta làm được mà ông không làm được.

cao-van-luan-va-nhung-tiep-xuc-voi-cu-ho-tai-phap

Cao Văn Luận và những tiếp xúc với cụ Hồ tại Pháp

Trích từ Bên giòng lịch sử – Hồi ký 1940-1965
của linh Mục Cao Văn Luận, xuất bản năm 1971, Nxb Trí Dũng


Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh

Tôi chưa được thấy mặt, hay thấy hình ảnh gì của chủ tịch Hồ Chí Minh. Những hình ảnh đăng trên các báo Pháp từ tháng 9 năm 1945 đều là những tấm hình cũ, mà một vài báo Pháp xin được của sở Mật Vụ Hải Ngoại Pháp. Khi thì tôi thấy một thanh niên gầy ốm, cao lêu nghêu, khi thì một cụ già khoảng 50.

Không có gì bảo đảm cho tôi những hình ảnh đó là của chủ tịch Hồ Chí Minh. Như mọi người Việt Nam ở Pháp thời bấy giờ, tôi rất tò mò muốn biết mặt cụ Hồ, con người dù sao thì cũng đã dành độc lập cho Việt Nam, và đang tranh đấu với Pháp để giữ lấy nền độc lập mong manh đó.

Ở Pháp vào đầu năm 1946, thỉnh thoảng có tin đồn cụ Hồ sẽ sang Ba-Lê, làm cho những anh em Việt kiều hồi hộp chờ đợi, nhưng rồi báo lại cải chính rằng cụ chưa sang Ba-Lê lần này.

Vào cuối tháng tư, tôi được biết Pháp và Việt Minh đã ký kết một thỏa ước tạm thời, giao quyền cai trị Trung và Bắc bộ cho chính phủ Hồ Chí Minh, còn Nam bộ thì giữa tình trạng không giải quyết, do Pháp quản trị, chờ một cuộc trưng cầu dân ý. Thỏa ước này được gọi là thỏa ước 6 tháng 3. Tôi cũng được biết hội nghị Đà Lạt ngày 24-3-1946 giữa Võ Nguyên Giáp và Pierrer Mesemer đã không đem lại kết quả gì.

Những điều này tôi chỉ được biết tin qua báo chí, qua một vài bản tin mà lúc bấy giờ một tổ chức thông tin không chính thức của Việt Minh ở Ba-Lê phân phát.

Rồi qua những nguồn tin không xuất xứ, loan truyền trong giới Việt kiều ở Ba-Lê, cũng như trong giới chính trị thân cộng, tôi biết chắc rằng cụ Hồ sang Ba-Lê.

Tôi và anh em Việt kiều, sinh viên hồi hộp chờ đợi và chuẩn bị đón tiếp.

Chúng tôi chưa ai nghĩ đến những bất đồng vì vấn đề chính kiến, tư tưởng, tôn giáo. Mọi người hãnh diện có một chính phủ độc lập, có một lãnh tụ dám đương đầu với người Pháp. Theo tin từ các báo, thì tôi nghe nói rằng ngày 30 tháng 5 năm 1946, cụ Hồ từ Saigon lên phi cơ đi Ba-Lê, cùng với tướng Salan và ông Jean Sainteny.

Đến ngày 1 tháng 6, đài phát thanh Pháp Á, và đài phát thanh Pháp loan tin Nam bộ tách rời và thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị, do ông bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Tôi và anh em Việt kiều thấy đau nhói trong tim, ngẩn ngơ trước cái tin khó tin. Điều mong ước của mọi người Việt Nam, sau độc lập, và kèm theo độc lập là thống nhất.

Tôi đã hiểu thế nào là sự nhục nhã của người Việt Nam phải chịu sự chia cắt, người Trung kỳ, Bắc kỳ vào Nam kỳ phải có thông hành. Có lẽ chính sự phản bội và sai lời này của người Pháp làm cho lộ trình của cụ Hồ đã không ghé Ba-Lê ngay như mọi người mong chờ mà ghé Biarritz. Tôi không hiểu có anh em Việt kiều nào có thể ra đón cụ Hồ ở phi trường Biarritz không, nhưng trong số người tôi quen biết thì không có ai đi.

Cụ Hồ ở lại Biarritz khá lâu. Ngày nào anh em Việt kiều cũng đến cho tôi hay một vài tin, phần lớn thuộc loại tin đồn. Một số trong các tin này nhắc đến sự chia xót, đau khổ của cụ Hồ, mô tả cụ như một con người anh hùng gặp vận bỉ, một cụ gì đang than khóc cho số phận đất nước.

Tôi không tin mà cũng chẳng ngờ chi, chỉ chờ đợi được gặp cụ Hồ, chờ đợi tình thế hiện rõ hơn. Trong khoảng thời gian này, một chính phủ mới được thành lập, chính phủ Bidault, thuộc đảng MRP.

Như tôi đã nói trước, đây là một chính phủ thực dân thực sự, mặc dầu trong chính phủ này có một vài Bộ trưởng cộng sản, hay thân cộng sản, như ông Charles Tillon, Bộ trưởng không quân. Tôi hiểu rõ cộng sản Pháp không sẵn sàng trao trả độc lập chân chính và toàn vẹn cho Việt Nam, như nhiều người mong. Cộng sản Pháp và thực dân Pháp vẫn có thể đi đôi với nhau không có chi mâu thuẫn. Sự chờ đợi của tôi và các anh em Việt kiều kéo dài gần cả tháng. Vào ngày 20-6-1946 chúng tôi hay tin cụ Hồ sẽ từ Biarritz lên Ba-Lê đúng sáng 22-6. Hầu hết anh em Việt kiều sinh viên, trí thức Việt Nam ở Ba-Lê đều tụ họp lại với nhau bàn chuyện lập phái đoàn đón rước cụ Hồ. Tôi được chọn cầm đầu phía những người Công giáo Việt Nam ở Pháp và các tu sĩ Việt Nam du học, vì tôi là Chủ tịch hội tu sĩ Việt Nam du học ở Pháp, gồm 30 tu sĩ, linh mục.

Việt kiều ở Ba-Lê lúc bấy giờ khá đông. Tôi được biết ngoài phái đoàn của chúng tôi, còn những phái đoàn Việt kiều khác, trong đó chẳng hạn có phái đoàn Việt kiều thợ thuyền, gồm những người cộng sản hay thân cộng sản, đi riêng.

Lúc chúng tôi đến phi trường Le Bourget thì nơi sân máy bay đậu đã dày đặc người. Phái đoàn Việt kiều của chúng tôi đứng nhập chung vào những phái đoàn Việt kiều khác, có phái đoàn chỉ gồm 15 người, có phái đoàn đến non trăm người. Có lẽ thấy phái đoàn chúng tôi có trật tự, lại gồm mấy linh mục, nên những người tổ chức lễ đón tiếp sắp cho chúng tôi đứng lên đầu.

Tôi nhận thấy chính phủ Pháp lần này đón tiếp cụ Hồ một cách long trọng. Tất cả mặt tiền phòng khách danh dự phi trường đều treo cờ Pháp chen kẽ. Có lính vệ binh và giàn kèn sắp hàng trước chúng tôi. Đứng riêng và xa trước mặt chúng tôi độ trăm thước, có phái đoàn chính phủ Pháp, trong đó tôi thấy vài tướng lãnh, bộ trưởng. Ông Moutet là bộ trưởng Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, hay bộ thuộc địa. Chúng tôi chờ non một tiếng đồng hồ thì nghe lính vệ binh cộng hòa và lính kèn hô chuẩn bị. Họ đứng nghiêm mà mọi người ngẩng mặt nhìn lên trời. Lúc bấy giờ số phi cơ lên xuống phi trường Bourget cũng không nhiều lắm. Chúng tôi nghe tiếng phi cơ nổ lớn dần, rồi một phi cơ hai động cơ là là hạ cánh trên phi đạo, chậm chạp chạy về sân đậu trước mặt chúng tôi. Dàn kèn trổ bài quốc ca Việt Nam trước, bài Marseillaise sau. Tôi rơm rớm nước mắt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, trong đời tôi, tôi được chứng kiến một quốc trưởng Việt Nam được đón tiếp theo đúng nghi lễ ngoại giao. Cũng là lần đầu tiên tôi nghe bài quốc ca Việt Nam. Nhiều anh em Việt kiều quanh tôi sụt sịt khóc. Có những người Việt Nam sống ở Pháp lâu năm từ 1918 đến nay, hầu như quên tiếng Việt Nam, cũng không cầm được xúc động.

Lần gặp gỡ thứ nhất giữa tôi và cụ Hồ: Số phận người công giáo trong số phận Việt Nam

Cụ Hồ xuất hiện, đứng yên trên cửa phi cơ. Tôi không hiểu nhờ đâu mà tôi biết được đó là cụ Hồ. Có lẽ nhờ dáng người đặc biệt của cụ, nhờ những mô tả trước đây chăng hoặc là nhờ cụ là người Việt Nam đầu tiên hiện lên trên bậc thang trước cửa phi cơ. Cụ Hồ đưa tay vẫy chào mọi người, rồi chậm rãi bước xuống. Sau cụ là ông Jean Sainteny, rồi đến các nhân vật Việt Nam mà tôi không biết rõ.

Phái đoàn chính phủ Pháp tiến ra tận chân thang máy bay chào đón cụ Hồ. Chúng tôi vẫn đứng yên, tuy nhiên có một vài đại diện Việt kiều ôm bó hoa bước ra, đi về phía cụ Hồ. Ánh mắt cụ Hồ sáng lên, nhìn vào đám Việt kiều, và tiến ngay đến phía mấy đại diện ôm bó hoa. Cụ Hồ có cử chỉ thân mật tự nhiên, cụ ôm bó hoa, và ôm luôn người tặng hoa, mắt chớp chớp như muốn khóc.

Tôi tin là cụ cảm động thật, chớ không phải nhờ tài đóng kịch. Cụ làm cái việc duyệt hàng quân danh dự rất nhanh, cho xong, rồi đi thẳng đến đám Việt kiều. Tôi không hiểu vì đâu mà cụ đến ngay trước mặt tôi trước tiên, rồi tiếp đến các cha bên cạnh. Cụ bận bộ quần áo kaki vàng sẫm màu, cổ cao và thẳng theo lối cổ áo lính Tàu. Cụ bắt tay tôi thật chặt, tươi cười.

Nguyễn Mạnh Hà theo sát sau cụ, giới thiệu một số Việt kiều với cụ. Cụ hẹn sẽ gặp lại tôi và anh em Việt kiều. Lúc nói chuyện với tôi, cụ Hồ có những cử chỉ mà tôi không quên được. Tôi bận áo chùng, ngoài khoác áo lạnh có hàng nút xuống tận chân. Cụ Hồ khi thì đặt tay lên vai tôi, khi mân mê những chiếc nút trước ngực tôi. Cụ nghe tôi nói tiếng Nghệ Tĩnh, cụ cũng nói toàn giọng Nghệ Tĩnh.

Ai mà không cảm động khi nghe tiếng nói quê hương mình, giọng nói làng mạc mình? Và tôi không cần chối là tôi đã cảm động thật tình, mặc dầu những câu chuyện trao đổi ngắn ngủi trên phi trường Bourget sáng 22-6 chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt.

Nguyễn Mạnh Hà dừng lại, nói nhỏ với tôi:

– Cha nên tìm dịp lên gặp cụ chủ tịch, khuyên cụ bỏ cái việc đòi lập giáo hội tự trị. Hà nháy tôi và hẹn sẽ gặp lại sau. Cụ Hồ có vẻ vui thích khi đi tiếp xúc với các Việt kiều. Cụ để mặc những người Pháp trong phái đoàn chính phủ Pháp đứng ngơ ngẩn, hay lẽo đẽo theo sau cụ.

Cụ chẳng có vẻ gì vội vàng, trái lại như cứ muốn nói chuyện mãi với người Việt Nam. Chỉ có ông Jean Sainteny là đi theo cụ từ đầu đến cuối. Lúc bắt tay khắp hết các Việt kiều, cụ quay trở về phía phái đoàn chính phủ Pháp, và đi vào phòng khách danh dự của phi trường.

Chúng tôi vẫn chưa về vội, đứng lại cho đến lúc cụ Hồ cùng với phái đoàn Pháp lên xe rời phi trường. Lúc ngồi trên xe, cụ còn nhoài người ra vẫy tay chào chúng tôi, và ra dấu hẹn gặp lại.

Vài hôm sau, Nguyễn Mạnh Hà đến gặp tôi kể lại cho tôi nghe những chuyện xảy ra bên nước nhà, liên quan đến đạo công giáo. Ông cho tôi biết chính phủ Việt Minh đang có chủ trương đòi tách rời giáo hội Việt Nam ra khỏi tòa thánh Vatican lập giáo hội Việt Nam tự trị, thay thế tất cả các giám mục Pháp, các linh mục Pháp, bằng những giám mục Việt Nam, linh mục Việt Nam. Nguyễn Mạnh Hà khuyên tôi nên xin gặp cụ chủ tịch trình bày cho cụ biết điều đó không được. Tôi đồng ý và lên Hotel Royal là nơi cụ Hồ và phái đoàn Việt Nam ở, xin yết kiến. Tôi nhận thấy lần này chính phủ Pháp đón tiếp cụ Hồ xứng đáng với một vị quốc trưởng Việt Nam hơn. Trước cửa Hotel Royal treo hai lá cờ lớn, một lá cờ tam tài Pháp và một lá cờ đỏ sao vàng. Chính phủ Pháp còn cử một tiểu đội gác danh dự trước cửa khách sạn sau này. Khi tôi vào, thì có một người Việt Nam tiếp tôi, ghi vào phiếu lời yêu cầu xin gặp, danh tính tôi, và lý do xin gặp. Tôi chỉ nói vắn tắt: xin gặp cụ chủ tịch. Người thư ký không cho biết bao giờ được cụ Hồ tiếp, nhưng niềm nở hẹn sẽ có thiếp mời đến tận nhà tôi sau.

Đâu chừng hai hôm sau thì có một người đem thiếp mời hẹn giờ được tiếp kiến đến cho tôi. Tôi đã suy nghĩ và sắp xếp trong đầu óc những gì sẽ thưa với cụ Hồ. Tôi nghĩ đến số phận giáo hội Việt Nam một phần. Nhưng nghĩ nhiều hơn đến số phận đất nước Việt Nam.

*

Buổi nói chuyện lần thứ nhất với Hồ Chí Minh.

Tôi đến Hotel Royal trước giờ hẹn vài phút. Tôi được dẫn vào một phòng khách sang trọng, được mời ngồi đối diện với một cánh cửa thứ hai, khác với cánh cửa vào phòng khách. Ít phút sau cánh cửa trước mặt tôi mở ra cụ Hồ và một người như là thư ký của cụ, bước vào. Cụ Hồ đứng yên một lúc khá lâu, mắt nhìn đăm đăm về phía tôi, có vẻ như ngạc nhiên, ngơ ngác. Rồi cụ mỉm cười, đưa tay ra hiệu mời ngồi. Cụ chậm rãi đi ra phía tôi và bắt tay tôi. Tôi vẫn đứng trước mặt cụ, mặc dù sau khi bắt tay tôi, cụ đã ngồi xuống ghế, ngẩng nhìn tôi như chờ đợi.

Sau những câu chào mừng, chúc tụng, tôi vào đề ngay:

– Thưa cụ Chủ Tịch, cụ sang Pháp công cán cho nước nhà. Với tư cách riêng và tư cách tuyên úy các Việt kiều Công giáo ở Pháp, tôi xin đến chào cụ cầu chúc cụ làm tròn sứ mệnh đòi lại độc lập cho nước nhà.

Cụ Hồ gật gù, mỉm cười, đưa tay mời tôi ngồi xuống lần nữa, nhưng tôi xin phép được đứng. Cụ nhìn tôi mỉm cười thật tươi tắn:

– Tôi rất vui mừng gặp linh mục, và xin nói cho linh mục biết bây giờ tại nước nhà, mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi giai cấp, không phân biệt tôn giáo, cùng đoàn kết sau lưng chính phủ tranh đấu cho một mục đích duy nhất là dành lại độc lập và thống nhất cho xứ sở.

Lúc nhà sư có chuyện vui buồn gì, thì cũng mời cố đạo đến dự. Khi cố đạo có chuyện gì cũng mời sư đến chia sẻ. Nhưng mà tôi phải nói thiệt với linh mục rằng bên đạo Công giáo chưa được tự lập. Trong toàn cõi Việt Nam có 15 địa phận thì chỉ có 2 địa phận được hai vị giám mục Việt Nam cai quản, còn các địa phận kia thì do các giám mục ngoại quốc coi sóc.

Tôi nghĩ các linh mục trẻ như linh mục phải cùng với chính phủ ta, tranh đấu đòi lại quyền tự trị cho các địa phận đạo ở Việt Nam. Linh mục nghĩ sao?

Tôi đã được Nguyễn Mạnh Hà cho biết đường lối của chính phủ Việt Minh đối với giáo hội công giáo Việt Nam, cho nên không ngạc nhiên khi nghe cụ Hồ nói như vậy. Tôi bình tĩnh thưa:

– Thưa cụ Chủ Tịch, đây là điều mà tôi muốn thưa với cụ Chủ Tịch hôm nay. Tôi có nghe ở bên nước nhà có phong trào đòi lập giáo hội tự trị. Thưa cụ, những người công giáo Việt Nam chúng tôi cũng muốn tự lập theo một nghĩa nào đó. Chúng tôi đều mong cho các địa phận Việt Nam có đầy đủ những giám mục đều là người Việt Nam.

Đó cũng là đường lối mà Vatican luôn luôn chủ trương là theo đuổi. Thưa cụ chúng tôi không thấy có gì phải phản đối, nếu những người công giáo Việt Nam muốn tự đảm nhiệm lấy sự cai quản việc đạo trong nước mình. Nhưng thưa cụ, tôi thiết nghĩ cách tiến đến sự tự lập cho giáo hội Việt Nam phải được suy xét và thực hiện đúng cách.

Tiện đây, cụ Chủ Tịch đã ghé nước Pháp, nếu cụ Chủ Tịch muốn cho công việc mau chóng, thuận tiện, cụ Chủ Tịch có thể ghé qua Vatican xin gặp Đức Giáo Hoàng hoặc nếu cụ Chủ Tịch bận, thì cử một phái đoàn đại diện sang La Mã, thương thuyết với Tòa thánh một hiệp ước (Concordat) giữa chính phủ và Tòa thánh, yêu cầu Tòa thánh tấn phong thêm các giám mục Việt Nam và thỏa thuận với chính phủ về mọi việc bổ các giám mục cai quản các địa phận Việt Nam. Cụ Hồ có vẻ không hài lòng lắm:

– Đó không phải là việc của chính phủ. Việc của chúng tôi là làm sao cho các giáo dân Việt Nam đừng có đi cầu kinh với các cố đạo Pháp vì làm như vậy thì có vẻ còn chịu nô lệ Pháp, trong lúc cả nước đứng lên dành độc lập với người Pháp.

Tôi hơi bất mãn vì cái quan niệm cứng nhắc của cụ Hồ:

– Thưa cụ Chủ Tịch, người công giáo đi cầu nguyện ở đâu, có ai xướng kinh thì cũng chỉ cầu nguyện với Chúa, chớ không hề có chuyện cầu nguyện với người Pháp. Vả lại theo tinh thần công giáo, thì chúng tôi coi mọi người giống nhau, các linh mục ngoại quốc, hay linh mục Việt Nam, về phần đạo không có gì đặc biệt cả. Nếu chúng tôi còn phân biệt người Pháp với người Việt trong việc đạo, thì Tòa thánh sẽ cho rằng người công giáo Việt Nam còn ấu trĩ, thiếu kỷ luật đạo, và sẽ không thể xúc tiến việc trao quyền cai quản các địa phận và các họ đạo cho các giám mục và các linh mục Việt Nam được.

– Có lẽ cụ Hồ nhận ra đề tài này có thể gây rắc rối, mất lòng, nên vội lánh sang chuyện khác. Cụ hỏi tôi tình hình các Việt kiều, sinh viên ở Pháp, việc học hành của tôi. Lúc này cụ thân mật, cởi mở, vui tính. Cụ hẹn sẽ mời tôi, các cha và Việt kiều sinh viên đến dự một bữa tiệc.

Tôi nhận thấy câu chuyện này không có kết quả như ý tôi mong muốn. Tôi không tìm được một lời hứa ở cụ Hồ sẽ thay đổi chủ trương, nên tôi cũng không muốn nhắc lại nữa. Tôi xin kiếu từ, và khi tiễn tôi ra cửa phòng khách, cụ Hồ vui vẻ bắt tay tôi, đặt tay lên vai tôi mân mê những nút áo chùng trước ngực tôi nói những câu chuyện ở nước nhà, làm như là thân mật với tôi lắm.

Cuộc tiếp xúc lâu dài đầu tiên giữa tôi và cụ Hồ làm cho tôi lo lắng và buồn rầu khá nhiều. Tôi vừa kính phục cụ Hồ là một nhà cách mạng, một vị lãnh đạo quốc gia có tài, nhưng tôi cũng lo lắng cho giáo hội công giáo Việt Nam, cho tương lai xứ sở Việt Nam. Những quan niệm hẹp hòi và sai lầm về việc đạo có thể gây ra những xung đột nguy hiểm giữa người công giáo và phong trào Việt Minh, cũng như có thể gây nên những phản ứng bất lợi trên quốc tế cho chính phủ Việt Minh. Tôi linh cảm được những giai đoạn đen tối sắp đến cho giáo hội Việt Nam cũng như cho đất nước Việt Nam. Tôi không một lúc nào cầu mong cho người Pháp đặt lại quyền bảo hộ ở Việt Nam, nhưng tôi mong ước Pháp và chính phủ Việt Minh có thể đi đến một sự thỏa thuận chung, trong đó số phận người công giáo Việt Nam không bị thiệt thòi. Tôi cũng rất lo sợ những người công giáo có tinh thần hẹp hòi sẽ gây nên những xung đột tai hại với phong trào Việt Minh, đang được coi như một phong trào toàn dân, và một lần nữa, bị hiểu lầm là đi ngược với quyền dân tộc.

Cụ Hồ khuyên tôi: Chú còn trẻ, đẹp trai, không lấy vợ uổng quá

Tôi ra về mang nhiều lo âu. Tôi chưa biết gì nhiều về cụ Hồ Chí Minh nhưng có điều tôi nhận thấy ngay. Cụ Hồ là một con người cứng rắn, cuồng nhiệt, cương quyết, đã định làm gì thì dù bao nhiêu trở ngại cũng san bằng làm cho kỳ được. Sự mềm dẻo khéo léo của cụ Hồ chỉ ở bề ngoài, chỉ là một lối chinh phục cảm tình người đối thoại, thâm tâm cụ, không bao giờ cụ vì nghe người đối thoại hợp lý mà thay đổi quyết định của cụ. Tôi thán phục, nhung sợ hãi con người như thế.

Tôi mơ hồ thấy con đường mà cụ Hồ sẽ đưa đẩy dân tộc Việt Nam, giáo hội Việt Nam vào: chiến tranh, mâu thuẫn, thanh toán lẫn nhau, đàn áp và sát hại những thiểu số chống đối, trong đó có đạo công giáo. Tôi cũng đã được biết qua tin tức, lịch sử của những phong trào cộng sản ở Nga, Mễ Tây Cơ, Tây Ban Nha, Nam Tư v.v… và không một nơi nào sự thành lập một chế độ cộng sản đem lại một điều gì tốt đẹp hơn cho người công giáo.

Tôi là một linh mục công giáo, tôi không thể nào đồng ý với một người chủ trương biến Việt Nam thành một quốc gia cộng sản. Nhưng tôi là người Việt Nam, và lúc này điều cấp thiết là phải đòi lại độc lập từ tay người Pháp, và nếu tôi không góp công sức thì cũng không nỡ lòng nào chống lại, dù bằng lời nói, bất cứ một thế lực chính trị nào đang mưu đòi Độc Lập cho đất nước.

Những ngày sau đó tôi không ngớt suy nghĩ về số phận đất nước mình. Tôi theo dõi qua tin tức, qua những câu chuyện với các Việt kiều, đôi lúc với Nguyễn Mạnh Hà, những hoạt động ở Ba-Lê của cụ Hồ. Có những Việt kiều ngưỡng mộ cụ Hồ thực tình, hay là được đảng cộng sản tổ chức thì không biết, nhưng ngày nào cũng ra đứng trước Hotel Royal chờ được nhìn mặt cụ Hồ một lần rồi trở về.

Những ai ra vào khách sạn này họ đều nhớ nhẵn mặt. Nhờ đó những câu chuyện với họ, tôi được biết sơ lược rằng người Pháp không thực tâm thương thuyết với cụ Hồ. Cụ buồn và bất mãn, không dự những cuộc họp ở Fontainebleau.

Nhờ những người sốt sắng theo dõi các hoạt động của cụ Hồ và quanh cụ Hồ, tôi biết được rằng trong thời gian ở Ba-Lê, cụ Hồ đã tiếp xúc với các lãnh tụ cách mạng Phi Châu, như lãnh tụ du kích quân Algérie sau này là ông Ferhat Abbas. Điều này không có gì khó hiểu, vì ai cũng biết cụ Hồ là tác giả cuốn “Le Procès De La Colonisation Française” mà Nguyễn Thế Truyền đề tựa.

Ông Ben Gourion, sau này thủ tướng Do Thái, lúc bấy giờ chủ tịch một hội ái hữu Do Thái Pháp, cũng đến nói chuyện với cụ Hồ vài lần. Những nhân vật đến thường nhất là ông Paul Bernard, giám đốc Ngân Hàng Đông Pháp. Tôi nghĩ rằng cụ Hồ không quên được những vấn đề thiết thực của đất nước: vấn đề kinh tế.

Từ lúc tôi gặp cụ Hồ và nói chuyện với cụ được khoảng bốn hôm thì tôi và vài cha khác nhận được thư mời dự một buổi tiếp tân. Hỏi ra tôi được biết những Việt kiều khác như Trương Công Cừu, Trần Hữu Phương, Võ Văn Thái cũng nhận được thiếp mời như tôi. Nói là một buổi tiếp tân thì hơi quá đáng, đây chỉ là một bữa ăn thân mật, những người được mời phần nhiều tôi có quen, gồm tất cả khoảng non 30 người.

Tôi và cha Lập, cha Tiến đến với nhau cùng một lúc. Một vài anh em Việt kiều đã đến trước, và đang đứng trong phòng khách. Một lát thì thấy cụ Hồ bước ra, bắt tay mọi người, tôi trà trộn với mọi người, trong phòng khách, nói chuyện phiếm. Tôi phải công nhận cụ Hồ là một người hiểu biết rộng rãi.

Vấn đề gì cụ cũng có thể nói chuyện sơ qua và tỏ ra hiểu biết, chăm chú nghe chuyện. Những anh em Việt kiều được mời hôm ấy gồm toàn phần lớn những nhà trí thức, những sinh viên đã tốt nghiệp, nghĩa là thành phần Việt kiều ưu tú ở Pháp.

Dù mọi người kính nể cụ Hồ, nhưng trong câu chuyện, đôi lúc cố ý, đôi lúc vô tình, họ không khỏi nêu lên những vấn đề khó khăn, có thể làm cho người được hỏi lâm vào thế kẹt.

Tôi chưa lúc nào thấy cụ Hồ bị kẹt như thế. Vả lại cụ có lối đánh trống lảng tài tình. Vấn đề gì cu thấy khó trả lời thỏa mãn người đối thoại, cụ lập tức nói sang chuyện khác, nói đến một vấn đề khác thật hấp dẫn, làm cho người nêu lên câu hỏi khó quên mất câu hỏi của họ.

Khoảng nửa giờ sau, những khách mời đến đầy đủ, và cũng vừa đúng giờ ghi trong thiếp mời, tức đâu khoảng 12 giờ trưa, cụ Hồ mời mọi người sang phòng ăn. Hiện nay Hotel Royal vẫn còn, có lúc còn được gọi là Hotel RoyalMonceau, và phòng tiếp tân tại nơi này vẫn không thay đổi gì nhiều, bàn ăn là một bàn chữ nhật lớn.

Cụ Hồ cầm tay tôi dẫn đến chiếc ghế bên trái cụ, và chỉ cho cha Lập ngồi bên phải, cha Hoàng Trọng Tiến ngồi đối diện.

Những anh em khác được cụ sắp xếp ngồi vào bàn. Từ lúc gặp các anh em Việt kiều cho đến lúc ngồi vào bàn an, cụ Hồ chỉ nói những chuyện lặt vặt, thứ chuyện mà người ta gọi là chuyện phiếm, không đâu vào đâu cả.

Nhưng trong mọi câu nói cụ Hồ thương khuyên anh em Việt kiều tham gia vào công cuộc đấu tranh đòi độc lập.

Lúc vào bàn ăn, cụ Hồ chẳng hề dùng cái lối đọc diễn văn long trọng. Cụ ngồi ngay vào bàn ăn, và lúc nâng ly rượu đầu, cụ nói giọng thật là nồng nàn, thành thật:

– Chính phủ bên nước nhà đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ độc lập, đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Nhưng muốn đem hạnh phúc cho toàn dân, thì phải thực hiện xã hội chủ nghĩa. Giả sử mà chúa Giêsu sinh ra đời vào thời đại này, trước sự đau khổ của người đời như lúc này, mà Chúa muốn cứu vớt, thì chắc là cũng phải theo xã hội chủ nghĩa.

Tôi và các cha mỉm cười vì cái lối so sánh kỳ cục của cụ Hồ, tôi trả lời cụ:

– Thưa cụ Chủ tịch, về việc tranh thủ độc lập, thì mọi người Việt Nam công giáo hay không công giáo đều sẵn sàng tham gia. Nhưng về việc thực hiện xã hội chủ nghĩa, thì chúng tôi thiết nghĩ có nhiều người không đồng ý rằng đó là giải pháp duy nhất để đem hạnh phúc lại cho con người.

Cụ Hồ vỗ vai tôi, cười:

– Cha lại tuyên truyền rồi.

Có lẽ lúc đó tôi còn trẻ, nên tôi có hơi long trọng trong câu chuyện một cách quá đáng. Tôi không cười, thưa lại:

– Thưa cụ Chủ tịch, tôi đâu có ý tuyên truyền. Tôi nói ra ai nghe thì nghe, ai không thì thôi, tôi chẳng bao giờ chủ trương bắt những người không nghe theo lời nói của mình vào trại tập trung cả.

Cụ Hồ chỉ khẽ cau mày:

– Đạo Công giáo chỉ được nước binh nhà giàu, về với nhà giàu. Nhà giàu chết thì giật chuông inh ỏi, làm lễ mồ long trọng, còn nhà nghèo chết thì im hơi lặng tiếng. Như vậy làm sao Chúa biết linh hồn nhà nghèo vừa thoát khỏi xác mà đến rước về thiên đàng?

Tôi lại càng nghiêm hơn nữa, và nhất định phải cãi lại cụ Hồ.

– Thưa cụ Chủ tịch, Đạo Công giáo chẳng hề bênh nhà giàu bao giờ. Chúa Giêsu ra đời trong gia đình nghèo khó, giảng đạo cho người nghèo trước. Nhưng sở dĩ có những người Công giáo nghèo, những người giàu, là vì đạo Công giáo là một thành phần xã hội, sống trong một xã hội, và xã hội đó có kẻ giàu người nghèo. Nếu xã hội có giai cấp thì đạo Công giáo phải chấp nhận, nhưng không phải là tán đồng hoàn toàn đâu. Đạo chủ trương mọi người ngang hàng, bình đẳng trước Thiên Chúa không phân biệt giai cấp chi cả.

Cụ Hồ làm thinh một lúc, mặt lúc ấy hơi nghiêm, nhưng cụ tươi cười ngay, đổi sang câu chuyện khác, giọng nửa bông đùa nửa thành thật:

– Các chú còn trẻ và đẹp trai cả sao không chịu lấy vợ đi? Các chú không lấy vợ, xã hội, đất nước thiệt thòi biết bao nhiêu?

Lúc này tôi dùng giọng bông đùa để trả lời cụ:

– Xin lỗi cụ chủ tịch, thế tại sao cụ không lấy vợ để làm lợi cho xã hội? Chúng tôi độc thân nhưng sự độc thân của chúng tôi không làm thiệt hại gì cho xã hội, cũng như độc thân của cụ chủ tịch vậy mà.

– Tôi độc thân được, nhưng các chú còn trẻ, độc thân sao nổi. Trông thấy hoa, sao khỏi muốn hái được.

– Thưa cụ, bây giờ cụ đã già, nhưng trước kia cụ cũng trẻ như chúng tôi, mà cụ vẫn độc thân được, thì chúng tôi cũng có thể độc thân được: chúng tôi cũng có thể trông thấy hoa mà không muốn hái vì bận theo một lý tưởng khác.

Thấy tôi cãi hơi hăng, cụ Hồ cười rồi bắt sang chuyện khác.

Trần Hữu Phương ngồi ở cuối bàn cất tiếng hỏi:

– Thưa cụ, cụ người ở đâu, xin cho chúng tôi được biết?

Cụ Hồ trả lời:

– Tôi người Việt Nam.

– Việt Nam nhưng là tỉnh nào?

Tôi nhìn về phía Trần Hữu Phương và nói:

– Anh Phương thật ngớ ngẩn, giọng của cụ là đặc giọng Nghệ An, anh còn hỏi làm gì nữa.

Mọi người cười ồ lên và bữa tiệc được tiếp tục trong bầu không khí vui vẻ đầm ấm cho đến hai giờ chiều mới tan.

Những hoạt động của Hồ Chí Minh trong ba tháng rưỡi ở Pháp

Một giai thoại được giới Việt kiều thời bấy giờ nhắc đến hoài, làm cho tôi phải nhớ lại. Tạp chí Le Paria là một tạp chí cộng sản cực đoan do chính cụ Hồ sáng lập và làm chủ nhiệm, chủ bút, kiêm nhiếp ảnh viên kiêm bình luận gia, trong những năm sau đệ nhất thế chiến, cùng với cụ Nguyễn Thế Truyền. Sau khi cụ Hồ rời nước Pháp, nó chuyển giao cho một đảng viên cộng sản Pháp và Đông Dương. Nó không sóng gió như ngày xưa, nhưng vẫn sống lây lất, và trong những ngày cụ Hồ sang Pháp lần này tạp chí Le Paria đăng một bức thư ngỏ lời cụ Hồ, nói là của những đồng chí do cụ đào tạo, nhưng thấy cụ phản bội nên nhất định chửi cụ, chống cụ.

Thư ngỏ như vầy:

“Chúng tôi là nhóm đồng chí ít ỏi còn lại do đồng chí (Hồ) đào tạo năm 1925. Những tư tưởng của đồng chí đã thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng chí như biểu tượng cho tất cả những tầng lớp thợ thuyền Việt Nam trẻ.

Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết mọi hy vọng sau thỏa ước ngày 8 tháng 3 (giữa cụ Hồ và D’Argenlieu, để Pháp thao túng Nam bộ). Đồng chí đã ký kết một thỏa ước chấp nhận tự trị mà không phải độc lập. Sức mạnh của lòng tin tưởng của chúng tôi đặt vào nơi cụ là lãnh tụ phong trào cách mạng phản đế ngày nay cũng ngang ngửa với lòng căm phẫn của chúng tôi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ là ngày xưa đã chọn lầm lãnh tụ.

Nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng… Họ sẽ tiếp tục con đường cụ đã vạch nhưng đã không noi theo cho đến cùng”.

Số báo Le Paria này đã gây nên một vụ tạm gọi là xì căng đan. Cụ Hồ phản đối chính phủ Pháp, cho rằng chính phủ Pháp cố tình làm rắc rối cho cụ, hạ nhục cụ, chế nhạo cụ. Cụ đòi gặp đại diện nhóm chủ trương tờ Le Paria. Trong một lần gặp gỡ với đại diện bộ ngoại giao Pháp, cụ Hồ đã làm mặt nổi giận, chua cay, trách móc chính phủ Pháp.

Đại diện bộ ngoại giao Pháp, chính phủ Pháp đã mắc bẫy, xin lỗi cụ Hồ bao nhiêu lần về vụ này, và những mật vụ Pháp, cán bộ thông tin mật của Pháp sau đó đã phải đi căn dặn các báo cần dè dặt trong mọi bài bình luận, chỉ trích gì đề cập đến cụ Hồ và vấn đề Việt Nam.

Trong lúc cụ Hồ ở Pháp, các bào Pháp tuy gọi là tự do, nhưng thông cảm với chính phủ, nên riêng các đề tài Việt Nam, thì coi như có kiểm duyệt. Nhưng mà ý cụ Hồ khi làm mặt giận vì bài báo Le Paria không phải chỉ có như vậy đâu. Cụ muốn lấy cái lập trường quá khích ở Le Paria để làm một tiêu chuẩn so sánh với lập trường thật là ôn hòa, mềm dẻo của cụ, và như thế chứng minh với người Pháp rằng ngày nay cụ và dân tộc Việt Nam đã chọn nước Pháp làm một đồng minh đàn anh, nghĩa là cụ chịu nhượng bộ nhiều lắm, nhưng Pháp cũng nên hiểu cho cụ, đừng bắt cụ nhượng bộ hơn nữa, bởi vì sau lưng cụ, còn những thành phần quá khích không thể nào cho phép cụ lùi thêm bước nữa.

Mấy tháng liền, nghĩa là từ ngày 22 tháng 6 đến 13 tháng 9, hội nghị Fontainebleau vẫn tiếp tục. Cụ Hồ bất mãn và thất vọng. Sau mấy phiên nhóm đầu, cụ hoàn toàn giao phó cho các đại diện. Nguyễn Mạnh Hà thường đi dự với nhiều nhiệm vụ, một trong các nhiệm vụ đó là thông ngôn, vì Hà giỏi tiếng Pháp, mà cũng giỏi tiếng Việt. Đôi lúc Hà trở lại gặp tôi và kể cho nghe những chuyện xảy ra trong hội nghị. Cụ Hồ có vẻ không gấp gáp ký bất cứ một hiệp ước gì với Pháp. Người ta có cảm tưởng cụ Hồ cố tình kéo dài hội nghị. Người Pháp thì cũng muốn kéo dài tình trạng nhập nhằng này, có lẽ để cho sự phân chia Nam bộ trở thành vững chắc và tự nhiên hơn. Bên Sài-gòn, chính phủ Nguyễn Văn Thinh trở thành bù nhìn thực sự của Pháp. Cả những cơ quan hành chánh cũng do người Pháp làm trưởng sở.

Người Pháp có cảm tình với cụ Hồ nhiều lắm. Nhưng có một điều bất ngờ cụ Hồ lúc sang Pháp không tính đến: những lãnh tụ cộng sản ngày nay ít ai biết đến và thân thiết với đảng viên cộng sản kỳ cựu trong những đảng viên sáng lập đảng cộng sản Pháp, sau đệ nhị thế chiến là Nguyễn Ái Quốc, nay là Hồ Chí Minh. Vì vậy sự hỗ trợ, hay thiện cảm của đảng cộng sản Pháp mà cụ Hồ đã mong mỏi không xảy ra.

Trong một buổi tiếp tân vào ngày 25 tháng 6, tức là trước ngày chúng tôi dự tiệc trưa lần thứ nhất với cụ Hồ tổ chức tại khách sạn Royal một cuộc tiếp tân long trọng mời rất đông quan khách. Đảng cộng sản Đông Dương ở Pháp, và cán bộ Việt Minh đi lôi kéo số Việt kiều, khoảng vài trăm người kéo đến quanh Hotel Royal biểu tình hoan hô tình thân thiện Pháp Việt, lúc cụ Hồ tiếp các chính khách, trí thức, nhân sĩ, báo giới Pháp bên trong khách sạn. Trong buổi tiếp tân này một đảng viên cộng sản Pháp, thuộc hệ phái Trotsky, tức là đệ tứ quốc tế, có hỏi trường hợp cái chết của Tạ Thu Thâu. Cụ Hồ làm mặt buồn rầu, thiểu não, đã trả lời rằng: Ông Thâu là một nhà ái quốc lớn, và chúng tôi rất buồn lòng khi hay tin ông mất.

Bị hỏi dồn, ai là thủ phạm thủ tiêu ông Thâu, cụ Hồ đã trả lời gắng gượng: Tất cả những ai đi sai con đường tôi đã vạch, đều phải bị tiêu diệt. Con người cộng sản giáo điều ở cụ Hồ hiện rõ trong câu nói đó, và câu nói tàn bạo đó giải thích được những hành động sau này của chính phủ Việt Minh ở vùng gọi là giải phóng.

Có lẽ nhờ tuổi tác, cho nên cụ Hồ nói chuyện thân mật với các thiếu phụ Pháp, đàn bà Pháp rất tự nhiên. Trong cuộc tiếp tân này, tổ chức trong vườn hoa Hotel Royal, cụ Hồ đã tự hái những bông hồng đẹp nhất cài lên áo, lên tóc những bà mệnh phụ tham dự, kèm theo những lời khen áo đẹp, những câu ca tụng nước Pháp.

Ngày 13 tháng 7, cụ Hồ mở cuộc họp báo, và các bài tường thuật được đăng trên một vài báo Pháp. Lúc đó báo chí quốc tế chưa chú ý mấy đến vấn đề Việt Nam, vì họ xem đây là một vấn đề nội bộ của nước Pháp. Bộ ngoại giao Pháp cũng đang vận động với các Tòa đại sứ đồng minh, nhất là với Mỹ và Anh, để thu hẹp tầm quan trọng của vấn đề này thành chuyện nội bộ của Pháp. Cuộc họp báo ngày 13-7 đã không có tiếng vang như cụ Hồ mong ước.

Trong cuộc họp báo này, cụ Hồ đã xác nhận cụ là Nguyễn Ái Quốc. Cụ trả lời báo Le Monde, đã hỏi cụ về lai lịch của cụ, trong câu hỏi có nêu thắc mắc cụ Hồ có phải là Alias Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc hay không? Cụ Hồ mỉm cười, trả lời một cách mập mờ, nước đôi: “Tôi đã phải sống lén lút, chui rúc, cho nên cái việc đội tên này tên nọ không có gì đáng ngạc nhiên. Và tôi chỉ thực hiện công khai kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1945” (ngày tuyên cáo độc lập). Cụ Hồ lên Ba-Lê ngày 22 tháng 6, nhưng mãi đến ngày 2 tháng 7, tức 10 ngày sau, cụ mới gặp thủ tướng Pháp Georges Bidault. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và Bidault có vẻ khinh thường cụ Hồ. Trong thông cáo chung cụ Hồ đã hết sức nhún nhường, mềm dẻo: Chúng ta sẽ thành tâm hợp tác với nhau theo tinh thần nhân bản mà các triết gia Khổng giáo cùng các triết gia Tây phương đều chia sẻ, để thiết lập một mối liên hệ mới giữa những con người cùng tự do, và cùng tương quan với nhau. Như chúng ta thấy, bản thông cáo đã cố tình bỏ sót cái ý: giữa hai quốc gia tự do độc lập, tương quan.

Ngày Cát-To-Duy-Ê (14/ 7) 1946: Cụ Hồ thành Quốc Khách của Pháp

Nhờ những cuộc vận động khôn khéo, dần dà cụ Hồ trở thành thượng khách của chính phủ Pháp, của nước Pháp. Chúng ta thấy cụ đã đi từ chỗ ở kín đáo tại thành phố Biarritz, đến Ba-Lê, và vào ngày 14 tháng 7 tức là ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đã được xếp chỗ ngồi trên hàng ghế danh dự, ngang hàng thủ tướng Bidault. Trong cuộc lễ hôm đó, cụ Hồ đã nhân danh quốc trưởng Việt Nam đặt vòng hoa tưởng niệm lên mồ chiến sĩ vô danh. Từ đây cụ có tư thế một quốc khách của Pháp rồi.

Như nói trên ông Bidault là một người có tinh thần thực dân và khinh miệt người Việt Nam lộ liễu. Trong việc sắp xếp chỗ ngồi trong ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đòi ngồi ngang hàng với ông Bidault, nhưng ông Bidault nhất định không chịu như vậy. Cuối cùng ban nghi lễ phải sắp nhiều khán đài gần nhau, nhưng cái cao cái thấp, hơn kém nhau vài phân. Cụ Hồ được sắp ngồi cũng tạm gọi là ngang hàng với ông Bidault trên khán đài riêng, thấp hơn khán đài ông Bidault vài phân, nhưng ở xa thì thấy ngang nhau.

Cụ Hồ được xếp ngồi chung với các lãnh tụ cộng sản như Thorez và các bộ trưởng cộng sản như Tillon (bộ trưởng không quân).

Những ngày ở Ba-Lê kéo dài mà không ích lợi gì. Hội nghị Fontainebleau, theo lời kể của Nguyễn Mạnh Hà, thì chỉ là một phiên họp để Pháp ra điều kiện và phái đoàn Việt Minh từ chối cách nào cho khéo léo, để không tan vỡ ngay là được rồi.

Cụ Hồ chán nản, và nhân một hôm gặp lại một người bạn Pháp quen thân lâu năm, vợ chồng ông Raymond Aubrac, hiện sống trong một biệt thự rộng rãi ở vùng quê phụ cận Ba-Lê, cụ Hồ để phái đoàn của ông lại Hotel Royal, trong lúc cụ và vài thơ ký dời đến ở nhà ông Aubrac. Vợ ông này là bà Lucie Aubrac, là dân biểu cộng sản trong quốc hội Pháp. Cụ Hồ dời về nhà gia đình Aubrac từ ngày 12 tháng 8 và ở lại đó cho đến ngày 15 tháng 9 tức là ngày cụ rời Pháp trở về Việt Nam.

Chính phủ Pháp dành cho cụ Hồ và phái đoàn Việt Minh vài chiếc xe du lịch, tôi nhớ hình như là mấy chiếc Citroen, loại ba hàng ghế, với tài xế và cận vệ cùng một đội cảnh sát. Lúc dời về nhà Aubrac, cụ Hồ đem theo chiếc xe, nhưng yêu cầu khỏi có cảnh sát. Mỗi sáng cụ dậy sớm, duyệt qua các báo Pháp, các bản tường thuật phiên họp hôm trước, rồi dùng sáng với gia đình Aubrac và lên Ba-Lê.

Càng kéo dài, hội nghị Fontainebleau càng lâm vào tình trạng bế tắc, đổ vỡ. Fontainebleau là một nơi tuy chẳng xa Ba-Lê lắm, nhưng khí hậu lại lạnh, và phòng họp thì thiếu tiện nghi. Những người Việt Nam tham dự hội nghị có lẽ vì cái rét lạnh không quen ở Pháp, đâm ra lầm lì. Phía phái đoàn Pháp chỉ gồm những chuyên viên cề vấn đề thuộc địa, mà không có một nhân vật chính trị có hạng nào cả.

Vì vậy vấn đề được đặt ra đều không thể giải quyết tại chỗ, mà phải chờ phúc trình lên. Điểm bất đồng lớn nhất giữa hai phái đoàn, hai quốc gia, là phía Việt Minh thì muốn đứng trên lập trường một quốc gia độc lập, chủ quyền, để thương thuyết về mối liên hệ theo pháp lý quốc tế, với một quốc gia bạn.

Trong lúc phía Pháp muốn coi hội nghị này như một cuộc họp nội bộ giữa chủ và tớ, mà chủ dĩ nhiên là nước Pháp. Họ chỉ muốn phái đoàn Việt Minh chấp thuận những ân huệ của Pháp, nếu có sửa đổi thì chỉ sửa đổi đôi chút thôi. Điểm bất đồng quan trọng thứ hai, là phái đoàn Việt Minh quan niệm nước Việt Nam thống nhất từ Cà Mau đến Nam Quan, do một chính phủ và dĩ nhiên là chính phủ Việt Minh cai trị.

Phái đoàn Pháp theo chỉ thị của chính phủ và dựa theo thỏa ước tháng 3, thì coi vấn đề lãnh thổ Việt Nam chưa được giải quyết: Nam bộ đã có chính phủ tự trị dưới nhãn hiệu giả Nguyễn Văn Thinh, nhưng được hứa là sẽ có tổ chức trưng cầu dân ý để quyết định sát nhập hay tách riêng. Trung và Bắc kỳ thì có thể trao cHồ Chính phủ Việt Minh, nhưng chính phủ này phải công nhận tính cách chuyển tiếp, lâm thời và phải chờ sau cuộc trưng cầu dân ý toàn cõi Việt Nam mới dứt khoát.

Tuy nhiên có một điều mà chính phủ Pháp không biết và nếu biết thì có lẽ hội nghị Fontainebleau không tan vỡ, chính phủ Việt Minh coi việc thống nhất ba miền quan trọng hơn vấn đề độc lập. Do đó nếu Pháp chịu để cho ba miền thống nhất, thì Việt Nam có thể chấp nhận qui chế tự trị trong liên hiệp Pháp. Nhưng lúc bấy giờ Pháp theo chủ trương và mưu kế của D’Argenlieu, đã tách Nam bộ thành cộng hòa Nam bộ tự trị, cho nên bây giờ nhượng bộ điểm này ngay, khi chưa có trưng cầu dân ý thì có vẻ Pháp chịu thua sao. Cho nên Pháp không nhượng bộ về vấn đề thống nhất lãnh thổ.

Đến ngày 12 tháng 9, hội nghị Fontainebleau kể như tan vỡ. Một phần phái đoàn Việt Minh đã rời nước Pháp trở về Hà Nội.

Một thông cáo của phái đoàn Việt Minh được phổ biến, cố che dấu sự thất bại, cố mở rộng cửa thương thuyết.

Thông cáo không có nói đến những điều gì đã thỏa thuận được, mà chỉ nói rằng hai chính phủ “mong ước” sẽ tiếp tục nói chuyện nhau ở những cấp bộ địa phương về những thỏa ước giới hạn.

Tại Hà Nội những phần tử quá khích rục rịch nổi lên chống lại Việt Minh. Khi hay tin hội nghị Fontainebleau thất bại, các đảng phái cách mạng đã công khai chỉ trích chính phủ Việt Minh và cụ Hồ.

Vì vậy cụ Hồ muốn mang về nước ít ra một thỏa ước nào minh bạch hơn là một bản thông cáo không có giá trị gì hết. Cụ chỉ còn trông cậy vào một con đường: ký với Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là bộ Thuộc Địa Pháp, một thỏa ước kiểu đó. Dĩ nhiên đây là một thiệt thòi nhục nhã Hồ Chính phủ Việt Minh: quốc trưởng một quốc gia, dù nhỏ bé không thể nào hạ mình ký kết với một bộ trưởng, lại là bộ trưởng bộ Thuộc Địa.

Làm như vậy đương nhiên cụ Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa, chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp.

Lần thứ ba, cụ Hồ nói rõ phải đánh Tây nếu…

Từ ngày 11 tháng 9, gần như suốt ngày, có lúc lẫn sang đêm, cụ Hồ đã đến gặp ông Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp. Trong những ngày cuối cùng ở Pháp này cụ Hồ lúc nào mặt cĩng có vẻ buồn rầu, đau khổ, trầm ngâm. Những Việt kiều thỉnh thoảng gặp cụ không mấy lúc thấy cụ cười nữa.

Trong khoảng thời gian này, chúng tôi và một số Việt kiều khá đông nhận được thiếp mời của cụ Hồ, mời dự một buổi tiếp tân ở nhà ông Raymond Aubrac. Hầu hết những Việt kiều tôi quen biết đều được giấy mời.

Những người trong nhóm quen biết với tôi không mấy ai giàu, cho nên cùng hẹn chung nhau đi chuyến xe buýt. Lúc chúng tôi đến khoảng 4 giờ chiều, thì số Việt kiều có mặt rồi khá đông, có khoảng vài trăm người. Tôi cứ ngại là sau hai lần gặp gỡ cụ Hồ, lần nào tôi cũng lên tiếng cãi lại cụ, lần này có thể cụ sẽ bực mình với tôi.

Nhưng điều tôi không ngờ, là cụ Hồ niềm nở với tôi như trước. Cụ đón chúng tôi ngay gần cổng vào vườn.

Buổi tiếp tân tính tổ chức trong vườn, cho nên tôi đã thấy bàn ghế kê sẵn, đèn mắc sẵn, trên các nhành cây, bụi hoa. Cụ Hồ bắt tay tôi, rồi khoác vai tôi kéo vào một chiếc ghế đôi trong vườn. Tay cụ vẫn bá vào vai tôi, có lúc cụ vòng tay lại trước ngực tôi, mân mê những nút áo, và bàn tay gầy guộc của cụ đã đụng vào má, vào cằm tôi. Cử chỉ thân mật này, nếu ở bất cứ một người nào khác, chắc là tôi không chịu, nhưng ở cụ Hồ thì tôi thấy nó tự nhiên quá, và không có lý do gì để tôi từ chối cả.

Anh em vây quanh cụ Hồ, phần nhiều là những thành phần trí thức trong đó có những người quen nhiều với tôi hỏi han tình hình, kết quả hội nghị Fontainebleau. Tôi thấy mặt cụ Hồ thoáng sậm lại, vừa buồn, vừa chua chát, vừa căm hận. Nhưng rồi cụ mỉm cười liền được. Cụ trả lời bông đùa, mập mờ, đại ý rằng thành công hay thất bại chẳng quan trọng gì cho lắm, thua keo này ta bày keo khác.

Lúc đó khoảng 5 giờ chiều. Vài giọt mưa bắt đầu rơi xuống. Mọi người kéo nhau vào trong nhà. Cụ Hồ vẫn đặt tay trên vai tôi, kéo tôi vào phòng khách.

Phòng khách tuy rộng nhưng cũng khó chứa hết vài trăm người, nếu mỗi người đều phải có ghế ngồi. Cụ Hồ lên tiếng yêu cầu mọi người dẹp ghế vào sát tường rồi ngồi bệt xuống nền nhà cho tiện. Cụ kéo tôi ngồi xuống trước nhất. Tôi thấy không có gì để nói. Các anh em Việt kiều liên tiếp hỏi cụ, bây giờ hội nghị Fontainebleau kể như thất bại rồi, cụ tính sao? Cụ Hồ trả lời nước đôi, cố tình giấu diếm điều gì đó:

– Hội nghị vẫn tiếp tục. Chúng ta có tục ngữ: còn nước còn tát mà. Nhưng nếu hội nghị thất bại, chúng ta sẽ liệu đối phó.

Một anh em Việt kiều hỏi.

– Thưa cụ chủ tịch, nước Pháp có binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, chúng ta lấy gì để đánh Pháp, và đánh như vậy thì hy vọng gì mà đánh?

Cụ Hồ nhìn thẳng mọi người, giọng cương quyết:

– Chúng ta có nhân dân, nếu nhân dân quyết tâm đánh, thì dù Pháp mạnh đến mấy cũng phải thua. Tất nhiên là không ai muốn chịu cảnh chiến tranh, vì thắng hay bại thì cũng phải thiệt hại nhiều. Nhưng một khi thương thuyết không kết quả, thì chúng ta không còn cách gì khác.

Cụ Hồ có lẽ để tránh những câu hỏi lắc léo, hoặc vì một lý do nào đó tôi không được biết, cụ đứng lên đi vào nhà trong. Vài phút sau, cụ trở ra và vẫn ngồi xuống cạnh tôi. Một gia nhân đi theo đến trước mặt tôi:

– Thưa cha, bà chủ mời cha vào có chuyện muốn thưa với cha.

Tôi theo gia nhân vào một phòng khách nhỏ, lối phòng khách phụ nữ, bà Lucie Aubrac đứng lên bắt tay tôi, tươi cười mời tôi ngồi:

– Hôm nay tôi rất sung sướng thấy các linh mục, những nhà trí thức Việt Nam như các ông Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông cùng đến dự cuộc tiếp tân của cụ Hồ.

Tôi thấy đây là một triệu chứng tốt tỏ rõ dân tộc Việt Nam không phân biệt tôn giáo, giai cấp đã đoàn kết sau cụ Hồ.

Sau vài câu chuyện phiếm, bà Aubrac xin chụp hình tôi làm kỷ niệm. Tôi nhận thấy bà có một dụng ý nào đó, nên ngần ngại.

– Thưa bà, hình một thầy tu như tôi thì có ra gì đâu, xin bà khỏi phải chụp làm gì.

Bà Aubrac có vẻ muốn chụp cho được hình tôi.

– Thưa cha, ít khi chúng ta có dịp gặp gỡ như thế này, tôi chỉ muốn xin chụp hình cha làm kỷ niệm.

Tôi đã thấy hai chiếc máy hình, loại máy hình lớn, có chân lớn ba càng trên phủ tấm vải đen của các thợ chụp hình chuyên môn thời đó. Tôi vẫn từ chối:

– Nếu bà chụp hình để làm kỷ niệm, bỏ vào Album gia đình thì dù không thích tôi cũng không dám từ chối, nhưng nếu bà chụp hình để ngày mai hình tôi lên báo L’humanité kèm theo một bài bình luận đại khái nói rằng linh mục Luận ủng hộ lập trường cụ Hồ hết mình, thì tôi xin bà cho phép tôi từ chối.

Bà Aubrac vẫn tươi cười:

– Nếu cha đã không bằng lòng cho lên báo, thì chúng tôi sẽ giữ làm kỷ niệm trong gia đình vậy.

Thợ chụp hình ngắm nghía, chụp riêng tôi vài bô, chụp tôi đứng chung với bà Aubrac vài bô. Tôi ra phòng ngoài, đứng ở một góc hơi xa cụ Hồ. Hình như cụ vẫn chờ tôi ra nên vừa thấy tôi, cụ đã bước lại gần, kéo tôi ngồi xuống bên cạnh như trước. Cụ có vẻ thân mật, tha thiết hơn:

– Tôi sắp về nước, nhân tiện chú nên viết một bức thư gửi các giám mục, các giáo sĩ bên nước nhà, các vị sẽ mừng vì thấy các vị linh mục trẻ bên Pháp đã hiểu và ủng hộ lập trường của chính phủ ta.

Hồ Chí Minh yêu cầu tôi viết một lá thơ…

Từ sau lần gặp gỡ thứ hai, cụ Hồ đã quen gọi tôi là chú, khi thì gọi là linh mục. Vẫn theo thói quen, tay cụ vẫn mân mê những nút áo chùng thâm của tôi, những chiếc nút có bọc vải bên ngoài, và khá lớn. Tôi dè dặt:

– Thưa cụ chủ tịch, bên nước nhà có đến 14, 15 vị giám mục, bây giờ tôi biết viết thư cho ai? Vả lại khi tôi rời nước nhà đi du học thì còn trẻ tuổi, không có hân hạnh thân thiết với các ngài cho lắm.

Cụ Hồ có vẻ trầm ngâm, suy nghĩ, tìm tòi một lúc, rồi cụ làm ra vẻ mừng rỡ như đã khám phá được điều quan trọng:

– Chú hãy viết thư cho Đức cha Lê Hữu Từ được rồi. Ngài là cố vấn tối cao của chính phủ ta, và cũng là bạn thân của tôi, tôi sẽ đưa tận tay ngài.

Tôi đã hiểu cái dụng ý chính trị của cụ Hồ trong việc này, cho nên tôi muốn từ chối khéo léo:

– Thưa chủ tịch, tôi được giấy mời đến đây dự tiệc tiễn đưa cụ chủ tịch, không có chuẩn bị chi cả, nên bây giờ cụ chủ tịch bảo viết thư, tôi chẳng biết viết thế nào cả. Vả lại tối nay sau khi từ biệt cụ chủ tịch tôi phải đáp xe hỏa đi Louvain ngay, thuyết trình tại một đại hội truyền giáo ở đó. Ở đây có ông Trương Công Cừu, Tổng thư ký hội Việt kiều công giáo Ba-Lê, để ông Cừu viết thư cũng được vậy.

Cụ Hồ cau mày, có vẻ phật ý:

– Linh mục, hay một linh mục nào khác viết thư thì mới có giá trị, chớ một giáo dân thì không ích lợi gì.

Tôi hẹn lại:

– Nếu vậy để tôi về thưa lại với các cha khác, và có thể họ sẽ viết thư vềrồi trao cho cụ chủ tịch sau.

Câu chuyện về lá thư tạm kết thúc ở đây, và cụ Hồ không nhắc lại nữa. Tôi đi Louvain nên không dự buổi tiếp tân đến cuối được. Tôi kiếu từ ra về sớm hơn các người khác. Cụ Hồ tiễn tôi đến cửa phòng khách, bắt tay, tươi cười, và mời tôi về nước.

Những điều tôi viết ra về Hồ Chí Minh, một phần qua những lần tiếp xúc trực tiếp giữa tôi với cụ Hồ, một phần do những câu chuyện, những tin tức mà tôi được biết đến thời bấy giờ, và tôi không dám nói là tôi biết nhiều hơn các sử gia. Sau này tôi không còn gặp lại cụ Hồ một lần nào. Năm 1947 tôi về nước, có tìm cách trở vào địa phận Vinh, lúc bấy giờ thuộc kiểm soát của chính phủ kháng chiến Việt Minh, nhưng vì không thể bắt liên lạc với các bậc thẩm quyền địa phận Vinh cho nên tôi phải lưu lạc Hà Nội, rồi vào Huế và từ Huế tôi ra Hương Phương, Hòa Ninh ở lại mấy tháng. Tình hình lúc bấy giờ làm tôi thay đổi ý định, vì biết rằng dù có ra Xã Đoài, tôi cũng không giúp ích gì được.

Lúc bấy giờ trong vùng Việt Minh kiểm soát, phong trào đàn áp công giáo tuy chưa lộ liễu, nhưng đã bắt đầu, và nhiều làng công giáo đã tách rời để thành lập những khu biệt lập, bên ngoài dựa theo Pháp, nhưng thực tâm không mong gì hơn là được sống yên lành.

Cụ Hồ đến phòng ngủ Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp

Những ngày cuối cùng của hội nghị Fontainebleau, tức là ngày đầu tháng 6, trong lúc phái đoàn Việt Nam vẫn còn tham dự hội nghị thì Hồ Chí Minh lúc bấy giờ đang ở trong nhà gia đình dân biểu cộng sản Raymond Aubrac, mỗi sáng khoảng 10 giờ, đi xe lên Hotel Royal Monceau, duyệt lại các tài liệu, phúc trình, hội nghị ngày hôm trước, rồi theo chương trình đã sắp xếp trước, cụ đến Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là Bộ Thuộc Địa, hội đàm với ông Bộ trưởng Marius Moutet.

Những cuộc họp riêng và kín này bắt đầu vào khoảng ngày 7 tháng 9, lúc hội nghị Fontainebleau không còn hy vọng gì đi đến một giải pháp mà cả Pháp lẫn Việt Minh có thể chấp nhận.

Những gặp gỡ giữa cụ Hồ và ông Marius Moutet hình như do ông Jean Sainteny và một nhân vật cộng sản trong chính phủ Pháp thời bấy giờ là ông Tillon, Bộ trưởng Không Quân sắp xếp và khuyến khích, với mục đích vừa không làm mất lòng đồng chí cộng sản Hồ Chí Minh, tức Alias Nguyễn Ái Quốc, và từng là sáng lập viên đảng cộng sản Pháp, mà lại không đi ngược lại quyền lợi và chính sách của nước Pháp.

Những người gặp cụ Hồ lên xe đến bộ Pháp Quốc Hải Ngoại thời bấy giờ đều kể lại với tôi rằng: mặt cụ đăm đăm, trán cau lại thành những vết nhăn không lúc nào phai được.

Cụ lặng lẽ bước lên xe, người như gập đôi lại trên chiếc ghế sau. Người cận vệ duy nhất của cụ bước lên cạnh ghế tài xế, và lập tức người tài xế là một đảng viên cộng sản Pháp do ông Aubrac giới thiệu, rồ máy xe, từ từ chạy đến bộ Thuộc địa.

Không một người nào khác tham dự những buổi họp kín này. Theo lời một vài người kể lại với tôi, thì có nhiều buổi sáng cụ Hồ như ngần ngại, lo sợ đến thẳng bộ Thuộc Địa, và khi gần đến, bỗng cụ ra hiệu cho tài xế đi lòng vòng trong thành phố Ba-Lê vài chục phút, rồi đột ngột cụ chép miệng, bảo tài xế thôi hãy đến bộ Thuộc địa.

Vài ký giả chực trước cửa bộ Thuộc địa để xin phỏng vấn, đều bị từ chối đôi lúc một cách khéo léo, đôi lúc một cách cứng rắn. Những ai nhìn thấy mặt cụ Hồ lúc bấy giờ dù rất muốn săn tin, cũng không nỡ nài ép. Trong mấy ngày, trông cụ già thêm mười tuổi.

Không ai biết rõ những điều được thảo luận giữa cụ Hồ và ông Marius Moutet. Lúc đó có ý định của Pháp trong vấn đề Việt Nam đã khá rõ rệt, Pháp muốn thành lập 3 vùng riêng biệt, nếu có thể thì biến thành ba quốc gia không liên hệ gì với nhau. Nam kỳ tự trị, gọi là Cộng hòa Nam kỳ, hoàn toàn do Pháp chi phối qua những bù nhìn kiểu Nguyễn Văn Thinh. Nước Việt Nam, mà trong mọi danh từ chính thức Pháp vẫn cố tình gọi là Annam, có thể gồm từ phía Bắc Phan Thiết ra đến biên giới Hoa-Việt, có thể giao cHồ Chính phủ Việt Minh, và một cao nguyên tự trị, và một cao nguyên tự trị, chạy đi từ vùng Đà Lạt, Tuyên Đức, lên đến Ban Mê Thuộc, Kontum. Lúc bấy giờ có nhiều tin đồn nói rằng Pháp đã tìm thấy trong vùng Cao Nguyên này, và phần Cao Nguyên thuộc lãnh thổ Lào tiếp giáp với vùng này những khoáng sản quí báu: than đá, dầu hỏa, Uranium v.v…

Nhìn nét mặt cụ Hồ sau buổi họp kín với bộ trưởng Thuộc Địa Marius Moutet, người ta đoán được rằng cụ Hồ đã nhượng bộ thêm một chút. Lúc bấy giờ cũng có nhiều tin đồn trong giới Việt kiều ở Pháp, đồn rằng nước Pháp thấy không thể buộc cụ Hồ chấp nhận một giải pháp hoàn toàn có lợi cho Pháp, đang muôi ý định bắt cóc, hay giam lỏng cụ Hồ không cho về nước, nếu cụ không ký kết với Pháp một thỏa hiệp công nhận Cộng Hòa Nam Kỳ, và Cao Nguyên tự trị. Tất cả chỉ là những tin đồn bởi vì cho đến hôm nay lịch sử vẫn không cho biết rõ những cuộc thảo luận tại bộ Thuộc Địa Pháp đã diễn ra như thế nào, tranh luận về những vấn đề nào. Nhưng càng ngày người ta càng thấy cụ Hồ mất bình tĩnh, buồn thảm chán ngán hơn một chút.

Sau buổi tiếp tân tại nhà Aubrac, chiều tối đó tôi đi xe lửa sang Louvain, Bỉ, dự một buổi thuyết trình của Hội Thừa Sai. Hai hôm sau tôi trở lại, và ngày nào cũng có một vài Việt kiều đến nói chuyện với tôi về số phận hội nghị Fontainebleau, và những cuộc gặp gỡ giữa cụ Hồ với ông Moutet. Nhờ đó, tuy không gặp lại cụ Hồ một lần nào trước khi cụ rời nước Pháp, tôi cũng biết được, như mọi người lúc bấy giờ có thể biết, những gì xảy ra quanh cụ Hồ.

Nguyễn Mạnh Hà ở lại cho đến ngày cuối cùng, trong lúc một phần phái đoàn Việt Minh tham dự hội nghị Fontainebleau về, đã rời Pháp, đi tàu thủy từ Marseille về Sài Gòn, ghé Cap, rồi ra thẳng Hà Nội.

Những cuộc hội đàm giữa cụ Hồ và Moutet không hề được văn kiện hóa.

Cụ Hồ là người có trí nhớ phi thường, và để giữ bí mật hoàn toàn về nội dung những cuộc mật đàm này cụ không muốn lập một văn kiện gì về những cuộc mật đàm đó. Một lần gặp Nguễn Mạnh Hà, sau khi từ Louvain về Ba-Lê, tôi có hỏi về nội dung những cuộc họp ở bộ Thuộc Địa, Hà lắc đầu, nói rằng Hà cũng chỉ biết qua những tin đồn, qua nét mặt càng ngày càng buồn thảm của cụ Hồ, sau mỗi lần gặp ông Moutet. Và Hà đoán rằng những cuộc gặp gỡ mật đó không thể nào gọi là một thành công đối với cụ Hồ. Hà cùng tôi thảo luận về những giả thuyết, những tin đồn và hỏi nhau liệu người Pháp có dám bắt cóc hay giữ cụ Hồ lại không. Không ai có thể trả lời được.

Một việc mà Hà cho tôi biết vào những ngày đầu tháng 9, là những điện tín theo mật mã hay ám ký, từ Hà Nội đánh sang. Đại loại thì những điện tín đó đều tỏ ra sốt ruột, lo lắng, thúc giục cụ Hồ mau trở về nước, vì hiện có nhiều biến chuyển trọng đại tại nước nhà đòi hỏi sự có mặt của cụ.

Một điện tín đề cập đến tình trạng căng thẳng ở Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Vụ Bắc Ninh xảy ra đâu trong tháng Tám: một toán quân tự vệ Việt Minh phục kích một đoàn quân tải lương của Pháp, giết gần trọn đoàn quân này và cướp được lương thực, súng ống. Hình như vụ này do chính Võ Nguyên Giáp và Chu Văn Tấn bày ra khi hay tin Hội nghị Fontainebleau kể như bế tắc để làm áp lực với chính phủ Pháp.

Tại Lạng Sơn, đồn binh Pháp sống trong tình trạng bị bao vây và cô lập. Quân Pháp không dám ra ngoài, sợ bị ám sát, bắt cóc, và sợ dân chúng đánh đập. Hải Phòng xảy ra vài vụ lộn xộn giữa lính Pháp và các thanh niên tự vệ thành.

Tại Nam bộ, người Pháp than phiền rằng tướng Nguyễn Bình đang mộ quân, lập căn cứ, xây dựng hạ tầng cơ sở trái với thỏa ước tạm thời 8 tháng Ba giữa D’argenlieu, (Jean Sainteny ký thay) Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh.

Nguyễn Bình không chịu tập trung quân vào khu chỉ định chờ một giải pháp chính thức, trái lại Nguyễn Bình mở đường sang Cao Miên và Lào, tìm cách liên kết với các nhóm cách mạng chống Pháp khác, như Hòa Hảo của Huỳnh Phú Sổ.

Đối với những vụ này, cụ Hồ luôn luôn tìm cách trấn an người Pháp, và cụ có lúc dựa vào những điều đó, để yêu sách Pháp thêm một chút, nhưng hình như cụ không thành công. Có tin tướng Leclerc được thay thế bởi tướng Valluy. Cụ Hồ và các lãnh tụ Việt Minh rất tin tưởng vào tướng Leclerc, và lo sợ tinh thần thực dân quá khích của tướng Valluy và những bộ hạ của ông như đại tá Debès, đô đốc Battet.

Tất cả những tin tức từ nước nhà làm cho cụ Hồ buồn phiền thêm, và linh cảm một sự đổ vỡ trầm trọng trong bang giao Pháp Việt. Cụ Hồ là người biết rõ một cuộc chiến tranh sẽ tai hại đối với dân tộc Việt Nam như thế nào. Cụ lại đặt nặng vấn đề thống nhất ba vùng lên trên cái danh từ độc lập, hay chủ quyền. Nhưng người Pháp đã quyết liệt không muốn cho Việt Nam thống nhất. Lúc bấy giờ Pháp lại đã thỏa thuận được với Lào và Cao Miên, để đặt lại một chế độ bảo hộ mới, trá hình dưới chiêu bài Liên Hiệp Pháp.

Phe De Gaulle thì gần như bị loại ra hết khỏi chính phủ, và tướng De gaulle đã trở về trại mát Colombey des Deux Eglises trí sĩ và viết hồi ký, không tham dự gì vào chính trị nước Pháp, do đó những lời hứa hẹn của ông trong diễn văn đọc ở Brazaville được coi như vô giá trị.

Trong bầu không khí đó, cuộc họp buổi chiều kéo dài mãi đến 9 giờ tối, cụ Hồ mới rời bộ Thuộc Địa ra về.

Trông cụ càng thiểu não hơn bao giờ. Vài phút sao thì Moutet cũng ra xe về tư dinh, và người ta thấy nét mặt ông Moutet cũng chẳng tươi tắn gì hơn. Ông Moutet theo tiết lộ một vài người thì tối đó đã không dùng bữa, vào ngay phòng ngủ, đóng kín cửa và lên giường liền. Về sau người ta được biết ông Moutet bị cảm và vì đó, trong cuộc họp chiều 14-9, cụ Hồ và ông ta đã trao đổi những lời xẵng giọng gần như là cãi lộn với nhau. Câu cuối cùng của ông Moutet hình như là một câu từ chối.

Về đến Hotel Royal, cụ Hồ cũng về ngay phòng riêng nhưng người ngoài vẫn thấy cửa sổ phòng cụ Hồ sáng đèn, và cụ Hồ ngồi làm việc cho đến gần nửa đêm.

Gần nửa đêm cụ Hồ đích thân gọi điện thoại cho ông Moutet. Ông Moutet đang ngủ, yêu cầu có chuyện gì dù khẩn cấp mấy cũng xin chờ cho đến sáng mai, ông mệt và bị cảm không thể nói chuyện gì được nữa. Cụ Hồ nài nỉ rằng cụ sẽ đến gặp ông tại nhà riêng ngay lập tức, chỉ 5 phút nữa thôi, và không để cho ông Moutet kịp từ chối, cụ Hồ cúp điện thoại.

Theo người Pháp kể lại, thì ông Moutet cũng không ngờ là cụ Hồ sẽ đến gặp ông ngay, cho nên ông lên giường ngủ lại. Nhưng quả thực cụ Hồ đã rời Hotel Royal, cùng với một cận vệ và tài xế đến nhà ông Moutet ngay.

Ông Moutet kể lại rằng ông vừa chợp mắt, thì gác cửa bảo là cụ Hồ đến, và đã đến, và đã lên thẳng phòng ông.

Khi cụ Hồ vào thì ông Moutet còn nằm trên giường, tung chăn ngồi dậy bận áo ngủ, ngồi trên giường. Cụ Hồ và người cận vệ bước vào. Cụ Hồ đến ngồi vào chiếc ghế đầu giường ông Moutet, cố lấy nét mặt vui tươi cởi mở nói rằng cụ đến để ký kết những điều được thảo luận lúc chiều, chỉ xin thay đổi vài chi tiết nhỏ.

Ông Moutet lại yêu cầu cụ Hồ ngày mai sẽ họp và ký cũng chẳng vội gì. Đại ý là cụ Hồ đã nói rằng cái gì đã xong hãy cho xong luôn, không nên chờ sáng ngày mai những việc có thể làm xong đêm nay.

Ông Moutet khoác thêm chiếc áo choàng, gọi bồi đem cà phê đậm lên, rồi hai người cùng ra ngồi đối diện nơi chiếc bàn trong phòng ngủ. Ông Moutet gọi thơ ký riêng soạn lại văn kiện đã được dùng làm căn bản trong cuộc thảo luận lúc chiều, rút ra một bản đúc kết, đánh máy thành nhiều bản, và trao cho cụ Hồ.

Cụ Hồ chỉ đọc qua, không sửa đổi gì đặt bút ký ngay. Ông Moutet ký vào bên cạnh, và đó là bản thỏa ước được gọi là Modus Vivendi ngày 14 tháng 9 với những điều khoản căn bản được công bố trên báo chí ngay sáng 15 tháng 9:

1) Chính phủ Việt Minh công nhận giá trị thỏa ước tạm thời 8 tháng 3 và thỏa hiệp Đalat, tức là công nhận Cộng Hòa Nam Kỳ cho đến lúc có một cuộc trưng cầu dân ý tại Nam bộ để quyết định sự thống nhất hay tách rời Nam bộ khỏi Việt Nam.

2) Mọi lực lượng Việt Minh tại Nam bộ được tập trung vào những khu chỉ định, được giải giới, chờ đợi trưng cầu dân ý. Chính phủ Việt Minh hứa không gởi thêm quân, cán bộ và Nam bộ.

3) Chính phủ Việt Minh công nhận người Pháp có quyền tiếp tục khai thác các cơ sở kinh tế có sẵn khắp Việt Nam.

4) Hai chính phủ cùng thỏa thuận coi người Pháp và người Việt Nam ngang hàng, tuy nhiên chính phủ Việt Minh phải dành một sốo độc quyền cho Pháp, cố vấn Pháp, nhân viên văn hóa Pháp.

5) Về vấn đề tiền tệ, hai chính phủ cam kết sử dụng một loại giấy bạc duy nhất, lấy đồng quan Pháp làm căn bản.

6) Chính phủ Việt Minh bằng lòng cứu xét việc gia nhập Liên Hiệp Pháp theo chiều hướng thuận, và đổi lại chính phủ Pháp bằng lòng giúp đỡ Việt Nam về kinh tế, văn hóa và quân sự.

7) Một hiệp ước chính thức và vĩnh viễn sẽ được thảo luận và ký kết trong một hội nghị mới sẽ được mở sau, do sự tham khảo giữa hai chính phủ.

Trên thực tế, thỏa ước 14-9 cũng như thỏa ước tạm thời 8 tháng 3, là những nhượng bộ lớn của Việt Minh đối với Pháp, nhưng trên nguyên tắc thì Việt Minh dành được một vài điều gọi là thắng lợi chẳng hạn như đã được chính phủ Pháp coi là một phe đối thoại có thẩm quyền, và hứa hẹn sẽ có một hội nghị chính thức quan trọng để thảo luận tiếp.

Thỏa ước 14-9 đã được ký âm thầm, vào nửa đêm.

Nguyên văn bản thỏa ước này đã không được phổ biến ngay trong những ngày sau đó. Cụ Hồ đã họp báo. Chính phủ Pháp đã không tổ chức tiếp tân hay tiệc đưa nào. Các báo Pháp thời bấy giờ chỉ đăng thành vài tin.

Sau ngày 15 tháng 9 nhiều anh em Việt kiều tỏ vẻ buồn cụ Hồ.

Vì bất đồng rõ rệt quá, tôi không có ý định, cũng chẳng muốn tìm cách gặp lại cụ Hồ. Cụ Hồ cũng từ chối tiếp bất cứ ai.

Suốt hai ngày cuối cùng, cụ Hồ không ra khỏi phòng. Ông Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa có đến thăm cụ Hồ một lần cuối cùng, hình như do lời yêu cầu của cụ Hồ để thu xếp chuyện trở về Việt Nam của cụ. Ngày 17 tháng 9 cụ Hồ âm thầm rời Ba-Lê.

Anh em Việt kiều có tính chuyện tiễn đưa cụ, cử vài đại diện đến gặp cụ trình bày việc đó.

Vài đại diện khác tiếp xúc với ban Nghi lễ bộ Ngoại Giao và bộ Thuộc Địa nhưng được cho biết là ngày về của cụ Hồ chưa được tiết lộ. Họ hẹn lần nữa là lúc nào có việc gì, sẽ tin cho các Việt kiều. Phái đoàn lên xin gặp cụ Hồ cũng không được tiếp, người thư ký nói cụ Hồ mệt không muốn tiếp khách. Chương trình đưa tiễn vì thế không thành.

Ngày 18, anh em Việt kiều hay tin cụ Hồ đã rời Ba-Lê đi Toulouse. Cụ Hồ rời Ba-Lê có vẻ âm thầm và vội vàng. Về nước trên một tiểu đỉnh của Hải quân Pháp, chiếc Dumont d’Urville. Có người kể lại rằng lúc bước lên chiếc tàu Dumont d’Urville cụ Hồ lặng lẽ đi qua hàng thuỷ thủ dàn chào, lặng lẽ bắt tay các nhân viên bộ Ngoại Giao và bộ Thuộc Địa Pháp, không nói một tiếng. Các sĩ quan trên tàu Dumont d’Urville về sau kể lại rằng, lúc tàu ra khơi, nét mặt cụ Hồ trở lại bình thường, đôi lúc tươi vui, tuy lúc nào cũng có vẻ trầm ngâm, tư lự. Thường những buổi sáng sớm, và chiều, cụ lên đứng trên boong tàu ngắm cảnh mây nước mênh mông, hệt như một thi sĩ tìm vần thơ trong cảnh trời đất vậy. Trong các bữa ăn, cụ Hồ ngồi chung với các sĩ quan của chiến hạm, trong số này có một vị linh mục tuyên uý. Bây giờ thì cụ linh hoạt, bui bẻ nói chuyện với mọi người. Cụ Hồ đem vấn đề hiện hữu của thiên Chúa ra tranh luận với linh mục tuyên uý. Câu chuyện con gà và cái trứng được mang ra, và cụ Hồ nhất định không chấp nhận co một con gà hay một cái trứng đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng. Ý cụ Hồ không phải tranh luận để đi đến kết luận, mà chỉ tranh luận để cho vui câu chuyện trong bữa ăn.

Có những lúc cụ Hồ đi hết mọi nơi trong tàu, ngồi lại nói chuyện với các thuỷ thủ. Cụ Hồ từng hiều lần làm bồi tù, cụ quen đi biển, quen thuộc đời sống trên tàu biển, cho nên cụ nói chuyện với các thuỷ thủ như là một thủy thủ già kinh nghiệm vậy.

Tôi và các anh em Việt kiều ở Pháp lúc đó, nếu được biết các điều này cũng qua những tin truyền miệng, những tin trên báo chí Pháp mà thôi. Dĩ nhiên là chúng tôi hết sức tò mò muốn biết mọi việc cụ Hồ làm hay mọi việc gì xảy ra cho cụ Hồ, vì đó nếu có một anh em nào có tin gì, hay đọc được việc gì trên báo liên quan đến cụ Hồ, thì lại đi nói với nhau, chuyền cho nhau xem.

Những chuyện về sau đó thì báo chí Pháp có đăng lại, như chuyện cụ Hồ gặp cao uỷ Pháp là ông D’Argenlieu trên thiết giáp hạm Suffren, neo ngoài khơi vịnh Cam Ranh, ngày 18 tháng 10. Sau cuộc gặp gỡ và vào buổi chiều, người Pháp mời một số ký giả Pháp và Việt Nam đến dự một cuộc họp báo trên chiến hạm Suffren. Lúc một chiếc tiểu đĩnh chở các ký giả từ Cam Ranh ra cặp vào chiến hạm Suffen, thì cụ Hồ đứng ngay trên boong tàu gần cầu thang, đưa tay vẫy chào.

Trong cuộc họp báo, cụ Hồ và cao uỷ Pháp D’Argenlieu ngồi bên nhau. Nét mặt D’argenlieu nghiêm nghị, mặt cau lại, mắt đăm đăm nhìn cụ Hồ. Trong lúc đó thì cụ Hồ cười cợt, đùa giỡn với các ký giả. Cụ quay qua người này, người nọ, hỏi han về xứ sở về nghề nghiệp của họ. Cụ Hồ có trí nhớ phi thường. Cụ ở Pháp lâu năm, thạo những thổ âm, hiểu rành những tập quán từng địa phương, những đặc điểm của từng vùng nước Pháp. Vì đó cuộc họp báo trở nên một cuộc phiếm luận rất vui vẻ.

Sau một lúc nói chuyện phiếm vui với các ký giả, cụ Hồ chính thức vào vấn đề, nói rằng báo chí Việt Pháp đã tỏ ra quá khó tính, quá nghiêm khắc đặt nhiều đòi hỏi vào hội nghị Fontainebleau. Cụ mô tả sơ sài hội nghị Fontainebleau và nói sơ lược về những điểm chính của thoả ước 14 tháng 9, chưa phải là đã kết thúc được mọi vấn đề tranh luận mà chỉ mở đầu cho một cuộc thương thuyết lâu dài, thường xuyên.

Cụ hứa sẽ mở một hội nghị mới vào tháng giêng năm 1947, và lúc đó những vấn đề chưa được giải quyết sẽ được đem ra thảo luận.

Đề đốc D’argenlieu có vẻ không muốn cho cụ nói quá nhiều về hứa hẹn họp hội nghị sắp tới, cắt ngang lời cụ Hồ, trịnh trọng tuyên bố rằng những cuộc thương thuyết vừa qua là một bước quan trọng trên con đường đi đến sự thoả hiệp tốt đẹp giữa hai chính phủ, hai dân tộc.

Một sự kiện quan trọng xảy ra vào cuối cuộc họp báo đó, được các báo Pháp chú ý đặc biệt, đăng lên thành tít lớn trang nhất.

Sau khi nghe D’argenlieu tuyên bố trịnh trọng như vậy xong, cụ Hồ đột ngột đứng lên, bước lại gần D’argenlieu và giữa lúc chưa ai biết chuyện gì xảy ra, thì cụ Hồ ôm chầm lấy D’argenlieu, như hai anh em thân thiết, hay như hai người bạn cố tri. Dĩ nhiên hình ảnh này được các nhiếp ảnh viên ghi lại trong phim của họ, và hôm sau được đăng rõ ràng trên báo. Nhìn bức ảnh, chúng tôi ở Ba-Lê cũng thấy rõ nét mặt ngơ ngác, hơi khó chịu đến là buồn cười của D’argenlieu. D’argenlieu không còn có thể làm nghiêm được nữa, cho nên ông tươi cười, đưa tay ôm cụ và cảnh này kéo dài có đến hơn một phút.

Cụ Hồ theo chiến hạm Suffren ra Hải Phòng, trong lúc các ký giả Pháp ké trên máy bay của quan Cao uỷ d’Argenlieu trở vào Sài Gòn. Tàu cặp bến Hải Phòng ngày 23 tháng 10. Quang cảnh đón tiếp cụ Hồ ở Hải Phòng thì dĩ nhiên là những người Việt Nam nào ở đó lúc bấy giờ đều còn nhớ. Tôi chỉ được biết qua những bài tường thuật của báo Pháp, và báo Cứu Quốc được gởi từ Hà Nội sang Pháp vài tuần sau đó. Sự cảm động thương xót và một chút ý thức hài hước làm tôi chú ý và thán phục cụ Hồ về cái tài lợi dụng cả được những sự thất bại để biến thành sự thành công. Trên thực tế, hội nghị Fontainebleau và thoả ước 14 tháng 9 là một thất bại ngoại giao lớn nhất, đau nhất cho cụ Hồ, và cho Việt Nam.


Ảnh: Linh mục Cao Văn Luận và giáo sư Lê Thanh Minh Châu thăm Đại học bang Michigan, 1958.