Tuân’s bookmarks

After many years of wandering around the internet, I have collected a number of websites which are really helpful to those who are interested in Vietnamese literature and arts, queer cinema, and in-depth intellectual read in English. Today, I want to share them with people who by chance visit my desolate blog.

Vietnamese literature and arts

Talawas: founded by Phạm Thị Hoài and her cohort in 2001 and shut down in 2010. It includes Talawas, Talawas chủ nhật (talachu.org), Talawas tạp chí (tapchitalawas.org) and Talawas blog (talawas.org).

Tiền vệ (tienve.org): founded by Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn and some others in 2002.

Văn Việt (vanviet.info): the blog of Vietnamese Independent Literary Group, with Nguyên Ngọc as the chairman.

Apart from the above sites, there are also: Hợp lưu (hopluu.net), Da màu (damau.org), Diễn đàn (diendan.org), Diễn đàn thế kỷ (diendantheky.net), Phê bình văn học (phebinhvanhoc.com.vn), Học xá (hocxa.com), Litviet (litviet.org, by Phan Nhiên Hạo), Tạp chí sông Hương (tapchisonghuong.com.vn), Gió O (gio-o.com), Soi (soi.today, by Minh Đỗ), Tia sáng (tiasang.com.vn), Mắt cá (matca.vn), Zzz Review (zzzreview.com), Sàn Art (san-art.org), Vănguard (vanguardzine.com), Diacritics (diacritics.org), and the blogs of famous writers including:

Authors and artists: Ăn mày văn chương (amvc.free.fr, by Phan Huy Đường, Nam Dao, and others), Pro Contra (procontra.asia, by Phạm Thị Hoài), Du Tử Lê (dutule.com), Hoàng Hải Thủy (hoanghaithuy.wordpress.com), Thuận (blogcuathuan.wordpress.com, aka Đoàn Ánh Thuận), Nguyễn Ngọc Tư (nguyenngoctu.net), Phan An (phanan.net), Phan Việt (tinyhuong.blogspot.com), Mượn dấu thời gian (phannguyenartist.blogspot.com, by Phan Nguyên), Nguyễn Như Huy (huybeo.blogspot.com), Nguyễn Đình Đăng (nguyendinhdang.wordpress.com), Nguyễn Phương Văn (5xublog.wordpress.com), Lâm Vũ Thao (bloggoldmund.blogspot.com)

Critics and translators: Thụy Khuê (thuykhue.free.fr), Vương Trí Nhàn (vuongtrinhan.blogspot.com), Lại Nguyên Ân (lainguyenan.free.fr), Nguyễn Vy Khanh (sites.google.com/site/nguyenvykhanhca), Tin Văn (tanvien.net and tinvan.limo, by Nguyễn Quốc Trụ), Nhị Linh (nhilinhblog.blogspot.com, aka Cao Việt Dũng), Hải Ngọc (hieutn1979.wordpress.com, aka Trần Ngọc Hiếu), Mai Anh Tuấn (maianhtuan.wordpress.com), Vũ Ánh Dương (vuanhduonghaiphong.blogspot.com), Nguyễn Trường Trung Huy (huyvespa.blogspot.com), Nguyễn Huy Hoàng (hoanghannom.com), Lê Dọn Bàn (chuyendaudau.blogspot.com), Phạm Nguyên Trường (phamnguyentruong.blogspot.com), Lý thuyết văn học (lythuyetvanhoc.wordpress.com, by members of Literature department, Hanoi University of Education), Bread and Roses (breadandrose.com, by members of Literature department, Ho Chi Minh University of Education)

Academics: Trần Đình Sử (trandinhsu.wordpress.com), Nguyễn Thu Giang (gianged.wordpress.com), Nguyễn Văn Tuấn (nguyenvantuan.info)

Vietnamese history and politics

Indomemories (indomemoires.hypotheses.org): where you can find many articles about Vietnam during the period of French colonization.

Viện Việt học (viethoc.com, with Nguyễn Đình Hòa and Trần Ngọc Ninh as members of board of directors).

Nghiên cứu lịch sử (nghiencuulichsu.com), Nghiên cứu quốc tế (nghiencuuquocte.org)

Luật Khoa tạp chí (luatkhoa.org), Nhà xuất bản Tự Do (nhaxuatbantudo.com) and The Vietnamese (thevietnamese.org)

RFI – Radio France Internationale (rfi.fr/vi/), RFA – Radio Free Asian (rfa.org/vietnamese)

…to be continued

Photo: Krys Authier


A view from the bottom (2014) by Nguyễn Tân Hoàng

Surprisingly, the author of this book is friend with Nguyen Thanh Viet, the Pulitzer Prize winner with the novel The Sympathizer, and Fan Popo, a Chinese filmmaker whom I followed.

This book criticized the stigma against Asian “bottomhood” (coined by the author) in American queer culture in the 90s, shed light on the interwoven problems of race, gender and sexual preferences among gay community in the US, using different types of materials varying from conversations on Grindr to gay porn.

It seems like to those who grew up in Vietnamese diaspora community, unsatisfactory sex life is their biggest concern, which made this book somehow irrelevant to the life of most gay people in Vietnam. Anyway, this could be a nice read, especially when it has pornographic images which could hardly be found in many other academic works.


Memories are not recycled like atoms and particles in quantum physics.
They can be lost forever.
(Marry the night: The Prelude Pathétique, Lady Gaga)

In 2019, decided to watch the Korean movie Romang, I expected to have a good cry. A catharsis is needed when your inner feelings are overwhelmingly chaotic. The movie was about an elderly couple struggling to take care of each other after they are both diagnosed with dementia.

To many people, the most weepy scene was when the son got home and realized how his parents had lived since the day he left, but it was, to me, somehow loosely acted. Personally, I found the part when the two couple intermittently communicated though written notes as they are not simultaneously conscious much more affecting because it represents so vividly how our relationship is disrupted by Alzheimer’s.

Yesterday, Ma called and told me that aunt Nga has started to show the early symptoms of memory impairment. It’s increasingly difficult for her to remember recent events and conversations. This is exactly what happened to my grandma in her later years.

I never asked Ma about aunt Nga, and in our family, we don’t have the habit of sitting down and having intimate, confidential talks, but by chance I knew that she used to have baby with a married man, who was not accepted by my grandpa. They were separated, and she decided to raise her son alone, but the boy died at the age of five or so, and from then on, she didn’t move on with any other men. Aunt Nga and my other three aunts never get married and lived with grandpa and grandma until they passed away. Grandma died seven or eight years ago. I still remembered I carried her corpse in my arms from the sickbed to the ambulance. It was the first time I had really touched and embraced a dead body. After grandma’s death, aunt Nga followed in grandma’s footsteps and became a joss paper trader.

Her life story was far from a fairy tale, and I also believe that she had stopped thinking about living a fairy tale long ago. Without any desire to leave behind a legacy, genetically or culturally, my aunt filled her days with day-to-day gestures. Probably the only thing that keeps her stay sane is the obligation to preserve the family’s custom of ancestor worship, or hương hỏa (香火). Her austere and selfless lifestyle totally contradicts my definition of a life that’s worth living, and it casts a shadow over my future plan.

When my sister forced me to go home and live with parents, I wanted to reject that idea at once because it was really dissonant with my disgust at all the chains binding a person’s free will. However, after reaching a state of financial and emotional independence, putting aside all the words of other people, I started to recognize the limits of my freedom, which are not imposed by anyone but myself. I came to believe that, even to a narcissistic person, life can only be worthy when it is taken seriously, which suggests that abandoning responsibilities could result in regrets. Repaying all the things that were given to us is definitely a burden, but also a must. It is my duty to take care of my parents and my aunts when they get older.

How is it to be a caregiver of an elderly with dementia? Watching a video about Danny Raven Tan, a Singaporean man who has to take care of his mother, I could somehow relate to it.

Sometimes I feel dementia could be a good thing. It’s like a natural strategy for people to cope with traumatic history and loneliness. Someday, my aunt may no longer remember me or sustain her very few beautiful memories, but at the same time, she could let go of all the things that saddened her past.

Photo: Nam Holtz


Văn chương là gì?

Đọc Literary Theory: An Introduction (1983) của Terry Eagleton

Một trong những câu trả lời phổ biến là, văn chương là fiction, hàm chứa các yếu tố tưởng tượng, còn những thứ thuộc về fact, thì không phải văn chương. Cách phân biệt này hiển nhiên không đúng trong nhiều trường hợp. Đơn cử như những bức thư (Kafka), nhưng bài diễn văn, những bài tiểu luận, những cuốn tự truyện (Lê Vân), hoặc công trình khảo cứu khoa học (Claude Levi-Strauss) cũng được nhiều người xem là văn chương. Ngược lại, comic như Superman lại thường không được xem là văn chương. Hoặc dòng truyện tình cảm Mills & Boon ở Anh tuy là bịa tạc những vẫn thường không được xếp vào hàng văn chương. Với văn học dân gian, ranh giới giữa fact fiction lại càng mờ nhạt.

Có một cách trả lời khác: Quyết định một tác phẩm có phải văn chương hay không không phải là tính xác thực của nội dung, mà là cách viết. Bất cứ thứ gì được viết ra theo một cách khác hẳn cách dùng ngôn ngữ thông thường sẽ mang một thứ tính cách gọi là tính văn chương. Chẳng hạn, nếu một người mở miệng nói: “tôi đau bụng quá, xin phép đi vệ sinh”, thì hiển nhiên nó không có gì khác lạ. Nhưng nếu bỗng dưng người đó nói “đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”, thì ta ngay lập tức nhận ra một sự khác lạ liền, và đó là tính văn chương. Đây là quan điểm phân biệt của những học giả theo phái Hình thức của Nga, tiêu biểu là Roman Jakobson, người từng nói văn chương là một “bạo lực áp đặt lên ngôn từ thường nhật”. Với họ, bản chất của sáng tạo văn chương là làm lạ hóa ngôn từ thường nhật. Họ tập trung vào việc nghiên cứu phương tiện truyền tải thay vì nội dung. Tuy nhiên, cách phân biệt này của phái Hình thức cũng vấp phải những hạn chế nhất định, bởi vì lúc này, muốn xác định một thứ có tính văn chương hay không, chúng ta phải đi đến chỗ hiểu được cái gì là lề thói, thông tục của cách diễn đạt, và cái gì là biến thể, khác thường của cách diễn đạt. Nhưng cái bị xem là biến thể ở cộng đồng ngôn ngữ này có thể được xem là lề thói ở cộng đồng ngôn ngữ khác, cái bị xem là khác thường bởi người này có thể được xem là thông tục bởi người khác. Phương ngữ là một ví dụ điển hình. Câu “ga ni đi mô ri cô” hiển nhiên ở miền Tây Nam Bộ nghe sẽ lạ so với miền Thanh Nghệ Tĩnh nhưng sự lạ đó không làm nên tính văn chương.

Đồng thời, dựa trên quan niệm trên, những nhà hình thức Nga xử lý văn xuôi và thơ theo một cách giống nhau, trong khi thực tế, hai thể loại này nên được nhìn nhận riêng biệt.

Như vậy, những nhà hình thức Nga cũng không thể đi đến một định nghĩa rốt ráo về văn chương. Tuy vậy, họ đã góp phần đẩy thảo luận đi xa hơn một chút: Sự phân biệt cái gì là văn chương và cái gì không phải văn chương là dựa trên cách đọc của mỗi người.

Lúc này, có một cách tiếp cận mới: Cái tôi tin là văn chương thì là văn chương, còn cái tôi không tin là văn chương thì không phải là văn chương. Quan niệm này ngay lập tức khiến định nghĩa văn chương trở nên rất chủ quan. Nhưng suy cho cùng mọi sự chủ quan đều dựa trên một vô thức tập thể. Chẳng hạn, tất cả chúng ta chẳng buồn tranh cãi một cái vé xe buýt có phải văn chương hay không, đó là một sự đồng thuận ngầm về cái gì là văn chương và cái gì không.

John M. Ellis cho rằng từ “văn chương” là khái niệm mang tính chức năng hơn là tính hữu thể, nghĩa là nó giống như một lớp vỏ mà tùy chúng ta nhét nội dung vào đó chứ không có bản chất cố định. Nói cách khác, việc một tác phẩm có được xem là văn chương hay không tùy thuộc rất nhiều vào sự xếp hạng, phân loại, định giá trị của chúng ta, và hoạt động đó có tính lâm thời, thay đổi qua mỗi năm, mỗi thập kỷ hay thế kỷ (nghe rất là Martin Scorsese vs. MCU).

Một cuốn sách triết của thời này, qua thời sau có thể trở thành văn chương, và ngược lại. Những cuốn từng được xem là kinh điển, qua nhiều thế hệ, có thể người ta không còn hiểu nữa. Shakespeare đến một lúc nào đó có thể không giá trị hơn graffiti là mấy. Homer của thời chúng ta có thể rất khác với Homer thời Trung Đại, hoặc với người cùng thời của ông. Mọi tác phẩm đều được viết lại một cách vô thức ngay khi nó được đọc. Không có việc đọc nào mà không bao gồm trong chính nó một sự viết lại tác phẩm. Phạm Thị Hoài từng nói, “văn chương là một trò chơi vô tăm tích”. Viết và đọc là quan hệ cho nhận. Người cho biết mình cho cái gì nhưng không biết người nhận có nhận đúng cái mình muốn cho không. Phía người nhận cũng vậy, biết mình nhận gì nhưng không biết đó có phải là cái mà người ta muốn cho mình không.

Mỗi người trong chúng ta đều có một hệ thống định giá trị trong đầu mình. Ở đó, chúng ta xếp nhà văn này cao hơn nhà văn khác, văn bản này hay hơn văn bản khác. Mỗi chúng ta đều có những lý lẽ của riêng mình. Nhưng đồng thời, cái hệ thống đó của chúng ta không khép kín, mà chúng ta cũng có phần chia sẻ nó với hệ thống định giá trị của những người khác. Đó là cộng đồng mà chúng ta sống.

Và mỗi hệ thống như vậy, tồn tại được là vì nó có một thứ nền tảng bên dưới, đó là ý hệ. Ý hệ là nhận thức của chúng ta về cấu trúc quyền lực và các tương quan quyền lực trong xã hội mà chúng ta sống.

Như vậy, không có một khung cứng nhắc nào bao quanh định nghĩa văn chương. Rất có thể những thứ hôm nay chưa được xem là văn chương (manga hay comic chẳng hạn), ngày mai sẽ được xem là văn chương. Only time will tell.


Trang đầu một tờ báo: Khảm

Đọc tiểu luận Front Page của Marshall McLuhan,
trong cuốn The Mechanical Bride – Folklore of Industrial Man (1951)

Làm thế nào để, cùng lúc trên một trang báo, tồn tại đồng thời sự kiện chính trị ở Trung Quốc, biến động của thị trường nhà đất ở Mỹ, và thông tin giải trí của showbiz Việt?

Những rời rạc, ngẫu nhĩ của thực tại phong phú, rộng lớn chỉ có thể được trình bày bằng một phong cách tương tự như trường phái lập thể của mỹ thuật. Thiết kế trang đầu là một công việc gần như hòa âm phối khí. Ở đó, thể hiện một cái nhìn của ý luận về thứ bậc của tính quan trọng và tính liên quan [về ‘importance’ và ‘relevance’ nghe thật giống với SEO].

Tờ báo là loại hình giải trí kiểu đêm Ả Rập, với nghìn lẻ một câu chuyện được kể bởi một nàng Scheherazade ẩn danh, cho một số lượng khán giả khổng lồ cũng vô danh nốt.

Nhưng không nên nghĩ về phong cách khảm của một trang bìa như một sự thất bại trước cuộc đời hỗn loạn và phi lý trí. Trên thực tế, tính cách rời rạc, ngắt quãng, tưởng chừng không liên quan giữa các sự vật hiện tượng lại là ý niệm nền tảng của cả vật lý học lượng tử lẫn vật lý học tương đối. Đó là cách mà Toynbee nhìn vào nền văn minh, hay Margaret Mead nhìn vào văn hóa con người, là kỹ thuật thị giác của Picasso và kỹ thuật văn chương của James Joyce. Nó cung cấp những thấu hiểu mới mẻ về thế giới và nó có thể dẫn dắt tâm trí chúng ta đến một trạng thái hòa hợp vũ trụ ở một cấp độ trật tự cao hơn. Khi mở rộng nhận thức của chúng ta ra khỏi phạm vi địa phương, tờ báo sẽ tạo ra một mối liên kết đầy bất ngờ giữa những cộng đồng người khác biệt nhau về văn hóa hay sắc tộc.

Sự cải tổ về cách nhìn và cách nghĩ này xét cho cùng cũng là một tất yếu trong thời đại bung nở của văn hóa thị giác và cơ khí, làm lộ ra những mô típ trừu tường mà con người trước đây không thể nhận thức được.