chuyen-cua-dai

Chuyện của Đại

Đại dập mạnh những phím dương cầm như thể bản độc tấu còn chưa đến hồi kết. Tôi chẳng biết anh ta đàn cái quái gì, chỉ nghe được một đoạn có vẻ tựa như Ständchen của Schubert. Dưới mấy cái chao đèn vốn dĩ đã mờ nhạt ở 46 An Dương, người chơi nhạc ấy còn vận lên mình những mũ mão và áo gió rặc mỗi một màu đen, khiến anh ta hợp với đàn dương cầm thành một mảng tối thật u uẩn và cô độc. Trong một khoảnh khắc, tôi tưởng như cái khối đen độc u uẩn ấy là một cái tóm tắt vĩnh hằng cho cuộc đời của Đại, cuộc đời của một nhạc sĩ lập dị.

Tôi gặp Đại lần đầu vào mùa hè năm 2016, lúc anh còn là sinh viên khoa sáng tác của nhạc viện Hà Nội. Lần đó tôi đi thăm một người bạn ở một chung cư cũ. Lúc đi ngang qua một hành lang tối, tôi nghe âm ỉ trong không gian những tiếng xập xình. Tình cờ một người mở cửa ra, tiếng nhạc và ánh đèn đỏ đơn sắc thoát ra ngoài. Gào thét và dữ dội. Trong cái khoảnh khắc hé mắt nhìn qua khung cửa, nhìn vào một thế giới của người khác, tôi thấy một gã trọc miệng ngậm điếu thuốc còn tay thì đang quét tay dứt khoác trên cái keyboard điện tử. Thật lạ lùng, hình ảnh ấy làm tôi nhớ mãi đến tận sau này. Tôi hay bảo Đại, này ông biết cái hình ảnh đầu tiên của ông trong mắt tôi nó rất có chất “cảnh”, rất có tính điện ảnh không? Phải chi lúc đó quay lại được thì đã là một thước phim tài liệu quý giá về đời sống của một gã nhạc sĩ điên. Về sau tôi biết hóa ra khu tập thể này chỉ toàn dân chơi nhạc nên đã quá quen với việc này, bọn họ còn có những quy ước chung về giờ giấc chơi nhạc các kiểu. Những người ở đây về sau có người nổi tiếng, những người khác thì bặt vô âm tính. Có lẽ danh vọng, ở một lẽ nào đó, cũng chỉ như tờ vé số.

Ở khu nhà này ai cũng biết Đại, nhưng cũng như không hề biết về Đại. Anh ta lúc nào cũng vận đồ đen lụp xụp, kín tiếng, đi về như cái bóng, nên ai cũng chẳng biết rõ anh ta, chỉ biết anh ta lập dị. Ấy thế mà nhạc anh ta viết có đủ cái ồn ào lẫn tỉ tê của một tâm hồn phức tạp. Nhưng những sáng tác của anh không được nhiều người biết tới.

Năm 2020, Đại bắt đầu mở công ty giải trí của riêng mình và lần mò đâu ra những nhạc công rất dữ dằn cả hai miền Nam Bắc. Từ một nhạc sĩ không tên tuổi, Đại bỗng dưng trở thành một bầu show có tiếng. Thậm chí cả nữ ca sĩ nổi nhất hiện nay là Lã Thư cũng đồng ý ngay lập tức khi có lời mời diễn của Đại. Album Niết bàn của Đại, với sự hợp tác cùng giọng ca trẻ triển vọng Niêm đã gây tiếng vang trong công chúng và giành được nhiều giải thưởng âm nhạc trong nước vì sự cách tân mới mẻ trong cách thể hiện cùng những âm hưởng tôn giáo nhân sinh trong nội dung sáng tác. Chỉ trong vòng một năm, Đại trở thành một trong những tên tuổi đi tiên phong khai phá những thể nghiệm mới trong âm nhạc.

Bẵng đi một thời gian, vì quá bận rộn, tôi không hay tin của Đại nữa, chỉ biết anh có vị trí của mình trong giới. Cho đến mùa thu năm 2023, Đại cùng với Lâm Thanh và Miên hợp tác trong một album có tên Tầm gai. Ngay sau ngày ra mắt, xuất hiện trên mặt báo những tít bài như tiếng sấm ngang tai “Tầm gai: âm nhạc hay sự điên loạn?”, “Thể nghiệm mới trong Tầm gai gây tranh cãi”, “Nhạc sĩ Ka Minh: ‘Đại đã quá quắt lắm rồi’”… Chỉ trong một tuần, làn sóng phản đối từ phía những tín đồ âm nhạc trước đây của Đại dâng lên như một cơn lũ, quét sạch các hợp đồng biểu diễn của Đại.

Anh ta có lường trước được vụ này không ư? Tôi chỉ biết là anh ta điên thật rồi. Trong cái đêm hôm đó, anh ta còn chẳng bận tâm báo giới nghĩ gì, chỉ ngồi chơi nhạc và đốt thuốc rồi khi hỏi tới, anh ta, bằng cái giọng khàn đục đặc trưng của mình, chỉ chậm rãi bảo “Cứ để mọi thứ diễn ra đi!”. Trời ạ, trong cái cơn khủng hoảng ấy, mà anh ta lại có thể bình tĩnh như vậy.
Những ngày sau đó, những ca sĩ hàng đầu bắt đầu bỏ anh, giới phê bình chỉ trích anh, báo chí bới móc anh, và số người hâm mộ anh vơi đi quá nửa. Xem ra thần danh vọng đã bắt đầu chán anh ta rồi.

Giữa những khó khăn ấy, tôi có đến thăm Đại. Anh ta như đang say thuốc, sắc mặt thì rệu rã mà mắt thì cứ quắc lên “Tớ nghĩ là đã đến lúc mình phải làm cái gì đó thôi cậu ạ. Tớ phải làm một album mới. Một album nói lên tiếng nói của một nghệ sĩ chân chính”. Tôi mừng húm và cổ vũ anh ta cố lên.

Nào ngờ 3 tháng sau, Đại trở lại với một album có tên Bùn đất do anh ta tự sáng tác và tự hát, với những bài hát mà trong lời hát có cả “giao hợp”, “tinh trùng” hay “ca-ve”. Thậm chí anh ta còn không thèm đăng kí giấy phép hay kiểm duyệt. Tôi đã dành hẳn một đêm để nghe đi nghe lại và phân tích âm nhạc của Đại. Trời ạ, lúc này tôi đã hiểu rồi. Tự bao giờ anh ta đã đi quá sâu vào cái đời sống nội tâm của mình mà lại chưa đủ gần với những người xung quanh. Nghe album này tôi thấy một sự u uất, thù hằn liễm kết vào một tâm hồn cô độc, bế tắc. Thù hằn với những thứ dơ bẩn, biếng nhác, giả tạo mà thế giới quanh anh ta đang thể hiện. Và anh ta tự huyễn hoặc mình thành một loại nạn nhân của thế giới đó. Tôi tự hỏi, điều gì đã xảy ra với Đại để anh ta phải đi đến nỗi bi thương cực đoan này? Và sao anh lại cứ đào sâu vào nó như thế? Tôi không biết rằng anh ta đã đi xa đến thế này trong những tư tưởng nghệ thuật của mình.

Lại một lần nữa Đại gây phẫn nộ trong công chúng âm nhạc. Một vài tờ báo cho anh cơ hội giải bày. Và anh ta nói gì? “Phản cảm với ai? Dung tục với ai? Nếu ai có cảm giác Bùn đất là dung tục thì họ chưa bóc qua được cái tầng câu chữ để bước vào thế giới phong phú của cuộc sống.” Về chuyện kiểm duyệt, anh bảo: “Đó là hiện trạng đời sống văn hóa Việt Nam. Chắc chắn họ sẽ không bao giờ duyệt. Chẳng cãi nhau với họ làm gì, chẳng giải quyết được gì cả! Điều đó đã xảy ra với Tầm gai rồi, cũng nhiều lần rồi. Bùn đất là sản phẩm mang tính cá nhân, người nghệ sĩ chỉ mong muốn chia sẻ.”

“Tự do trong nghệ thuật nó nằm ngay trong con người nghệ sĩ. Đối với Bùn đất, tôi chịu trách nhiệm về nội dung. Thật ra mọi thứ đâu phải chỉ là vấn đề tiền bạc. Tôi cũng không phát hành nó để xây dựng thương hiệu. Đây là chia sẻ rất tự nhiên của tôi. Giống như cái thai đến ngày thì phải đẻ, đứa trẻ đến lúc biết nói thì phải nói thôi!”

Điều gì tới rồi cũng tới, Đại trở thành một kẻ lạc loài giữa cộng đồng. Chẳng ai còn hiểu anh ta nữa. Và mỗi lần nhắc đến anh, người ta không ngần ngại dùng những lời lẽ cay nghiệt độc địa nhất để nói về anh.

Giờ đây, thi thoảng tôi vẫn gặp Đại ở một quán cafe nơi anh đến đàn để kiếm sống. Những bản nhạc anh chơi và cả tác phong của anh, chúng toát ra một vẻ cô độc đến khó hiểu. Mỗi khi ngồi một mình tôi vẫn thử nghe lại các sáng tác của anh trung Bùn đất, và tôi hiểu rằng có những người nghệ sĩ đẩy chính mình đến chỗ cực đoan để được thanh thản trong tâm hồn, chí ít là họ tin là họ thanh thản. Với những người như thế này, sản phẩm của họ không còn là một phương tiện kiếm cơm nữa, mà là một sự giải thoát.

Bịa tạc viết ngày 2 tháng 11 năm 2016

pink-floyds-the-wall-1

Pink Floyd’s The Wall (1)

The Wall quan trọng đối với riêng tôi không phải vì nó nổi tiếng (mặc dù tôi biết đến nó là nhờ nó nổi tiếng), mà vì nó cung cấp một paradigm để tôi hình dung được một tình trạng tâm lý của bản thân.

Trước hết, điều tôi thắc mắc là, vì sao Pink lại trở thành một kẻ độc tài?

Tuổi thơ sống với một người mẹ overprotective khiến trong Pink luôn thường trực hai cảm giác đồng thời, e sợ và dễ chịu. Thế giới khô khốc, nhưng vòng tay mẹ vẫn luôn êm ái. Sau mọi biến cố, Pink vẫn luôn có thể trở về với sự bảo bọc ấy. Nhưng trưởng thành đồng nghĩa với êm ái sẽ không còn nữa. Và Pink phải tự dựng nên một cơ chế để đối phó với những va chạm cuộc đời. Đó là the wall.

The wall giống như túi khí trong ô tô, một lớp đệm ngăn sự va đập đau đớn, giống như Netflix và snack tối thứ sáu sau 40 tiếng làm việc căng thẳng của tuần. Nó là rượu và cỏ. Nó là dopamine và oxytocin. Với một số người, nó là biên khảo và suy tư. Điều này nghe thật lạ, nhưng tôi nghĩ nó rất có liên quan đến khái niệm khoảng cách mà một số critic tôi biết đã dùng (P.H.Đ, C.V.D, P.N).

Một số người cần khoảng cách để nhìn rõ một số thứ. Nói như ngôn ngữ nhiếp ảnh, là để không bị out of focus. Phan Ngọc không muốn tiếp xúc trực tiếp với Nguyễn Tuân cho đến khi nào viết xong quyển sách về phong cách Nguyễn Tuân. Hay như trường hợp của Wittgenstein, ông cảm thấy bản thân không thể đi đến được trọng tâm của các nghi vấn cơ bản nhất nếu cứ bị vây quanh bởi giới học thuật, nên năm 1913 ông quyết định lưu trú tại một phòng trọ thuộc làng Skjolden ở Na Uy. Chính tại đây ông viết Logik.

Wittgenstein là một người thông minh, nhạy cảm và tham vọng. Ông muốn bằng cuốn Tractatus giải quyết triệt để mọi cuộc tranh luận triết học được người trước ông mở ra. Với những người như Wittgenstein, các mắc mứu trong tâm trí sẽ giống như một niềm đau nhức. Mà muốn không còn đau nhức nữa, chỉ còn cách giải quyết một lần cho xong. Cũng giống như các thể loại cao thủ trong truyện chưởng. Hoàng Thường ngừng chiến, lui về thâm sơn cùng cốc để nghiền ngẫm toàn bộ võ công thiên hạ suốt hàng chục năm trời, chỉ để tìm ra gốc rễ của mọi vấn đề và nhổ bật nó, rồi mới hạ sơn giao chiến tiếp, nhưng không cần phải dùng đến chiêu thứ hai.

Những người thông minh, nhạy cảm và tham vọng chắc chắn thấy rõ hơn ai hết sự bất toàn và vô trật tự của xã hội: Các chính trị gia luôn tuyên bố bản thân xả kỷ vị nhân, fraternité, nhưng thực tế toàn một bọn chỉ lo vinh thân phì gia; Người ta kêu gọi nhau hy sinh như Nguyễn Văn Nam cứu người đuối nước nhưng nếu bảo họ và gia đình họ hi sinh trước thì tất nhiên là không; Người ta cứ cổ xúy égalité nhưng không một ai thoát được cái nhìn phân biệt đối xử, cũng như luôn đòi hỏi luật pháp hóa liberté nhưng lại không chịu hiểu rằng chẳng có cái gì là liberté khi đã nằm trong institution; Người ta đòi cấm ăn thịt chó nhưng lại không chịu được veganism, lại không đủ nhạy cảm để hoài nghi rằng biết đâu chính củ cà rốt cũng có cơ chế cảm nhận nỗi đau của riêng nó; Người ta tưởng rằng chia lại đều ruộng đất thì égalité sẽ thành tựu, nhưng không hề biết rằng, chỉ qua dăm bảy năm, khoảng cách giàu nghèo sẽ trở lại, vì cơ bản égalité chỉ là illusion; Văn hóa đại chúng, mặc cho khoác vẻ cao đạo, thực tế, với những body 6 múi, chỉ là sex sells, kiếm tiền dựa trên sự động dục của các thế hệ thanh niên nối tiếp nhau (tất nhiên điều này không xấu, đạo đức giả mới là đáng dàn xếp); Người ta chửi bới pedophile nhưng không hiểu được sự khác nhau giữa child abuse và pedophile, và trên Tumblr thì lại share phim tự quay của trẻ vị thành niên.

Trước cái thực tế đa dạng khôn kiệt đó, một người sẽ muốn tự mình sắp đặt lại mọi thứ theo một trật tự của mình. Không ngẫu nhiên khi Thanos cảm thấy chẳng trông chờ được vào ai cả, phải tự mình xử lý bằng một cái búng tay (mặc dù Thanos suy nghĩ khá ngu về vấn đề overpopulation). Thế cho nên một kẻ thông minh, nhạy cảm và tham vọng một khi đã thành công về mặt chính trị, tất yếu sẽ trở thành một kẻ độc tài vì chính sự cực đoan của mình. Pink trong The Wall là một kiểu người như vậy.

Bằng bạo lực áp đặt một trật tự lên một tồn tại vốn không có trật tự (hoặc có một trật tự của riêng nó) – xã hội loài người, Pink đã diệt chủng cá tính để tạo ra một xã hội đại đồng như ý. Nhưng chính qua cách này, Pink lại trở thành chính những kẻ mà anh từng rất ghét, như lão thầy giáo đã khẽ vào tay và chỉ trích anh vì bức thư tình ngày còn bé.

And if thou gaze long into an abyss, the abyss will also gaze into thee. (Nietzsche, Beyond Good and Evil)

The wall thì an toàn và êm ái, nhưng cùng lúc sẽ làm mất kết nối với đời sống và khiến người ta trở nên lạnh lùng và cực đoan, bởi vì họ không thể hiểu được cách chung sống với người khác. Và khi một người cực đoan nắm quyền lực, họ tất sẽ thành phát xít.

revisit-on-the-writers-honesty-in-writing

Revisit: On the honesty in writing

As I jot down these words, I was musing about my first love letter, which could probably be my last one. All of it was meant to say “I love you”, but there was no “I love you” in it. I wanted to be honest, but at the same time I was afraid of being honest, for it might ruin the friendship I had with him, a straight guy.

I was thinking of my diary in those years in senior high, scattered with multiple symbols and countless metaphors, hidden beneath my bed and only brought out of it when nobody’s home. I wanted to be honest, but at the same time I’m afraid of being honest, because if my sister read it by chance and understood, my family would find out my secret: I like boys.

I was thinking of Socrates, of Galileo, of Alan Turing and Anna Politkovskaya, and the price they had to pay to express themselves honestly. I was thinking of Orwell’s Animal Farm, of Nabokov’s Lolita, of Aldous Huxley’s Brave New World or Flaubert’s Madame Bovary, the books that were born out of honesty but suffered a dreadful fate also because of its honesty.

I was thinking of the journey of Vietnamese literature, from the rebellious acts against the chains of backward Confucian tradition to the blooming of hundred flowers (百花) to seek the freedom of creativity. Wasn’t responsing to honesty nothing but killing and loss?

“Hôm nay, con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng thuộc về sự sáng tạo của con người tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tập trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp”
(Văn Cao, Một vài ý nghĩ về thơ, 1957)

Many writers always want to be honest, but at the same time they were afraid of being honest. If one must always be honest in writing, then we never need euphemism and political correctness, do we? (cf. The Invention of Lying, 2009). How could we ignore the weight of expectation, of institution, of propriety on our pen in hand?

And if one writes just for oneself, then burns or buries their writings afterwards, could he be honest with himself? I guess not, since to write is to call on an imperfect tool for thinking, that is language.

Language captures our thoughts in a linear and sequential form; it polishes the rocks of referents to turn them into the gems of signs; it drives the writers to frame their work so that it could fit the molds of genre. That is exactly what Marshall McLuhan means when he says: “The medium is the message”.

There are inevitable losses, misses and distortion of ideas from their womb to their tomb, the unbreathing text on the blank page. Language is not an absolute form of expression.

“Tôi nghĩ
Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Sự bất lực của hình thức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất
Những số phận hiu hắt đầy mặt đất
Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được
Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này
Nhặt được ánh hoang vắng trong mắt em gái tôi
Nhặt được sợi tóc bạc trên đầu mẹ tôi
Nhặt được niềm hy vọng hão huyền trong lòng chị dâu tôi
Và nhặt được mùi vị nghèo nàn trên cánh đồng quê
Tôi rốt ráo bắn tỉa từng ý nghĩ
Tìm cách săn đuổi cho nó vào chuồng
Và tôi hú gọi trên cánh đồng lòng
Tru lên như con sói hoang
Tôi gắng gặt một lượm sống
Bó buộc lỏng lẻo bởi dải băng ngôn từ
Tôi hú gọi trên cánh đồng người
Tôi nhặt những ánh mắt đời
Hòng dõi theo ánh mắt tôi
Dõi vào cõi ý thức
Cõi ý thức mênh mông xa vời
Dầu tôi biết vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa mà thôi.”
(Nguyễn Huy Thiệp, Thương nhớ đồng quê)

[After a brief read about structuralism, I hazily grasped the idea that maybe it’s a little too naive to say that language has its limitation. Of course, every writer must feel uncertain sometimes when they put their wild thoughts into words. But people like Levi-Strauss never give up on the power of language.

His writing is difficult to read not because it is stuffed with meaningless words, but because every single fragment of his thought is well defined with lexical items. He has formed a structure of thoughts in his mind where every word has its own position and is not mistaken for another word. And he trained his mind so patiently that it could surpass all the boundaries of language by creating new words or reusing old words with new meanings. Sometimes, it’s also necessary to adopt the strategy of the savage mind (“in the new born literary language of the Northeast Siberian Chukchees, “screw” is rendered as “rotating nail”, “steel” as “hard iron”, “tin” as “thin iron”, “chalk” as “writing soap”, “watch” as “hammering heart”, Jakobson, 1959). With that method, people like Levi-Strauss could latch onto even the most exotic territory of feeling and sensation.

“I have always aimed at drawing up an inventory of mental patterns, to reduce apparently arbitrary data to some kind of order, and to attain a level at which a kind of necessity becomes apparent, underlying the illusions of liberty” (Lévi-Strauss, The Raw and the Cooked, p. 10)

I personally think N.L. adopts this strategy in thinking, he created and consistently use so many apparently bizarre words, which are italicized in his entries: “vòng tròn”, “độ rộng”, “chiều ngang”, “chiều dọc”, “cái nhìn”, and so on.]

To write is to let out an urge of being honest in front of the fear of revealing. Writing is an effort to attain freedom when freedom is not allowed. It’s the suffering that is prolonged and magnified.

“Writing is a question of becoming, always incomplete, always in the midst of being formed, and goes beyond the matter of any livable or lived experience. It is a process, that is, a passage of Life that traverses both the livable and the lived.”
(Gilles Deleuze, Literature and Life, translated by Daniel W. Smith and Michael A. Greco)

[I was immature when I quoted this paragraph by Deleuze, whereas I didn’t really get it. Now, when I revisit this essay, I think what Deleuze means is that once the writer jot down an idea, he must give in to its constant transformation, and accept the fact that his knowledge is not enough, and his writings can always be reviewed and revised after acquiring new empirical knowledge about the world.

Malraux says that one cannot rewrite a novel. I guess this idea is somehow similar to Heraclitus’ idea: “No man ever steps in the same river twice, for it’s not the same river and he’s not the same man”. The moment a novel is written down only happens once in a lifetime, at a certain age of the writer, with his certain worldview. Of course, he can always revisit it and rewrite it, but that is when he is no longer himself of the old day.

So Deleuze was right when he says “writing is a process, that is, a passage of Life that traveres both the livable and the lived”.

Take this note in square brackets for example. I wrote this essay on 22 August 2019, yet now, after exactly one year, I want to revise it because I recognize some wrong-headed propositions. But if I change it, it will not be the same as it was written the first time.]

There is an obvious truth about writing, that is no one asks us to write. We write to satisfy ourselves. But what exactly is it that makes us satisfied? This has a lot to do with reading.

Whether we wanted it or not, we cannot get rid of the existence of an invisible reader when we write. Right at the moment a piece of text is written down, it was given a wish of being read by someone sometime. The key to a writer’s satisfaction lies in the comprehension and sympathy of the readers when they read his writing and recognize his honesty.

As a content writer, I’m all too well awere that what I write at work to earn my living could not bring me satisfaction, because that is not what I wanted to write about. Blogging, on the other hand, could make me happy because I am free to share my little interests, and it’s a good thing to know that someone out there care about them.

Now, I am thinking of Riggan Thomson in Birdman: The Unexpected Virtue of Ignorance. Why didn’t he keep staying at Hollywood, serving the mass audience to win million dollar contracts? Why did he have to move to Broadway to suffer the harshness of the critics?

Probably because he wants his honest ambition of being a real artist, rather than a joke, to be recognized and appreciated.

Within 150,000 years of human existence, if one is not seen, not heard of, not understood, and not beloved by someone else, what would one live for?

“And did you get what you wanted from this life even so?
I did.
And what did you want?
To call myself beloved, to feel myself beloved on the earth”
(Raymond Carver, Late Fragment)

22.08.19
1st revised: 22.08.20

du-khoanh-khac-tro-ve-la-khoanh-khac-chia-xa-1

dù khoảnh khắc trở về là khoảnh khắc chia xa

Những ngày ở Đà Lạt thật ngắn, mới đó mà đã tới lúc Phương phải trở về với cuộc sống của mình ở Sài Gòn. Dù chuyến đi lần này anh đã thực hiện được mong muốn của mình là được gặp Vỹ, nhưng anh vẫn cảm thấy sao mà chưa đủ. Anh ước giá như có thể thu nhỏ Vỹ lại để mang theo bên mình đến bất cứ đâu.

“Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt, thành phố này xin trả lại cho em”, bài hát mở đêm nay thật đúng tâm trạng. Mai anh sẽ về lại Sài Gòn, ở đó anh có một gia đình, có một cuộc đời công sở và nghĩa vụ của một người chồng, người cha, bỏ lại đây những êm đềm ngắn ngủi với Vỹ. 

Anh biết rằng mình đã làm Vỹ đau khổ, khi anh đã bỏ lại cuộc tình 8 năm với cậu để kết hôn ở tuổi 32, bởi vì anh muốn hoàn thành tâm nguyện cuối đời của ba là được thấy con mình cưới vợ sinh con, xua đi cái xì xào bàn tán quanh giềng xóm. Lúc đó, Vỹ 26 tuổi, bỏ tất cả sự nghiệp và những dự tính ở Sài Gòn để về quê Đà Lạt sống.

Rồi ba Phương mất, khi con trai Phương cũng vừa tròn 2 tuổi. Sau 4 năm của một cuộc đời mới, Phương đã tưởng rằng có lẽ mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ trở lại được quá khứ. Dù thi thoảng vẫn chừng mực hỏi han bạn bè về tin tức của Vỹ, chưa bao giờ anh dám nghĩ đến chuyện quay lại. Anh cố chôn kỷ niệm như người ta chôn những nỗi buồn của ngày chủ nhật trước thềm thứ hai tuần mới. Anh đã leo lên một chuyến tàu lửa một chiều, chẳng thể quay đầu, chẳng thể nhảy xuống. 

Nhưng có những con sóng của ký ức tràn về vào những khoảnh khắc không ngờ tới. Lúc Phương ngồi cùng con trai trú mưa ở một quán cà phê, con anh đã hỏi anh một câu rất ngây thơ, nhưng cho nhiều anh suy nghĩ, và nhìn cơn mưa qua tấm kính, Phương chợt nhớ đến Vỹ. Phương tự hỏi bây giờ Vỹ đang sống ra sao, có còn nhớ đến anh hay không?

Nhiều ngày sau đó, những suy nghĩ về Vỹ cứ liên tục ám ảnh Phương, khiến Phương quyết định đi tìm Vỹ. 

Gặp Vỹ ở Đà Lạt, anh bị Vỹ xua đuổi với một thái độ lạnh nhạt. Anh buồn bã trở về. Ngày hôm sau, anh lang thang ở một chốn mà khi xưa hai đứa thường đến để ngắm hoàng hôn, mỗi khi anh cùng Vỹ về quê cậu, tự nhủ, đây sẽ là lần cuối cùng mình quay lại chốn này.

Nắng tắt, trong lúc quay gót định trở về, Phương vô tình chạm mặt Vỹ đang đứng hút thuốc ở một góc khác của bờ hồ. Bị Phương bắt gặp, quệt vội mấy giọt nước mắt, Vỹ lảng đi chỗ khác. Nhưng Phương chạy ngay đến ôm chầm lấy Vỹ. Sau những giằng co, họ hôn nhau. Và đêm đó, họ ngủ cùng nhau. Rồi trong cái đêm dài và lạnh nằm cạnh nhau, họ nói về những chuyện trong suốt 4 năm qua. 

Vỹ kể đã come out với mẹ, và bà bảo rằng bà đã biết từ lâu. Chính bà đã nói với Vỹ rằng, nếu con thực sự yêu Phương thì con hãy để Phương làm những điều mà cậu ấy thấy cần phải làm. Phương xin lỗi Vỹ, và anh nói một hôm nào đó sẽ dẫn con trai mình lên Đà Lạt chơi, để nó gặp chú Vỹ, và chú Vỹ hẳn sẽ thích nó lắm.

Họ nói bâng quơ những chuyện không đầu không cuối như thế, cũng như khi họ chỉ tay lên mấy cụm mây và hỏi nhau nó giống hình gì. Dường như Phương và Vỹ đều hiểu rằng, mọi sắp đặt về tương lai giữa hai người đều không có mấy ý nghĩa. Có lẽ số phận của họ là chỉ là những êm đềm ngắn ngủi thế này thôi.

một bịa tạc vừa viết, sau khi nghe bài Mây của Đỗ Bảo
Ảnh: Lam Vũ (2001)

am-nhac-tran-viet-tan

âm nhạc Trần Viết Tân

Tôi vẫn nhớ rõ, lần đầu tiên tôi nghe nhạc Trần Viết Tân là ở trong một căn nhà nằm trên con đường chạy dọc bờ kênh, đoạn thuộc Phú Nhuận. Đó là nhà của thằng thầy dạy thanh nhạc cho tôi. Nó chỉ bằng tuổi tôi thôi, nhưng nó khá tài hoa, vẽ đẹp, chơi vĩ cầm rất điêu luyện và hát chính trong một ban nhạc chơi symphonic metal (hình như ban của nó cũng không nổi lắm). Sau buổi học, có khi tôi ngồi lại một chút nói chuyện về âm nhạc. Ở căn phòng đó, tôi được nghe nó mở Lara Fabian hát Je t’aime, Amy Lee hát My immortal, Nightwish hát The Phantom of the Opera, và rồi thì một bài của Tùng Dương, bắt đầu như thế này:

Giã từ hoa cúc và em
Giã từ mùa thu cũ
Ô cửa vàng nắng rũ
Gió thổi ban công chiều.

Còn lại bên mùa những phím cầm rêu
Cơn giông trút ngoài thềm
Mang em về phương khác.
Những lối về xào xạc
Hoa vàng nhói lòng ta
Một cuộc tình đau.

Đó là bài Biệt của nhạc sĩ Trần Viết Tân, trong album Biệt (2007). Cái loại giai điệu đó của Trần Viết Tân… nói sao nhỉ, nó dường như có nỗi buồn giống với của nhạc Phú Quang, nhưng cái buồn của Phú Quang nhiều khi là làm chùng xuống ngay, rớt thẳng xuống dưới, và sau đó là những bấu víu để trèo lên trên, trong quằn quại (Nỗi buồn, Tình khúc 24, Đâu phải bởi mùa thu), còn nỗi buồn trong giai điệu của Biệt, Đường về, Phía không người, Thật ra, hay Độc thoại đêm lại có cả sự tản mát, xa gần, và tự sự, miên man như nhạc của Đỗ Bảo (Mây, Chuyện của mặt trời chuyện của chúng ta, Tháng hai uể oải). 

Còn phần lời thì rất hòa hợp với giai điệu để tạo ra một không khí, một trạng thái cho người nghe:

Anh có đang ngơ ngác, nghĩ những điều xa xôi
Em có buồn thao thức, lặng im phía không người
Thành phố đang ngủ yên, thành phố chìm vào đêm
Nghe đời trôi yên ả, nghe lòng em nghiêng ngả
Ôm anh trong nỗi nhớ

Anh xa quá… hay em xa quá…
Ta đã gặp nhau, đã từng cho nhau rộn ràng thương yêu
Anh xa quá… hay em xa quá…
Ta đã gần nhau, để rồi cho nhau nồng nàn thương đau

Anh về phía chân trời
Em về phía không người
Nghe nắng xanh trên đầu nghe gió thơm bên đời…

(Phía không người, Hoàng Quyên hát, tôi thậm chí từng dùng nhan đề bài hát này để đặt tên cho một truyện ngắn của mình)

Lời của Trần Viết Tân nhiều khi lấy từ những bài thơ, chẳng hạn như bài Cơn mưa (Em về đổ ngược cơn mưa/ Hạt to hạt bé có chừa một ai/ Mưa rơi buộc đất với trời/ Mưa không buộc nổi hai người với nhau) là lấy từ thơ của Bình Nguyên. Hoặc bài Nợ (Em nợ duyên anh tự kiếp nào/ Như bờ lau nợ nước ven ao/ Mực nghiên nợ bút thơ vay chữ/ Trăng khuyết trời khuya nợ ánh sao) là từ thơ của Mưa Sa Mạc.

Cả nhạc lẫn lời của Trần Viết Tân, tuy có vẻ hơi khác những người cùng thế hệ, là Huy Tuấn, Đức Trí, Lê Minh Sơn, Giáng Son, nhưng đều cùng thuộc về một giai đoạn mà có lẽ đã khép lại vào khoảng nửa sau của thập niên trước, cũng tức là giai đoạn đánh dấu Internet soán ngôi bá chủ của truyền hình. 

Và chính vì vậy, nên những album của Trần Viết Tân ra mắt trong thời gian về Việt Nam, như Nợ (2006), Biệt (2007), Chạm vào đêm (2010) hay Phía không người (2012) giống như những bông hoa trái mùa. Bây giờ không ai biết Trần Viết Tân hết (có lẽ Hoàng Quyên không nổi tiếng là vì Hoàng Quyên, cũng như Uyên Linh, vẫn còn mỹ cảm với những dòng nhạc cũ, trước một thị trường âm nhạc đã và đang biến đổi quá nhanh, khi Hoàng Quyên hợp tác với Trần Viết Tân, rồi sau đó tiếp tục với Võ Thiện Thanh).

Dòng nhạc lãng mạn của những năm 80, 90 đã đi qua rồi, hay chí ít là nó không còn thuộc về mainstream nữa (dù thi thoảng có sự trở lại của một số bài hát lẻ tẻ từ thời Làn sóng xanh). Bây giờ, những Đỗ Bảo, Quốc Trung, Lê Minh Sơn, Đức Trí, Việt Anh, xa hơn nữa là những Thanh Tùng, Dương Thụ, Bảo Chấn, Quốc Dũng lui về trong những đêm nhạc, những cộng đồng nhỏ.

Nên thành ra, khi thích các bài hát của Trần Viết Tân, tôi cũng khá cô đơn trong sự chia sẻ. Vì cho bọn bạn nghe, bọn nó toàn chê nhạc già. Dù thực ra, nếu so về độ già với những kiểu nhạc khác mà tôi nghe thì nhạc của Trần Viết Tân hãy còn trẻ măng.  

Tôi thích nhiều bài của Trần Viết Tân, mà điểm chung của chúng là nỗi buồn. Tôi thích mở chúng khi đã tắt hết đèn, chỉ có cửa sổ để cái ánh sáng ngoài phố hắt vào, và nhất là khi đó là một đêm mưa nhẹ.

Có lẽ, một số người như tôi, nghe âm nhạc của một thời quá vãng là để tìm lại một ấn tượng nào đó của tuổi thơ vụn vặt chăng?

À, mà chuyện về tôi với thằng thầy tôi ấy, cũng có nhiều cái buồn buồn vui vui, mà hôm nào đó tôi cũng muốn đào lên lại dưới đất đai kỷ niệm để ghi ra, không khéo thì quên.

13.08.20