Posts by Trịnh Nhật Tuân

Blogger

Long-legged Girls (2004), Vũ Ngọc Đãng

Widely considered as the first Vietnamese movie that depicts same-sex affair, Long-legged Girls (2004), or Những cô gái chân dài, directed by Vũ Ngọc Đãng, is definitely worth the attention of any queer cinema enthusiasts.

So far as I am aware, this is also the first Vietnamese film that incorporates the female gaze. Within only a few seconds from the start, there comes the nude showering scene of a 20-year-old male model. This must be an intentional tactic to accommodate the taste of women viewers and lend the film a more commercial appeal, which could also be seen in Lost in paradise (2011).

In her essay Long-Legged Girls and the Transnational Circuits of Vietnamese Popular Culture, Lan Duong says that these objectifying images of young men and the depiction of gay desire effectively tests the boundaries of gendered behaviors and sexual norms of Vietnamese film industry.

It demonstrates how queer subjects in Vietnam, marked by class and always restricted as hetero-normative national subjects in the public space, are negotiating the prospect of cultural visibility and performing gender in different spaces.

To be honest, I was sexually aroused to the baby-butt smooth body of Hoàng (Minh Anh) when I watched this movie for the first time. However, it took me a while to latch on the behaviors of Khoa (Trương Thanh Long). At the age of 14, when “homosexuality” was still so strange of a concept to me, I did not even bother wondering what was going on between the two male characters. But when I watched it again many years later, especially after my first straight crushes, I could finally relate to Khoa’s feeling, and I think Trương Thanh Long had delivered it quite well, with a subtly exquisite acting level that hardly any other actors playing a gay man role have ever been able to reach.

to be continued

Tuân’s bookmarks

After many years of wandering around the internet, I have collected a number of websites which are really helpful to those who are interested in Vietnamese literature and arts, queer cinema, and in-depth intellectual read in English. Today, I want to share them with people who by chance visit my desolate blog.

Vietnamese literature and arts

Talawas: founded by Phạm Thị Hoài and her cohort in 2001 and shut down in 2010. It includes Talawas, Talawas chủ nhật (talachu.org), Talawas tạp chí (tapchitalawas.org) and Talawas blog (talawas.org).

Tiền vệ (tienve.org): founded by Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn and some others in 2002.

Văn Việt (vanviet.info): the blog of Vietnamese Independent Literary Group, with Nguyên Ngọc as the chairman.

Apart from the above sites, there are also: Hợp lưu (hopluu.net), Da màu (damau.org), Diễn đàn (diendan.org), Diễn đàn thế kỷ (diendantheky.net), Phê bình văn học (phebinhvanhoc.com.vn), Học xá (hocxa.com), Litviet (litviet.org, by Phan Nhiên Hạo), Tạp chí sông Hương (tapchisonghuong.com.vn), Gió O (gio-o.com), Soi (soi.today, by Minh Đỗ), Tia sáng (tiasang.com.vn), Mắt cá (matca.vn), Zzz Review (zzzreview.com), Sàn Art (san-art.org), Vănguard (vanguardzine.com), Diacritics (diacritics.org), and the blogs of famous writers including:

Authors and artists: Ăn mày văn chương (amvc.free.fr, by Phan Huy Đường, Nam Dao, and others), Pro Contra (procontra.asia, by Phạm Thị Hoài), Du Tử Lê (dutule.com), Hoàng Hải Thủy (hoanghaithuy.wordpress.com), Thuận (blogcuathuan.wordpress.com, aka Đoàn Ánh Thuận), Nguyễn Ngọc Tư (nguyenngoctu.net), Phan An (phanan.net), Phan Việt (tinyhuong.blogspot.com), Mượn dấu thời gian (phannguyenartist.blogspot.com, by Phan Nguyên), Nguyễn Như Huy (huybeo.blogspot.com), Nguyễn Đình Đăng (nguyendinhdang.wordpress.com), Nguyễn Phương Văn (5xublog.wordpress.com), Lâm Vũ Thao (bloggoldmund.blogspot.com)

Critics and translators: Thụy Khuê (thuykhue.free.fr), Vương Trí Nhàn (vuongtrinhan.blogspot.com, vuongtrihai.wordpress.com), Lại Nguyên Ân (lainguyenan.free.fr), Nguyễn Vy Khanh (sites.google.com/site/nguyenvykhanhca), , Nguyễn Xuân Nghĩa (dainamaxforum.com), Tin Văn (tanvien.net and tinvan.limo, by Nguyễn Quốc Trụ), Nhị Linh (nhilinhblog.blogspot.com, aka Cao Việt Dũng), Hải Ngọc (hieutn1979.wordpress.com, aka Trần Ngọc Hiếu), Mai Anh Tuấn (maianhtuan.wordpress.com), Vũ Ánh Dương (vuanhduonghaiphong.blogspot.com), Nguyễn Trường Trung Huy (huyvespa.blogspot.com), Nguyễn Huy Hoàng (hoanghannom.com), Lê Dọn Bàn (chuyendaudau.blogspot.com), Phạm Nguyên Trường (phamnguyentruong.blogspot.com), Lý thuyết văn học (lythuyetvanhoc.wordpress.com, by members of Literature department, Hanoi University of Education), Bread and Roses (breadandrose.com, by members of Literature department, Ho Chi Minh University of Education)

Academics: Trần Đình Sử (trandinhsu.wordpress.com), Nguyễn Thu Giang (gianged.wordpress.com), Nguyễn Văn Tuấn (nguyenvantuan.info), Chu Xuân Giao (giaovn.blogspot.com)

Vietnamese history and politics

Indomemories (indomemoires.hypotheses.org): where you can find many articles about Vietnam during the period of French colonization.

Viện Việt học (viethoc.com, with Nguyễn Đình Hòa and Trần Ngọc Ninh as members of board of directors).

Nghiên cứu lịch sử (nghiencuulichsu.com), Nghiên cứu quốc tế (nghiencuuquocte.org)

Luật Khoa tạp chí (luatkhoa.org), Nhà xuất bản Tự Do (nhaxuatbantudo.com) and The Vietnamese (thevietnamese.org)

RFI – Radio France Internationale (rfi.fr/vi/), RFA – Radio Free Asian (rfa.org/vietnamese)

…to be continued

Photo: Krys Authier

pham-duy-khiem-qua-loi-ke-cua-nhac-si-pham-duy

Phạm Duy Khiêm, qua lời kể của nhạc sĩ Phạm Duy

Từ Hồi ký Phạm Duy,
Quyển 1: Thời thơ ấu – Vào đời

Gia đình họ Phạm giao thiệp với nhiều trí thức và văn nghệ sĩ thời tiền chiến. Phạm Duy kể trong hồi ký, sau khi cha ông mất, thầy Kim, tức Trần Trọng Kim, là bạn thân của Phạm Duy Tốn, vẫn hay tới lui để giúp đỡ gia đình ông và dạy dỗ các anh em ông.

Nhiều khi, còn có cả Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục. Mỗi lúc đông đủ như vậy, họ thường cùng với bà vợ ông Tốn chơi đánh tổ tôm.

Tôi còn nhớ giọng nói sang sảng của ông Bùi Kỷ, cái tính hay bẹo má chúng tôi của ông Nguyễn Văn Vĩnh và lòng bàn tay đỏ như son của thầy Trần Trọng Kim. Mầu đỏ rực của lòng bàn tay này, cái tướng của những người cai trị dân, tôi cũng thấy có nơi lãnh tụ Cộng Sản Trường Chinh mà tôi gặp ở Thái Nguyên vào năm 1946. Thầy Kim lúc đó làm Thanh Tra Tiểu Học và tuần nào cũng tới nhà tôi trước khi ra toà nhà Khai Trí Tiến Đức để cùng với một số các vị khác hợp soạn cuốn Việt Nam Tự Điển.

Là con của một nhà văn, nhà báo nổi tiếng, được chiếu cố bởi những trí thức bậc nhất đương thời, lại còn có thành tích học tập tốt, được học bổng đi du học Pháp vào năm 20 tuổi. Ở Pháp, ông có nhiều bạn học mà sau thành trở thành những nhân vật lớn như nhà văn Thierry Maulnier, tổng thống Pháp Georges Pompidou và tổng thống Sénégal Léopold Senghor. Lấy bằng thạc sĩ ở Pháp rồi về nước giảng dạy ở trường Lycée Albert Sarraut danh giá cho chính những học trò là người Pháp, sau này còn viết văn bằng tiếng Pháp và được giải thưởng của Hàn Lâm Viện. Với những thành tích như thế, không ngạc nhiên khi hết thảy mọi người đều đánh giá ông Khiêm là một trong những trí thức sáng giá bậc nhất thời bấy giờ. Kéo theo đó, hiển nhiên, họ sẽ kỳ vọng ông sẽ gánh vác những trọng trách với Tổ Quốc như là làm chính trị, giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không nằm trong kế hoạch của Phạm Duy Khiêm. Ông Khiêm có một bản lĩnh lớn là làm điều mình tin là đúng, bất chấp dư luận. Nói về việc ông đầu quân cho Pháp để đi chiến đấu chống phát xít Đức, Phạm Duy kể:

Anh Khiêm vắng nhà vì con người quân tử chịu ơn quốc gia đã nuôi mình ăn học thành tài nên đăng lính đi cứu nước Pháp chưa về. Việc này làm cho nhiều người chê trách anh Khiêm, nhưng tôi rất phục thái độ thấy đúng là làm của anh, bất cần dư luận.

Dẫu vậy, nếu nói rằng Phạm Duy Khiêm không đóng góp gì cho đất nước thì điều đó không đúng. Vì những bài viết, bài nói chuyện của ông ở Pháp cho thấy một nỗ lực của ông nhằm giúp người Pháp hiểu rõ hơn về người An Nam.

Trong cuốn hồi ký của mình, Phạm Duy kể rất tường tận những cảm nghĩ cá nhân của ông về người anh, mà ở đây tôi xin trích nguyên văn:

Cho tới năm 1974, một năm trước khi anh tôi qua đời, tôi không hiểu vì sao người anh lại ghét mình. Lúc còn bé, nếu tôi nhớ không lầm, tôi chỉ được đùa chơi với anh Khiêm có hai lần. Sau khi bố tôi chết, anh ấy vào sống nội trú trong trường, cuối tuần mới về nhà. Lối đùa chơi với hai em nhỏ của anh rất khác thường. Anh nắm hai tay một thằng em, nhấc bổng lên rồi quật xuống đất như người ta làm xiếc vậy. Hai anh em tôi không bị gẫy tay hay gẫy cẳng cũng là chuyện lạ.

Khi tôi lên 7 thì anh Khiêm được một học bổng đi Tây. Trong bẩy năm, tôi không hề biết gì thêm về người anh lớn. Qua thư từ hiếm hoi gửi về cho mẹ, không thấy anh ấy nhắc nhở gì đến lũ em. Lúc anh Khiêm từ Pháp về, tôi đã thành một đứa em 14 tuổi, cái tuổi đang biến hình từ thiếu nhi qua thiếu niên mà nếu người lớn có độ lượng thì sẽ phải nương tay dẫn dắt. Anh Nhượng tính tình yếu mềm lại mắc bệnh thương hàn ngày còn bé, thoát chết nhưng bị méo miệng nên mang nhiều mặc cảm và rất dễ dạy. Tôi được mẹ và vú nuông chiều từ bé nên bướng bỉnh, nhất là trong tuổi dậy thì này. Trước lối đối xử thiếu thân tình của người anh, nhiều khi tôi ỳ ra, không bao giờ tỏ ra mình có lỗi, dù có lỗi hẳn hoi.

Nhưng chưa chắc tôi đã là thằng em hư hỏng và phạm nhiều lầm lỗi. Tôi còn nhớ trong ba năm sống chung với nhau, tối thiểu có hai lần anh tôi phạt tôi một cách vô lý. Tôi khởi sự thích đàn ca từ khi anh tôi đi vắng. Người chị lớn lấy chồng khá giả tặng cho em út một đàn mandoline. Tôi đã vê được những bản nhạc ngắn hay nhất của Ý Đại Lợi như Martha, Back To Sorriento… Bây giờ sống chung với người anh, tôi không được đánh đàn. Muốn đàn ca, phải chờ khi anh ấy vắng nhà. Có lần quá cao hứng nên không đề cao cảnh giác, người anh chợt về, giật cái đàn mandoline vứt xuống đất và thân tặng nhạc sĩ mầm non một trận đòn. Một lần khác, vào mùa hè, tôi đang nằm trên nền nhà đá hoa để hưởng cái mát dịu, anh Khiêm ở đâu về, sồng sộc tới chỗ tôi nằm, nắm cổ lôi dậy, phạt tôi quỳ trước sự ngạc nhiên của mẹ tôi: Ai cho mày nằm dưới đất? Quỳ xuống đó!

Trong mấy chục năm xa nhà, nhiều khi được sống trong khung cảnh gia đình êm ấm của người khác rồi chạnh lòng nhớ tới hoàn cảnh mình, tôi không hiểu tại sao giữa chúng tôi không có tình huynh đệ? Thứ tình anh em mà tôi thấy tuyệt đẹp trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư?

Tôi buồn vô hạn vì cũng như mọi người, tôi vinh dự có người anh học giỏi, người Việt Nam đầu tiên đậu bằng thạc sĩ, nhà văn Việt Nam viết văn Pháp hay hơn người Pháp, người Việt Nam quân tử muốn trả ơn nước Pháp đã đào tạo ra mình nên đầu quân làm binh nhì cho Pháp trong Thế Chiến Hai, bất chấp lời dị nghị.

Tôi buồn rồi tôi hờn giận, đổ lỗi cho người anh là ích kỷ, khó tính, vụng về trong cách đối xử với mọi người, bắt đầu từ người trong gia đình. Một người tự cao tự đại, rất ít bạn, không có người tình và đang bất mãn vì những chuyện gì đó rồi có bao nhiêu tức giận đổ vào đầu thằng em út. Ít ra tôi cũng có thể chứng minh anh tôi là người rất nghiệt ngã đối với những người đi thi Tú Tài trong thời kỳ đó. Giám khảo chấm thi khó tính đến đâu cũng chỉ phê điểm zéro là cùng, nhưng anh tôi ”giận” thí sinh Việt Nam yếu kém Pháp ngữ đến độ phê điểm… dưới zéro! Một người ”khó” đến độ về sau này khi bạn đồng học là Léopold Senghor, tổng Thống nước Sénégal đồng thời là thi sĩ làm thơ tiếng Pháp nổi danh, gửi tặng một tập thơ thì anh tôi gửi trả lại với những dòng chữ phê bình bằng mực đỏ của một nhà giáo!

Cũng có thể một người cầu toàn trách bị như anh tôi, không bằng lòng với chuyện tôi thi trượt vào trường công và phải đi học trường tư, trước viễn ảnh phải nuôi tôi ăn học cho tới khi cũng giật bằng thạc sĩ — vị chi là 10 năm — vì phải trả nợ cho bố nên anh tôi không dư tiền để nuôi các em ăn học thành tài. Điều này đúng vì anh Nhượng cũng không được theo đuổi việc học mà phải thi ngay vào trường Sư Phạm để trở thành một giáo viên vô danh trong khi — theo tôi — anh ta là người học chăm, học giỏi còn hơn cả anh Khiêm nữa! Nếu không soạn ra dăm ba bài hát thì chẳng ai biết Phạm Duy Nhượng là ai. Ở trường Thăng Long, tôi đâu có thua kém ai trong việc học hành ? Đứng thứ nhì trong lớp, nếu tôi được tiếp tục đi học, tôi cũng đậu bằng thạc sĩ cho mà coi !

Nhưng đùng một cái, tôi được người anh cho biết: Mày phải học nghề để tự nuôi thân! Anh Khiêm liên lạc với Giám Đốc người Pháp của Trường Bách Nghệ để gửi tôi vào học với tư cách học viên nội trú. Rồi không hiểu vì sao anh còn phạt (?) tôi bằng cách xin với nhà trường không cho tôi về nhà vào những ngày chủ nhật (consigné à la demande de la famille). Tôi không được tiếp tục học chữ, bị bắt buộc phải học nghề rồi còn bị cấm túc trong trường, điều này làm cho mẹ tôi buồn — tôi nhớ mãi tiếng chép miệng thở dài của mẹ — nhưng cũng còn những điều khác làm cho mẹ tôi buồn rồi, chẳng hạn mẹ tôi không được đánh bài hay đi lễ như lúc trước, mẹ tôi muốn có cháu nội nhưng người con cả nhất định không lấy vợ. Mẹ tôi buồn nhưng không nói ra, tôi biết chắc như vậy!

Chỉ tới khi anh Khiêm tự tử chết tại Pháp vào đầu năm 1975 thì tôi mới ngộ ra anh tôi là một người cô đơn tới cùng cực. Suốt đời, đem tính tình vô cùng nghiêm khắc ra để đối xử với tất cả mọi người, không trừ một ai, kể cả với mẹ. Khó khăn ngay với chính mình nữa. Cuối cùng thất vọng, tự sát…

Một năm trước khi anh tôi qua đời, lần đầu tiên sau mấy chục năm cách biệt, chúng tôi trao đổi thư từ với nhau. Trong một bức thư, anh tôi viết rằng đã biết chán đời từ khi còn trẻ. Và đằng sau bộ mặt đóng kịch với đời là một sự chán ngán vô biên. Anh nói anh là một người (nguyên văn) nihilist. Tới khi đó, tôi mới nguôi lòng oán hận người mà tôi cho là ác nghiệt, vô tình vô nghĩa và vô trách nhiệm. Và bắt đầu thương người anh ruột đang sống cô đơn tại một trại nhỏ ở miền quê nước Pháp. Bắt đầu biết ơn người mà tôi luôn luôn tự hứa sẽ phải nổi tiếng hơn, giầu có hơn, thành công hơn trong cả hai điạ hạt gia đình và xã hội. Nếu không có người anh nghiêm khắc mà tôi nhìn như đối tượng để vượt qua, chưa chắn tôi đã hoàn thành đời tôi như thế này.

Tôi bỗng nhớ tới sự mê say của anh Khiêm khi anh diễn thuyết nhiều lần về cuốn phim Back street trong đó một sự việc cỏn con (bị kẹt xe gì đó) làm cho một đôi tình nhân bị lỡ hẹn khiến cho cuộc đời của họ đổ vỡ hoàn toàn. Anh Khiêm cũng là người để lỡ một cái hẹn lớn trong khi tôi có may mắn tới đúng giờ hẹn của lịch sử để không phải thắc mắc gì khi cùng toàn dân vùng lên đánh đuổi thực dân. Tôi thấy được thảm kịch của người anh ruột. Vì huyết thống, chắc chắn anh tôi cũng thừa hưởng phần nào sự bất đắc chí của bố. Nhưng từ khi bước vào trường học cho tới khi đỗ đạt, phải nói rõ là chính nước Pháp nuôi anh thành tài. Trở về nước, anh là người thành công trong xã hội, nhưng khi đất nước đi tới chỗ rẽ của lịch sử thì trong anh có một cuộc giằng co dữ tợn. Yêu nước vô cùng nên viết Légendes des Terres Sereines, La Jeune Femme De Nam Xương (1). Nhưng liệu có thể dứt được ân tình đối với nước Pháp như đôi tình nhân dị chủng đối với nhau trong cuốn Nam et Sylvie (2)? Có thấy Pháp là kẻ thù của dân tộc không? Có thấy được thầm ước của nhân dân không? Sau này, anh nhận chức Cao ủy trong Liên Bang Đông Dương của Pháp nên không cộng tác với một tổ chức yêu nước nào, đó là sự lỡ hẹn chua sót chăng? Không cộng tác với Bảo Đại nhưng làm đại sứ cho chính phủ Ngô Đình Diệm (để sẽ bị ”cám ơn” một cách tồi tệ) có phải là một sự đúng hẹn bẽ bàng không? Chỉ biết khi tôi còn ở với anh, tôi thấy anh đau đớn lắm. Đau đớn bao nhiêu thì nổi sùng bấy nhiêu. Chỉ tội nghiệp cho thằng em thiếu tình cha đang chờ đợi thứ tình đó nơi người quyền huynh thế phụ nhưng chỉ nhận được giận dữ hơn là yêu thương. Tôi cũng đau đớn lắm, nhưng tôi không thể có một phản ứng nào khác hơn là lẳng lặng xa dần người anh. Cũng như về sau này, khi không chịu nổi sự bó buộc của một thế lực nào đó thì tôi lẳng lặng ra đi. Lúc đó tôi lớn tuổi rồi, tôi không hờn giận, không mặc cảm, tôi chỉ thương thôi… Thương những người làm tôi buồn khổ như đã thương anh mình.

Có thể thấy ông Khiêm là người quá khắt khe, khó khăn với người khác và với cả chính mình. Ông đặc biệt nghiêm túc (có lẽ đây là lý do khiến văn chương của ông không có sự đột phá), với một vẻ ngoài cứng rắn, nhưng bên trong là một tâm hồn khao khát sự êm ái, mềm mại.

Nghịch lý đó, khi đối mặt với thực tế là những ấm êm tuổi thơ mất đi quá sớm, chỉ còn lại trách nhiệm của một người làm chủ gia đình, cộng thêm kỳ vọng, khen chê của dư luận xã hội có thể khiến người ta trở nên rất cô đơn và mệt mỏi.

Một người như ông Khiêm, ngay cả khi có làm chính trị, chắc chắn cũng sẽ là một nhà chính trị thất bại, vì ông không mềm dẻo, linh hoạt. Cứng quá thì gãy.

Ông Khiêm có tính cách individualism hơn bất kỳ người Việt nào lúc bấy giờ, ở chỗ ông khước từ trách nhiệm với cái xã hội An Nam, ngay cả khi nó có bị hại đến khổ cực đến thế nào, thì rất có thể nó cũng không quan trọng bằng mối tình của ông với một cô gái ngoại quốc. Ở ông Khiêm có một tính cách Pháp nhiều hơn là An Nam. Sự đấu tranh của ông Khiêm để người Pháp nhìn nhận người An Nam như một chủng tộc ngang hàng có thể không gì hơn triết lý égalité của người Pháp.

Văn chương của ông Khiêm, do đó, từ một lập trường khắt khe về phân loại, có thể không thuộc một phần của văn chương Việt Nam.

pham-duy-ton-qua-loi-ke-cua-nhac-si-pham-duy-2

Phạm Duy Tốn, qua lời kể của nhạc sĩ Phạm Duy

Trích từ chương 3 của Hồi ký Phạm Duy,
Quyển 1: Thời thơ ấu – Vào đời

Tôi không có một kỷ niệm nào với bố tôi cả. Ông chết đi khi tôi mới lên hai. Theo lời mẹ tôi nói thì bố tôi có hình vóc hao gầy, mặt rỗ hoa, rất vui tính, hay nói đùa và chọc ghẹo bạn bè, vợ con. Tôi rất giống bố tôi ở điểm này.

Ông làm nhiều nghề ngoài nghề viết văn, viết báo. Sau khi tốt nghiệp ở trường Thông Ngôn, ông làm thông dịch viên ở một vài toà công sứ tỉnh nhỏ. Rồi bỏ đi làm thư ký cho một chi nhánh của Banque de L’Indochine ở tỉnh Mông Tự bên Tầu. Rồi mở nhà hàng cao lâu ở phố Cầu Gỗ, mở tiệm vàng ở phố Hàng Đào. Sau đó, đi tìm mỏ than hay mỏ vàng gì đó ở Quảng Yên… Trong đời, tôi cũng hay đổi nghề như bố. Vào với nghề viết văn, bố tôi chọn con đường tả chân và phê bình xã hội, khi thì viết những truyện ngắn rất đứng đắn khiến cho truyện của ông về sau được đưa vào giáo trình của bộ Giáo dục, khi thì sưu tập và phóng tác những chuyện tiếu lâm (dưới bút hiệu Thọ An). Những lúc tôi soạn loại bài hát phê bình xã hội như tâm ca hay tục ca tôi đều liên tưởng tới việc làm của một người bố tuy không gần gũi mà hoá ra thân thiết. Sau khi làm báo và cũng đã là một người khá nổi danh trong xã hội rồi, cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, bố tôi được bầu làm Hội viên thành phố Hà Nội và được cử đi dự Đấu xảo Marseille vào năm 1922.

Ảnh chụp ba ông Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh
tại buổi Đấu xảo Thuộc địa lần thứ hai ở Marseille, 1922.

Trở về nhà, ông lâm bệnh và tới năm 1924 thì ông qua đời vì bệnh ho lao. May mắn cho tôi là anh chị tôi còn giữ được một số tài liệu về bố tôi. Chẳng hạn những lá thư hay những bưu ảnh bố tôi gửi về khi ông đi Nam Kỳ hay đi Pháp. Chẳng hạn những mẩu báo Trung Bắc Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo, Khai Hoá Nhật Báo… đăng tin ông mất vào năm 1924 trong đó có phần tiểu sử của bố tôi. Những tài liệu này được anh chị tôi đem qua Pháp từ lâu và gửi cho bản sao trước năm 1975. Do đó, tôi được ”gặp” lại bố tôi trong những kỷ vật này.

Báo Trung Bắc Tân Văn số 2078 ra ngày 25 tháng 2 năm 1924 cho tôi biết rõ hơn bức chân dung của bố tôi. Trước hết là con người ký giả, văn sĩ Phạm Duy Tốn:

“Ông Tốn khi mới tốt nghiệp trường Thông Ngôn ở Yên Phụ năm 1901 thì bổ làm thông ngôn ngạch toà sứ Ninh Bình rồi đổi sang Thị Cầu (toà sứ Bắc Ninh). Ngay lúc bấy giờ ông đã nổi tiếng là một tay thông ngôn có đặc sắc và bắt đầu kết bạn với ông Nguyễn Văn Vĩnh, bản báo chủ nhiệm, lúc đó cũng làm thông ngôn một toà…”

Bài báo này cho biết thêm là bố tôi được:

“… quan trên tin dùng (…) giá ở người khác ắt có thể làm nên phú quí lắm, nhưng cái chí khí cao thượng, cái tâm huyết hăng hái của ông, không hám về đường công danh phú quí như ai, cho nên dù được tín dụng thế nào mặc lòng, ông cũng xin từ chức mà vào làm biên tập trong Đại Việt Tân Báo là cái báo quốc văn ra đời trước nhất tại xứ ta. Vậy thì trong làng báo, cùng với bản báo chủ nhiệm, ông là người vào làng trước nhất vậy.”

1913, khi mở tờ Đông Dương Tạp Chí thì ông ở Mông Tự có gửi nhiều bài về đăng báo, rồi ông lại từ hẳn Mông Tự mà về giúp một tay trong bộ biên tập báo Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân VănCông Thị Báo. Ngoại những bài xã thuyết có giá trị của ông, thì ông lại sở trường nhất về lối hài văn và đoản thiên tiểu thuyết là hai mục ông đã gây ra trước nhất trong báo giới vậy. Bài báo viết tiếp, về nghề làm báo, bố tôi được tiến cử vào Nam để chủ trương tờ Lục Tỉnh Tân Văn rồi khi trở ra Bắc thì giữ chức tổng thư ký trong bộ biên tập Học Báo.

Về con người kinh tế của bố tôi, bài báo này viết:

“…Về đường kinh tế thì ông có mở một cửa hàng Tân-Nam-Lâu là cửa hàng khách sạn của người Việt Nam ta mới có là một; ngày ấy là ngày vào khoảng 1908 là lúc cái phong trào khai thương ở xứ ta mới nhóm lên. Cánh nam nhi học thức mình mới thoát tỉnh cái giấc mộng hư văn mà không cho việc buôn là tiện nghệ; trong cảnh đó thì ông có thể kể vào tay kiện tướng tiên phong vậy.”

Thuyết gia Hoàng Văn Chí, trước khi qua đời, qua một bài báo đăng trên báo Người Việt ở Cali gần đây, đã có cái nhìn rất đúng về xã hội Việt Nam. Ông cho rằng Trung Hoa có bốn thành phần Sĩ, Nông, Công, Thương nhưng người Việt chỉ có ba: Sĩ, Nông, Công. Từ xưa ông bà ta coi nghề buôn là tiện nghệ (nghề hèn hạ) nên vào đầu thế kỷ này, nghề buôn bán hoàn toàn nằm trong tay Hoa Kiều. Thành phố nào cũng có một phố khách là nơi có đầy đủ các tiệm hàng lớn nhỏ của người Tầu. Bố tôi là một trong những người Việt đầu tiên muốn ra thoát giấc mộng hư văn, giành lại quyền kinh tế của nước mình nơi tay các khách trú hay chú khách.

Vẫn trong bài báo đó:

“… Mấy năm sau ông lại có mở một cửa hàng buôn đồ vàng bạc, tức là cái cửa hàng Nam Bảo đã có tiếng mà ông để lại cho một đồng bang kế nghiệp. Ông vốn không phải là nhà buôn, sự khai thương của ông cũng vì một cái tân tư tưởng của ông nóng nẩy quá nó xui giục ông làm vậy…”

Ông nóng nẩy thực! Theo Vũ Bằng viết trong báo Văn số 169 ra ngày 1 tháng 1 năm 1972 tại Saigon là số đặc biệt Tưởng Niệm Phạm Duy Tốn, bố tôi thủ một vai quan trọng trong vụ tẩy chay người Tầu ở Hà Nội vào lúc bố tôi là người tiên phong trong phong trào khai thương ở xứ ta:

“… Phạm Duy Tốn đã đứng trước cửa tiệm Nam Bảo phố Hàng Đào chỉ huy thanh niên chống lại đội xếp đàn áp các người biểu tình tẩy chay Hoa Kiều ăn cơm gạo của ta béo mập rồi quay lại khinh bỉ dân ta…”

Vũ Bằng còn ghi thêm:

“…Mở tiệm kim hoàn ở Hàng Đào, cụ Phạm Duy Tốn đã khéo áp dụng cái cười để quảng cáo cho cửa tiệm. Riêng về cách quảng cáo ấy cũng hết sức mới, so với lúc bấy giờ. Cụ thuyết phục được các đào kép rạp Quảng Lạc quảng cáo cho tiệm vàng của cụ. Nhiều lần người ta thấy đào Cưỡng và đào Đinh đóng tuồng Nhất Bộ Nhất Bái Phàn Lê Huê và Quan Công Phò Nhị Tẩu giơ tay lên trời nói một câu rất trơ mà cũng rất công hiệu : ”Ra hiệu Nam Bảo mua vàng đeo tay… ”

Tuy vậy, tôi phải chua xót mà nói rằng bố tôi đã thất bại lớn trong công việc kinh doanh. Khách sạn Tân Nam Lâu và tiệm vàng Nam Bảo được mở ra với ý định tranh thương với Hoa Kiều, đã không thành công. Bố tôi chết đi để lại khá nhiều những món nợ mà mẹ tôi và anh Khiêm phải mất hàng chục năm sau mới trả hết. Cần phải biết động lực nào đẩy bố tôi đi vào thương trường trong khi đáng lẽ ra ông chỉ nên đứng ở điạ vị một người cầm bút. Chỉ mãi gần đây tôi mới đọc cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Hiến Lê do Lá Bối ấn hành tại Saigon năm 1968 và nhờ đó biết thêm con người chính trị Phạm Duy Tốn. Nguyễn Hiến Lê viết:

… cụ Tây Hồ [Phan Chu Trinh] kể rõ phương pháp của Khánh Ứng nghĩa-thục [của Trung Hoa] và đề nghị lập tại Hà Thành một nghĩa-thục tương tự. Đề nghị được chấp thuận và sau một hồi bàn xét, tên Đông Kinh Nghĩa Thục được lựa chọn, mục đích được vạch rõ : khai trí cho dân. Đại cương đã vạch rồi, ít lâu sau các cụ tới hội để tổ chức nghĩa-thục và phân phối công việc. Lần này vắng mặt cụ Tăng [Bạt Hổ] và cụ Sào Nam [Phan Bội Châu], nhưng thêm nhiều nhà nho khác như Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hải Thần… và vài nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… Hết thẩy đều cử cụ Lương Văn Can làm thục trưởng… Các cụ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn tự đảm nhiệm việc xin giấy phép mở trường và tức thì thảo đơn gửi Phủ Thống Sứ…

Theo Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục được mở ra vào năm 1906 này là sự phân công giữa các nhà làm Cách Mạng, một số chủ trương bạo động, một số làm cách mạng văn hóa qua một chính sách được gọi là duy tân. Nghĩa-thục muốn đào tạo một lớp người mới không những chỉ bằng những lớp dạy những môn học mới như địa dư, toán học… mà còn cử người soạn sạch mới, soạn bài ca ái quốc, đi diễn thuyết để truyền bá tư tưởng mới. Ngoài những phong trào vận động cắt tóc, bỏ nhuộm răng, mặc âu phục, nghĩa thục còn phá bỏ cái tục khinh công thương nên lúc đó đã chủ trương chấn hưng công thương. Cụ Phan Chu Trinh là người đầu tiên chấn hưng thương nghiệp, mở Quảng Nam Thương Hội, mướn người dệt vải nội hoá. Nghĩa-thục cũng còn khuyến khích việc khuếch trương nông nghiệp, khai thác quặng mỏ nữa… Cũng cần nói thêm rằng phong trào nghĩa thục này đưa tới vụ âm mưu đầu độc người Pháp ở Hà Nội và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn đã bị bắt, dẫn vào Hà Đông (trang 121, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê).

Như vậy là nhờ tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục bố tôi nhìn thấy kẻ sĩ phải thoát ra khỏi giấc mộng hư văn để bước vào đường khai thương. Cùng là đồng chí với bố tôi trong Đông Kinh Nghĩa Thục, ông Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhìn thấy đâu là quyền lợi của dân tộc. Ông cũng bỏ cả sự nghiệp văn chương và báo chí để đi tìm mỏ vàng ở bên Lào rồi cũng chết đi cùng với giấc mộng kinh tế của mình. Hai nhà văn nhà báo này khi trở thành những Nghị Viên của thành phố là đã nhẩy ra làm chính trị để bênh vực quyền lợi quốc dân. Cả hai đều đã sớm nhìn thấy kinh tế mới là sức mạnh. Được cử đi dự Đấu Xảo ở Pháp (Exposition de Marseille – 1922) thì lại càng nhìn thấy rõ hơn sức mạnh đó. Làm báo, viết văn hay hoạt động chính trị nghĩa là khai trí chưa đủ. Còn phải khai thương nữa.

Quả rằng cả hai ông đều là những người vừa can đảm vừa ngây thơ. Can đảm ở chỗ dám làm chứ không phải chỉ dám nói, dám viết. Khuyến khích người Việt làm kinh tế qua những bài diễn văn hay qua những bài viết trên báo chưa đủ, phải tự mình nhẩy vào đấu trường. Ngây thơ ở chỗ nhẩy ngang vào thương trường mà không có vốn, không có học lực về thương mại. Người Pháp lúc đó chỉ muốn đào tạo cho người Việt trở thành những người thông ngôn, họ đâu có muốn đào tạo những người làm kinh tế? Không có vốn thì phải đi vay nợ. Hai hay ba bốn người không có kinh nghiệm thương mại, không có vốn liếng thì làm sao cạnh tranh nổi với Hoa Kiều? Thất bại là con cháu phải gánh lấy nợ nần. Bây giờ thì tôi nhìn thấy thái độ vừa hùng tráng vừa bi thảm của hai kẻ sĩ muốn trở thành thương gia để xây dựng đất nước, thái độ này đáng lẽ ra phải được nhắc tới trong bài viết mới gần đây của thuyết gia Hoàng Văn Chí, nói về sự khiếm khuyết của giới thương ở nước ta, mới chỉ có sĩ, công và nông mà thôi!

Bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ khi có bài học của hai ông Vĩnh và Tốn. Nhưng tại nước Việt Nam, qua nhiều chế độ, vẫn chưa có nhiều nhà kinh doanh lớn. Dưới thời Pháp thuộc, Hoa Kiều ở Việt Nam nắm nghề buôn là chuyện dĩ nhiên. Nhưng sau khi nước Việt Nam giành được độc lập và bị chia đôi vào năm 1954, tại miền Nam, dưới hai chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, người Tầu vẫn còn nắm việc kinh doanh dù chính phủ Ngô Đình Diệm cấm không cho họ làm 18 thứ nghề. Và kể từ 1975 cho tới bây giờ (1989) ngay trong cộng đồng người Việt ở rải rác khắp nơi trên thế giới, nghề buôn bán tiêu biểu là các dịch vụ ngân hàng, nhà đất và thực phẩm Á Đông, hình như vẫn còn nằm trong tay người Tầu cũng từ Việt Nam ra đi ”tị nạn chính trị”! Ở trong nước, Cộng Sản thành công về quân sự, chính trị. Họ hoàn toàn thất bại về kinh tế.

Bố tôi gặp khó khăn trong việc khai thương nhưng bù lại, bố tôi không bị trở ngại trong văn chương. Trước hết, ông viết những đoản thiên tiểu thuyết như Sống chết mặc bây, Con người sở khanh, Nước đời lắm nỗi (đăng trên báo Nam Phong, các số 18, 20, 23). Các nhà biên khảo như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Cổn, Vũ Ngọc Phan đều cho bố tôi là nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học cận đại.

Một truyện rất ngắn như Câu chuyện thương tâm đã khiến cho phê bình gia Thanh Lãng, sau khi gọi bố tôi là ông tổ của phong trào tiểu thuyết, viết thêm:

“Phạm Duy Tốn có một xu hướng xã hội rõ rệt, ông đứng về phía những người yếu đuối, bị bóc lột; ông đứng về phía ông cụ già kéo xe để chống lại bà phì nộn ngồi trên xe, ông bênh vực bọn dân đen sống nheo nhóc trên bờ đê Yên Phụ để phản đối thái độ vô nhân đạo của bổn quan lại ngồi trong sòng bạc.”

Bài May cho ta ca tụng một cách xỏ xiên người Pháp. Bố tôi viết rằng:

“Người Pháp qua nước ta… vì văn minh nên chỉ ăn bánh mì thôi, chớ chi mà người Nhật, người Tầu (vốn ăn cơm) đến bảo hộ dân mình thì cả nước chết đói. Thật là may cho ta quá!”

Loại hài văn của nhà văn Phạm Duy Tốn sẽ không còn tế nhị như thế nữa khi ông kể truyện tiếu lâm. Sau loại đoản thiên tiểu thuyết, bố tôi ghi chép và phóng tác những truyện cười bình dân. Truyện Tiếu lâm An Nam dùng tiếng cười để phê bình xã hội hơn là dùng tiếng khóc. Bố tôi đem chuyện tục và khôi hài ra để răn đời.

Căn nhà thấp bé ở phố hàng Dầu có một cái gác nhỏ đầy bụi bậm mà trong thời thơ ấu, tôi chỉ dám leo lên lục lọi có một đôi lần. Lần đầu vớ phải một cái đầu lâu ! ! ! Tôi sợ quá muốn ngất đi… Chủ nhân của cái sọ người đó là ông anh họ Nguyễn Ấu Thìn có thời ở trọ nhà tôi để theo học Trường Y Khoa. Mọi người trong nhà đã quên không đem chôn đồ vật thí nghiệm của anh sinh viên bác sĩ sau khi anh Thìn tốt nghiệp và không còn ở chung với chúng tôi nữa.

Trong một lần lục lọi khác, tôi tìm thấy một tập bản thảo mà giấy đã ngả sang mầu vàng có ghi lại một số chuyện tục hay quá. Tác giả là Thọ An. Vội đem xuống hỏi mẹ: “Mẹ ơi! Thọ An là ai hả mẹ?” Mẹ nói: “Là bố mày chứ còn ai nữa!”

Về sau, tôi được anh Vương Hồng Sển tặng cho bản sao của hai tập Tiếu lâm An Nam, tôi hiểu rõ hơn sự nghiệp của bố tôi. Truyện tiếu lâm là sự phản ứng của nhân dân đối với các hạng người trong bộ máy cai trị như quan huyện, lãnh binh, thầy đề, v.v..

Lúc còn bé, tôi thường được nghe câu thơ bình dân chỉ trích quan lại:

Kể truyện ông Huyện về quê
Có hai hòn dái kéo lê cùng đường
Bà Huyện tưởng hai hòn vàng
Đánh trống đánh mõ cả làng ra khiêng.

Tôi đã không sợ nói tục, lại còn thích nghe kể truyện tục. Làm sao mà tôi không khoái trí khi đọc một truyện tiếu lâm như Úm ba la ba ta cùng khỏi trong đó cái dâm đã được nói tới công khai? Thích đến độ sẽ phổ nhạc truyện tiếu lâm đó thành bài tục ca số 4. Và phục bố mình, vào thời dư luận vẫn còn rất khắt khe, đã không sợ mang tiếng khi kể những truyện tục, như truyện đặt tên cho con cái sau đây:

Ở Bắc Việt có cái tục đặt cho con những cái tên xấu vì các bậc cha mẹ tin rằng tên đặt cho con càng xấu, càng dơ thì tử thần càng chê, do đó con không chết yểu… như đặt tên con trai là thằng Cu, thằng Cò, thằng Cứt và con gái là cái Hĩm, cái Trôn, cái Đái. Vì thế có câu chuyện này:

Trong một gia đình theo tục lệ đặt tên xấu cho con, một hôm bố gọi con: “Cứt ơi! Về ăn cơm.” Em thằng Cứt trả lời: “Anh Cứt còn đi ỉa!”

Ngoài truyện tục (mà tôi không dám kể ra đây), trong sách tiếu lâm, bố tôi hay diễu cợt những người tự phụ làm thơ hay. Khi phê bình bài thơ dở, người ta thường gọi đó là thơ con cóc. Chắc người ta đã dựa vào truyện tiếu lâm này:

Có ba anh học trò thường tự phụ là thơ hay, vẫn thường than thở với nhau sợ chết non vì mạng tài tương đố. Một hôm, cả ba cùng đi với một tiểu đồng vào vãng cảnh chùa kia. Dở rượu ra uống, ba thầy xúc cảnh sinh tình, muốn làm thơ thì vừa vặn có một con cóc nhẩy ra…

Thầy thứ nhất xuất khẩu:
“Con cóc nhẩy ra”

Thầy thứ hai:
“Con cóc nhẩy vô”

Thầy thứ ba:
“Con cóc ngồi đó”

Tên tiểu đồng cũng xin lạm phần một câu:
“Con cóc nhẩy đi”

Rồi cả ba thầy cùng lăn ra khóc, sợ thơ mình hay như thế thì trời đất ghen ghét chết non. Họ sai tiểu đồng đi mua ba cái quan tài để ngộ nếu có chết thì có cái mà chôn và không quên bảo tiểu đồng mua cái áo quan thứ tư cho nó, vì thơ nó cũng hay, sợ cũng cùng chung số phận. Vào lúc đó sư cụ trong chùa nghe thấy chuyện như thế cũng móc túi lấy tiền đưa cho tên tiểu đồng:

“Mày mua cho tao một cái quan tài thứ năm. Là vì tao có lời thề nguyền : Ở trên đời này, ông mà thấy được một chuyện nực cười nhất thế gian thì ông xin chết. Bây giờ việc đó hiển nhiên rồi, tao còn sống làm sao được?”

Trong truyện ”rừng cười” này, tôi thấy luôn luôn có sự châm biếm các thi sĩ nửa mùa như vậy. Một truyện khác:

Có một ông quan võ thích làm thơ lắm. Một hôm, nhìn thấy con chó đi qua, ông nổi hứng ứng khẩu bài thơ:

Chẳng phải voi mà chẳng phải trâu
Ấy là con chó cắn gâu gâu
Khi nằm với vợ thì lại đứng
Cả đời không ăn một miếng trầu…

Anh láng giềng nịnh bợ thường được ông quan võ cho ăn uống linh đình mỗi khi anh ta khen thơ của thi sĩ nhà binh, vội vàng xin hoạ theo:

Quanh quanh đường đít lại đường đầu
Hễ thấy ai vào cắn gâu gâu
Ăn hết của thơm cùng của thối
Trăm năm chẳng được chén trà tầu…

Cũng bởi vì có một ông bố nghiêm khắc như vậy cho nên trong đời tôi có những khi tôi nổi hứng định làm thi sĩ thì tôi vội vàng bỏ ý định đó ngay. Chỉ sợ ông bố đội mồ sống dậy đưa mình vào truyện tiếu lâm!

Con người có tinh thần hài hước rất cao như vậy, trong cuộc đời rất thanh bần và nhất là vào lúc mắc phải bệnh ho lao và đang nằm chờ chết, đã được Thực Nghiệp Dân Báo vẽ chân dung một lần chót qua bài báo tin buồn:

“…Ông thiên tính khẳng khái trực triệt, đối với đồng bào tổ quốc ông chan chứa tấm nhiệt thành, tuy vì buổi đời đen bạc, con tạo đành hanh, làm cho ông nhiều phen gian nan nguy hiểm, lại bó buộc vì một chữ nghèo song cái nhiệt thành ông không khi nào nguội, cái khí khái ông không lúc nào lùi, kim tiền và thế lực ông khinh như cỏ rác vậy. Ông thường nói: Ôi nghèo thì nghèo chứ không khi nào đem chữ ái quốc làm món hàng buôn. Mấy tháng trước, anh em vào thăm ông, da xanh nhợt, vóc gầy như mai, đầu hoa lốm đốm, hơi thở hổn hển mà mắt vẫn sáng như sao mai, miệng vẫn tươi như hoa nở, khoa chân khoa tay nói chuyện quốc kế nhân sinh, nhân tình thế thái. Hỏi đến bệnh thì ông cười nói rằng : Chỉ có một chết, chứ còn gì nữa. Tôi đã biết chết từ mấy năm trước. Nhưng tôi, cái chết tôi không mong mà cũng không sợ, cơm ăn thì ăn, thuốc uống thì uống, nó chết bao giờ thì nó chết. Nghe những câu ông nói đủ biết cái tinh thần ông không hề mỏi mệt, mà cái khí khái, cái nhiệt thành của ông thực có chỗ hơn người vậy. Vì thế nên ông phát ra văn chương cũng sốt sắng và hùng kính khác thường. Ông không có những văn phóng phiếm phù hoa, đối đáp tiểu xảo, nhời kêu mà ý tưởng chẳng có gì. Nay rở những bài của ông trong các báo mà xem, nhiều bài còn thấy nhiệt huyết lâm ly, cái tính cách lăng tằng (1) hình như dũng dược (2) ở trên tờ giấy…”

Cũng như những người cùng lứa tuổi, phải sống cả đời trong một thời tao loạn, khiến mình bị đánh bật gốc ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, rồi lang thang trong nước, rồi lưu vong trên thế giới… tôi cứ tưởng chỉ có thế hệ tôi mới gặp phải gian nan nguy hiểm, cuộc đời đen bạc, con tạo đành hanh… Không ngờ bố mình đã ở trong hoàn cảnh đó rồi! Nhưng tôi rất vui lòng vì -dù chẳng được bố dạy dỗ một lần nào – tự thấy mình đã thừa kế được tinh thần của bậc sinh thành là không phóng phiếm phù hoa trong nghệ thuật, không đưa ra những soạn phẩm nhời kêu mà ý tưởng chẳng có gì và nhất là không khi nào đem chữ ái quốc làm món hàng buôn bán.

Ngồi đọc lại một vài đoạn của bài điếu văn xa xưa để viết về thời thơ ấu của mình, tôi bỗng thương xót bố tôi vô cùng vì bố tôi đã lìa đời vào lúc còn quá trẻ, mới ngoài 40 tuổi. Tôi xót xa khi thấy việc làm của ông, chẳng may nước nhà gặp thời ly loạn kéo dài mấy chục năm, chỉ được nhắc nhở một cách thoáng qua. Chỉ có một số báo tưởng niệm Phạm Duy Tốn là báo Văn ra ngày 1-1-1971 ở Saigon.

Tôi xót xa nghĩ tới xã hội ngày xưa với những cảnh thương tâm mà bố tôi đã phác hoạ, rồi nghĩ tới xã hội của thời tôi còn thơ ấu, biết yêu Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang… cũng vì các vị đàn anh, với cặp mắt Nguyễn Du, trước những điều trông thấy mà đau đớn lòng, đã tiếp tục làm công việc phê bình xã hội như bố mình. Nghĩ luôn tới hoàn cảnh xã hội của thời tôi bước vào đời, gặp gỡ và sống thực sự với rất nhiều cảnh thương tâm, chứ không còn ngồi yên một chỗ để đọc truyện thương tâm nữa. Rồi thấy rằng chỉ có một khoảng thời gian 10 năm để cho xã hội Việt Nam tốt đẹp và lành mạnh vì toàn dân chấp nhận gian khổ, đoàn kết đánh đuổi thực dân. Tới khi nước nhà bị chia đôi thì ở một miền, bực thang xã hội được thu tóm trong câu châm ngôn nhất đĩ, nhì cha, ba sư, bốn tướng… người hùng trong trắng – nếu có – dù đầy thiện chí cũng khó lòng vào ngồi chung với những kẻ ăn cướp của công được. Một miền khác, chỉ có khẩu hiệu ra ngõ gặp anh hùng được áp đặt lên đầu toàn dân mà không hề có chủ trương ra ngõ gặp người hiền.

Xót xa cho 20 năm chiến tranh, xã hội Việt Nam băng hoại vì tiền bạc và vũ khí mà ngoại nhân đổ vào nước ta để ”nhờ” ta giải quyết hộ mâu thuẫn của cường quốc. Tới khi sạch bóng quân thù và trả giá bằng núi xương biển máu rồi thì cả nước lâm vào cảnh nghèo khổ, xã hội đã đổ vỡ lại thêm suy thoái. Tại sao vậy? Có phải vì thế hệ đi trước không để lại cho con cháu cái phẩm giá làm người và những trách nhiệm xã hội? Để lại cho em này nước non mình ra làm sao mà vào năm 1988 vừa qua người lãnh đạo phải thốt lên: ”Việt Nam đang ở trên bờ vực thẳm?”

May thay vẫn còn có những văn nghệ sĩ muốn và dám cảnh tỉnh xã hội. Nhà đạo diễn điện ảnh vác máy quay phim đi tìm người tử tế, tiếp tục sự đi tìm người chân thật mà một nhà thơ đã nêu lên từ mấy chục năm trước. Nhà văn hay nhất của thời đại — đối với tôi — qua một số truyện ngắn (đã gây ra nhiều cuộc tranh luận ở trong nước) tố cáo bộ mặt xấu của chế độ bao cấp trong xã hội Việt Nam hiện nay. Một nước thực thi chủ nghĩa xã hội mà lại làm cho xã hội suy thoái nhanh chóng như vậy, thật là đau lòng! Đau lòng hơn nữa vì, với những điều trông thấy của cả đời mình, trước đây có định học mót người cha và những đàn anh văn nghệ, đưa ra mười bài tâm ca và mười bài tục ca để cống hiến xã hội thì bị ngộ nhận.

Đã 40 năm nay, tôi không được về thăm cái nôi của gia đình họ Phạm. Không biết nấm mồ bố tôi nằm tại làng Phương Liệt, Hà Đông có còn nguyên vẹn không, sau bao nhiêu năm chiến tranh. Có một vài độc giả vô danh nào tới nghiêng mình trước ngôi mộ nhà văn xã hội đầu tiên của nước Việt Nam không? Có còn đứa cháu, đứa chít cực kỳ nghèo khổ nào thay mặt chúng tôi tới thắp nén hương trên mộ ông hay không, khi ông chỉ còn hai đứa con già nua (tôi và bà chị 80 tuổi) đang sống lạc lõng nơi đất khách quê người? Bao giờ tôi được về nước để đứng chắp tay trước ngôi mộ của người cha mà tôi đã càng ngày càng cảm thấy gần gụi hơn qua những trang hồi ký này.

Để kết thúc cho chương Sách viết về người cha mà nếu được sống với nhau thì tôi phải gọi bằng cậu và tự xưng là em (cái tục lệ kiêng không gọi bố con này cũng không ngăn được sự chia lìa sớm sủa của cậu và em), xin chép ra đây những lời cuối của bài điếu văn đăng trong Thực Nghiệp Dân Báo:

“…Ôi! Núi Nùng Sông Nhị, khí thiêng đúc lại một người; nước Nhược non Bồng, cõi lạc trông vời muôn dặm. Văn đành bất hủ, người đã tràng từ, giấy ngắn tình dài, mây bay nước chẩy ! Ô hô!”

good-heart-khai-hung

Good heart, Khái Hưng

A short story by Khái Hưng,
translated by James Banerian

Nhan climbed out of the family car, a leather briefcase under his arm. He turned toward the edge of the field, then followed the narrow path between two sparse rows of bamboo dotted with golden leaves.

Here and there along the way he turned to ask the servant coming with him, “Are we close?”

“Not too far, sir.”

Nhan was a former university student. First he had studied at the medical school, but twice he failed in his pre-med exams. Frustrated, he gave up medicine for law and wasted two more years of effort. To say he wasted his time studying would be a bit of an exaggeration. In fact, he did little studying at all. Only as the test dates approached did he open his law books and his appearance at the examinations was more for form’s sake so that his parents could not claim that he was using his education money to go carousing in Hanoi.

His father, Clerk Phan, had sold government-approved alcohol for nearly twenty years and thus had become the wealthiest man in the area. [1] In all the prefectures and subprefectures around the county seat, rarely did one come upon a place where Clerk Phan did not own some property. Debtors and those who had pawned him their goods numbered in the hundreds, the thousands, and they daily came to see him at home, just as people might go to the mandarin court in the prefect town.

Clerk Phan paid for his son’s education. After eight years of residence at the Albert Sarraut High School, Nhan had received his baccalaureate. The clerk was quite pleased and went all over bragging about his boy. He even held a lavish dinner to celebrate in the village, complete with butchered cow and buffalo. He placed all his hopes in his son. Surely he would see to it that the boy became a mandarin.

But ever since he was a child, Nhan had received the education and training of Europe and the West and had lived with youths of the modern era Consequently, the ideas he developed were liberal and plain, completely contrary to the bourgeois, narrow and deficient ideas of his parents. After two months of insistent begging and pleading for permission from them to enter medical school, he gained their approval. He was happier than the day he passed his baccalaureate. Not because he wanted to study medicine or felt that curing the sick was a finer vocation than any other. Rather, Nhan simply wished to rebel against the wishes of his parents, who he felt were stubborn and incorrigible.

When Nhan quit medical school for law, it was his father’s turn to be happy. Clerk Phan believed it was the hand of Heaven acting and from then on his son would enter a political career and gain renown for his family and village.

But after forcing his son to follow his own grand aspirations and expending nearly 10,000 piasters while not seeing even a ray of hope, the clerk regretted his losses and began to think his family did not have what it took to make an official. As for Nhan, he simply grew weary of both study and horseplay. Eventually he returned home to live with his parents.

In time he became imbued with the habits of those who lived around him. After a couple of years, there was nothing left of his education and Western learning. His liberal and plain thoughts, when set in a traditional environment, diminished, changing so much that eventually they disappeared entirely.

Now Nhan was no longer concerned about his search for the truth. He no longer winced as he witnessed the inhumane actions of his parents or felt troubled in the soul as he once had.

Two years before, when he began keeping the books and overseeing his father’s business, not a day went by when Nhan did not cause a disturbance or quarrel in the family. Watching his father lend at an outrageous interest rate and cheat the poor who came to pawn their property, Nhan made many suggestions, and when that proved futile, he raised his voice.

Ah, but in only two years he was already a totally different man, from his character to the way he lived and acted. His wife, a loose girl from Hanoi he had married for her looks, was cultivated by her environment until she became frugal, fat and slovenly, her looks fading, her clothes a combination of city and rustic styles. But Nhan did not notice these changes in his wife and he forgot how just five years before this woman had utterly captivated him. Now he seemed not a bit captivated with anything, but rather, indifferent to all that happened, so much so that he no longer cared to distinguish between good and evil, and he often committed offenses which previously he would never have allowed his father to perform.

Noticing his son’s change in character, Clerk Phan beamed.

“You thought his schooling was so rough,” he said to his wife. “But now he’s learned and achieved something. He ought to find business a snap!”

From then on, Clerk Phan placed his confidence in his son. For any difficult task that could not be trusted to his servants, the clerk called on “Uncle Number 4.” And receiving his parents’ praise and flattery, Nhan went further down the road that his father had traveled blindly for twenty years of his adult life. Oh, a couple of times those liberal, free and easy thoughts from days gone by flashed into Nhan’s mind, but they soon dissipated in the practical realities of doing a job and making a living.

One day Clerk Phan sent his son to collect alcohol money at a small shop. He had already given the job to a servant, but two trips had brought no results. He said to Nhan, “I have to rely on you to get it done. Demand the debt of 200 piasters for your father. If they don’t have the money, then make them sign a deed selling their land to us cheap. That’s all I don’t have to tell you. You’ll do what needs to be done”.

Nhan assented and left Going to the alcohol shop in the county seat and finding out that the manager was gone, he told the driver to take him straight to the man’s village.

***

Three mottled dogs ran out barking. They came at the heels of a man in his forties, with a gaunt face, pale complexion, and sunken eyes, looking every bit like a debtor whose time had come when he had no way to come up with the money.

Meeting Nhan so suddenly, the man’s face paled even more. In all those parts, who did not know the notorious reputation of Clerk Phan’s son? Nevertheless, the man forced a smile and invited Nhan into his home.

Without malice, Nhan spoke easily and curtly.

“I’ve come to collect the alcohol money.”

The debtors face contorted as he described to Nhan his family’s predicament- their girl was ill, they had just been robbed of more than 100 piasters… His wife stepped in from the next room, weeping and entreating.

Meanwhile, Nhan’s eyes coldly and aimlessly wandered to the family’s bamboo bed with brown curtain, old and patched with pieces of Western cloth, a wobbly table and two long bamboo chairs eaten away in places by termites. The stink of the curtain, the musty odor of the damp ground, and the smell of smoke from the kitchen did not cause Nhan to frown in disgust If he had been in this circumstance two years earlier, he would have shut his nose and run away, troubled about the poverty and squalid lifestyle of the peasants. Today as he looked around, he was used to it all.

Waiting until the couple had finished speaking, Nhan politely repeated his first statement

“I’ve come to collect the alcohol money.”

Then he continued.

“Five hundred was borrowed, less 300 in security, leaves 200.”

In distress, the man and his wife begged and explained once more. Nhan remained unmoved. More than that, he did not seem to hear anything, his eyes cold and lips twitching in a sneer.

“If you don’t have the money, then write up a contract to sell your estate. Here’s the paper. Write it out and I’ll take it to the mayor and get it notarized. Once the contract is finished, tomorrow you will have alcohol to sell.”

Realizing that they could not move Nhan’s heart of stone, the couple looked at each other and streams of tears flowed from their eyes. These tears were sincere and spontaneous, not forced to implore the compassion of their creditor. Suddenly from behind the brown curtain came the sound of weeping and the cry of a girl awakened abruptly in fright The mother ran over to the bed and held the child in her arms.

“Oh, my! I know you are hungry. My baby is sick!”

“How’s that?” asked Nhan stiffly. “If I leave today empty-handed, it won’t matter. In a couple of days I’ll send the alcohol owner back to confiscate your house and fields.”

The seller’s face fell.

“I beg you, sir. Have pity- “

“Pity?” Nhan interrupted him. “I pity no one”

Then he jumped to his feet and stormed out of the house.

The man and his wife, still holding the child in her arms, followed him outside pleading.

At that moment, a girl appeared at the gate. She had a pleasant, rosy face topped by a silk scarf, her form comely and well-proportioned in a country dress of four pieces dyed brown.

Nhan stopped in his tracks and looked at her. The pretty looks and youth of the country girl awakened in him the feelings and sentiments of the past All at once Nhan saw the sordidness, the degradation and the pettiness of the world in which he was living.

The girl bowed shyly, her cheeks flushed.

“How is it, daughter?” asked the alcohol seller.

“How is it, Nam?” echoed his wife.

The girl, Nam, twisted the long trailing ribbons of her bodice, moving them from one hand to the other as she answered softly.

“She said it’s not ready yet.”

Nhan looked at all three and asked the mother, “Your daughter?”

“Yes,” the woman replied. “My oldest This year she’s 18….”

Then she stared at her husband in silence. The man’s face appeared thoughtful.

“Nam can stay out here,” he told his wife. “I need you inside for a moment.”

The two passed through the gate, leaving their daughter alone in the yard with their creditor’s son.

Nhan fixed his eyes on the girl and did not notice that the others had gone Seeing that Nam wanted to run away, he called to her.

“Say there!”

He stood there quietly, smiling. She turned her face away in shame.

“Where have you been, Nam?”

Perhaps the girl suddenly thought she could save her parents, for she looked up with a smile and answered boldly.

“Sir, I went to borrow money for my mama and papa, but it was no good.”

Then Nhan remembered the debt and the man and his wife He looked around anxiously.

“Where are your parents?”

“Sir, they left.”

Nhan was startled as he realized how they were using their pretty daughter to try and influence him. And in an instant he saw the abhorent cruelty of the man who owed a debt along with the disgusting pettiness of the man to whom it was owed.

Coldly, he opened his briefcase and handed Nam a note for the debt payment and a permit to purchase alcohol from his house. Then he hurried back to his car.


[1] During the French occupation, the colonial government oversaw a monopoly on opium, alcohol and salt- two forced vices and one dire necessity of the colonized people.

Photo: Réunion de Femmes by Joseph Inguimberty