Posts by Trịnh Nhật Tuân

Blogger
schopenhauer-the-fourfold-root-of-the-principle-of-sufficient-reason

Schopenhauer, The fourfold root of the principle of sufficient reason

The principle of sufficient reason is simple as this: For any given fact or true proposition, there exists a reason behind, although some of those reasons we have not yet come to know, or may never know; or in other words: “Things exist for a reason”.

Once this principle is applied to a field of inquiry, it follows that that field could be understandable. If we apply it to the field of possible human experience, we assume that human life is not absurd, but rational. And if some proposition do not have any possible reasons (i.e., “God exists”) in its supports, then the proposition cannot be true.

On the constructive side, when in order to explain something, several conditions must obtain: (1) There must be a subject, or someone who is seeking an explanation; (2) There must be something that that person wants to explain; (3) In order for the explanation to be legitimate, it must necessary, not arbitrary or merely tentative.

And Schopenhauer argues there must be some presuppositions for this principle to be applicable: (1) the subject-object distinction, which when present, entails the appearance always of both a subject and an object in relation to each other, and (2) links between the components of the explanation that are necessary, for if the linkages are not necessary, then there is no true explanation. If there is no subject who seeks an explanation, then there can be no object of awareness to be explained. When there are subjects who are aware of objects, then these objects of awareness are “representations” (vorstellung), or mental images. Conversely, if there is an object, or representation, then there must be a subject in which that representation appears.

This is the “root” of the principle of sufficient reason which Schopenhauer wants to exhaust all kinds of necessary connection between subject and object backing the principle. However, he came to believe that the foundation had not yet been well defined, for the preceding history of philosophy always contained the uncritical assumption that “reason” is a single concept, equally applicable in all kinds of circumstances. Schopenhauer maintains, though, that the concept of “reason” is like the concept of “triangle”: if there is a triangle, it exclusively must be equilateral, isosceles, or scalene. Thus, there must be different “kinds” of reason.

Schopenhauer accordingly identifies four kinds of reason and four kinds of corresponding objects that can operate within explanation exclusively. We can be interested in:

(1) explaining the conditions of physical things, for which causal explanation is appropriate

(2) explaining relationships between concepts, for which logical explanation is appropriate

(3) explaining relationships between numbers, formulae, or geometrical figures, for which mathematical/geometrical explanation is appropriate

(4) explaining motivations, inner drives, or the presence of subjective states of mind, for which motive-referring, psychological explanation is appropriate.

Once we choose the kind of object to be explained, we must hold fast to the kind of explanation that is appropriate to that kind of object and resist introducing styles of reasoning that are appropriate to other kind of object. I.e., one would not genuinely explain why a person felt that he or she should pay a debt and acted accordingly to pay the debt, by referring to neurological firings in the person’s brain that correlated with the action. This example involves confusing causal explanation with psychological explanation.

With this foundation, Schopenhauer criticizes the illegitimacy in the works of many philosophers, especially in the acceptance of the ontological argument for God’s existence, which he regards as based on exactly the kind of confusion he is urging his readers to guard against. The ontological argument starts with mere conceptual definitions (viz., “God is a being than which no greater can be conceived”) and concludes dramatically by positing an existent being (viz., “God exists”). According to Schopenhauer, this confuses logical explanation with causal explanation.

Schopenhauer is emphatic about restricting the scope of the principle, and argues that it can be used to refer to the entire set of necessary connections for human experience that Kant describes. For Kant, these are space, time, and twelve pure concepts of the understanding. For Schopenhauer, there are space, time, and the single concept of understanding that he continues to recognize, namely, the concept of causality. In either inventory, these forms are ascribed to the human mind exclusively, and they define our capacity to know things scientifically. They are not features of the world as it is in itself, but are only features of our human way of knowing. Schopenhauer consequently refers to the principle of sufficient reason as one that generates for us the illusory world of space, time, and objects that interact with each other in a thorough going causal mechanism.

o-doi-nhu-mot-nha-tho-dong-phuong-1

Ở đời như một nhà thơ Đông phương

Nguyễn Bắc Sơn, trong Chiến tranh Việt Nam và tôi (Đồng Dao xuất bản, Saigon, 1972), viết:

Người đó chú trọng vào sự “đối trọng” trong nhan đề Chiến tranh Việt Nam và tôi, hẳn vì một điều gì rất liên quan đến Cioran’s The World and I trong On the heights of despair.

Bài thơ trên này, Những năm tâm hồn còn trữ tình điên mê vì thi ca triết học, có lẽ đã phác thảo những ngày tháng mà Nguyễn Bắc Sơn bị câu thúc bởi câu hỏi “con người sinh ra để làm gì” để rồi quyết định nghỉ học vì không một vị giáo sư nào trả lời được cho ông thỏa mãn câu hỏi đó.

Nhưng mà vì sao lại phải đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó? Nguyễn Bắc Sơn đáp: “để sống yên tâm”. Phải chăng, hơn mọi con đường giáo khoa hay tranh luận để tìm về triết học, con đường của suy nghĩ trong lúc sống mới là con đường chân thành và chững chạc nhất?

Nhưng rồi, vì sao sau đó Nguyễn Bắc Sơn không còn “điên mê vì thi ca triết học nữa”? Phải chăng vì ông đã thấy zen và chấp nhận sống ở đời như một nhà thơ Đông phương? Nhưng một nhà thơ Đông phương thì khác một nhà thơ Tây phương thế nào?

Điều này có liên quan thế nào với nhận định cho rằng, Schopenhauer giống như một người phương Đông lạc giữa thế giới triết học phương Tây?

Nguyễn Bắc Sơn viết:

Hãy đuổi hết ra cõi đời mình những kẻ
Tưởng rằng mình là những đấng thần linh
Buổi chiều kia ta thấy mình bé nhỏ
Thèm vô cùng bóng mát khóm cây xanh

Và Hồ Hữu Tường thì kể Phan Văn Trường chê tất cả triết gia Tây phương, kể cả Marx:

Bọn nó vì tự cao ám thị mà chẳng chịu ngó đến văn hóa Đông phương, thành chui rút vào tháp ngà, không có một cái nhìn thống quan. Riêng có anh chàng Schopenhauer khiêm tốn, đọc sách Phật, nên tác phẩm của y đọc dễ chịu hơn.

Không biết là, Nguyễn Bắc Sơn khi yên vị làm một nhà thơ Đông phương, ông đã yên tâm sống hơn chăng?

Danh mục bài viết trên tạp chí Sáng Tạo

Số đầu tiên của Sáng Tạo xuất bản vào tháng 10 năm 1956. Trên bìa ghi chủ trương và biên tập là Mai Thảo. Tòa soạn và trị sự tại số 133B Ký Con, Sài Gòn. Sáng Tạo viết về nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khảo luận cho đến sáng tác văn thơ, biên dịch, âm nhạc, sân khấu, hội họa và phê bình.

Số 1 (10-1956)

Mai Thảo, Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam

Nguyên Sa, Kiến thức rộng và chuyên môn

Lê Văn Siêu, Quán cháo lú

Mặc Đỗ, Công việc dịch văn

Lê Thương, Nguyên lý âm nhạc trong căn bản ngôn ngữ

Vũ Khắc Khoan, Sân khấu và vấn đề xây dựng con người

Thái Tuấn, Một vài nhận xét về nghệ thuật hội họa

Nguyễn Sỹ Tế, Quan niệm nhận thức Nguyễn Du

Số 2 (11/1956):

Lê Văn Siêu, Thử định nghĩa văn hóa

Hoàng Thái Linh, Giáo dục: giải phóng hay áp bức?

Doãn Quốc Sỹ, Dân tộc tính trong cổ tích Việt Nam

Vũ Khắc Khoan, Ba người bạn

Thanh Tâm Tuyền, Sự tầm thường cần thiết ngày khai trường

Tô Kiều Ngân, Mùa xuân nhớ người

Thơ tự do của Trần Thanh Hiệp – Nguyên Sa – Quách Thoại

Nguyên Sa, Kinh nghiệm Hemingway

Mặc Đỗ, Đọc La Chute của Camus

Duy Thanh, Trường hợp Picasso

Số 3 (12-1956):

Lê Văn Siêu, Thử định nghĩa văn hóa (II)

Đào Sỹ Chu, Hội họa Trung Hoa

Lê Thương, Tìm đường sống cho âm nhạc

Mai Thảo, Những ngón tay bắt được của trời

Duy Thanh, Khép cửa

Thơ tự do của Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền

Nguyễn Sỹ Tế, Ý thức siêu nhân trong thơ văn Nguyễn Công Trứ

Nguyên Sa, Hồ Xuân Hương người lạ mặt

Qua các bộ môn văn nghệ: Hàm Thạch về Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền, Trần Lê Nguyễn về Thành Cát Tư Hãn của Vi Huyền Đắc, Nguyên Sa về Trang Tử Tinh Hoa của Nguyễn Duy Cần, Trường Giang về Hội nghị quốc tế về thơ tại Bruxelles

Số 4 (1-1957)

Nguyễn Sỹ Tế, Thần trí và hồn tính dân tộc Việt Nam

Thái Tuấn, Siêu thực và ấn tượng

Tô Kiều Ngân, Khảo về hò Huế

Doãn Quốc Sỹ, Một nền Đại Học Việt thuần túy

Thái Bạch, Ca dao miền Nam

Trần Thanh Hiệp, Hai lần nhìn một Calcutta

Tạ Tỵ, Thu trên đất Lào

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp

Nguyên Sa, Cái chết của người thi sĩ

Trần Văn Hiến Minh, Vấn đề thống nhất ngôn ngữ

Qua các bộ môn văn nghệ: Duy Thanh về triển lãm hội họa và sơn mài do Hội văn hóa Việt Nam tổ chức; Hàm Thạch về Sợ lửa của Doãn Quốc Sỹ; Trần Lê Nguyễn về kịch Từ nước ngoài đến nước mình; Trường Giang về giải thưởng văn chương 1956 – Hội liên hiệp những nhà văn tự do – giải thưởng nghệ thuật quốc tế lần thứ 28 tại Venise.

Số 5 (tháng 1 và 2 – 1957)

Sáng Tạo, Lời tòa soạn gửi bạn đọc

Doãn Quốc Sỹ, Cánh đồng xanh

Thanh Tâm Tuyền, Bài ngợi ca tình yêu

Thanh Nam, Người trong tranh

Đinh Hùng, Khi mới nhớn

Nguyên Sa, Lớp học mùa xuân

Duy Thanh, Đống rác

Trần Thanh Hiệp, Himalaya

Quách Thoại, Giấc ngủ đêm xuân

Tô Kiều Ngân, Hội mùa xuân

Trần Lê Nguyễn, Các em đi về mai sau

Tạ Tỵ, Người trước cửa

Vũ Hoàng Chương, Bao giờ có nguyệt

Người Sông Thương, Niềm bí mật của đời nàng

Nguyên Sa, Bài hát Cửu Long

Mặc Đỗ, Khung cửa mở

Huy Quang, Đất quê hương

Mai Thảo, Chuyến đi cuối năm

Số 6 (3-1957)

Lê Văn Siêu, Phong độ văn hóa

Nguyên Sa, Triết học là gì?

Doãn Quốc Sỹ, Chiếc chiếu hoa cạp điều

Lý Hoàng Phong, Cái nhìn

Mặc Đỗ, Nem Hiaba Haltak Meg!

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, Người Sông Thương, Quách Thoại, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên

Trần Thanh Hiệp, Để giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn Trường Tân Thanh

Nguyễn Sỹ Tế, Khuynh hướng siêu thoát trong văn chương Việt Nam

Qua các bộ môn văn nghệ: Hàm Thạch về Tiếu lâm tân thời của Ba Vui; Trần Lê Nguyễn về phim Đất lành; Trường Giang về các tin văn nghệ quốc tế; Thái Tuấn và vài nhận xét về triển lãm Tạ Tỵ

Số 7 (4-1956)

Trần Thanh Hiệp, Vấn đề định nghĩa triết học

Thái Tuấn, Hội họa sẽ đi về đâu

Nguyễn Phụng, Giáo dục âm nhạc trong lĩnh vực kỹ thuật học vụ

Mai Thảo, Cửa hiệu tạp hóa

Tạ Tỵ, Nửa đêm về sáng

Doãn Quốc Sỹ, Cái chết của một Người

Thơ tự do của Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, Duy Thanh, Tô Thùy Yên

Thanh Tâm Tuyền, Trèo lên cây bưởi hái hoa

Nguyễn Sỹ Tế, Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng về Vượt sóng, thơ Phan Minh Hồng; Duy Thanh về triển lãm của Shungo Kekiguchi; Trường Giang về tin quốc tế; Mai Thảo về truyện ngắn Chữ tình của Võ Phiến

Số 8 (5-1957)

Trần Thanh Hiệp, Vài điểm gợi ý về thơ tự do

Duy Thanh, Nói về hội họa

Nguyên Sa, Vấn đề triết học căn bản

Tô Kiều Ngân, Về một ánh nắng

Vĩnh Lộc, Mái nhà

Người Sông Thương, Người bỏ quên

Lý Hoàng Phong, Con sông

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên

Nguyễn Sỹ Tế, Vấn đề phân chia thời đại và khuynh hướng văn học Việt Nam

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng phê bình Xác lá hừng thu, thơ Diên Nghị; Trường Giang về tranh áp phích và các giải thưởng – Chung quanh cuộc đời Van Gogh – Triển lãm Picasso; Hầu Anh về Nhà văn Hervé Bazin và một triệu quan – Đại hội điện ảnh lần thứ 18 tại Venise; Thanh Nam và một vài ý kiến về U hoài của Doãn Quốc Sỹ

Số 9 (6-1957)

Nguyên Sa, Con đường triết học

Thái Tuấn, Hội họa cổ điển

Nguyễn Phụng, Dân ca: một yếu tố phân loại của việc giáo dục

Doãn Quốc Sỹ, Gìn vàng giữ ngọc

Mai Thảo, Những vì sao thứ nhất

Thơ tự do của Thạch Chương, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Duy Thanh

Nguyễn Sỹ Tế, 1802

Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Khuyến thi sĩ của đồng quê nước Việt

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng giới thiệu sách mới, Một nhân chứng của Vương Văn Quảng, Chiều cuối năm của Đỗ tấn, thực hiện cuốn phim Tiếng chuông Thiên Mụ; Trường Giang về chín bức tranh mới của Cézanne – Một cuộc triển lãm hội họa Á Châu; Hầu Anh về triển lãm tranh kiếng của Văn Huê.

Số 10 (7-1957)

Lê Văn Siêu, Chôn sống các tôn thất nhà Lý

Hoàng Thái Linh, Văn chương và siêu hình học

Lê Cao Phan, Sự tiến triển của ngành âm nhạc thiếu nhi

Nguyên Sa, Lò luyện người

Doãn Quốc Sỹ, Trạng Quỳnh đi sứ

Vĩnh Lộc, Mùa thu lá vàng

Khai tử một bản Anh Hùng Ca, Thơ của Thanh Tâm Tuyền

Nguyễn Sỹ Tế, Tinh thần văn học đời Lê Thánh Tôn hậu bán thế kỷ XV

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng giới thiệu sách mới, Thơ Bàng Bá Lân, tiểu thuyết Người đi qua lô cốt của Tô Kiều Ngân, Đường thi của Trần Trọng San; Trường Giang, qua các cuộc triển lãm ở Sài Gòn

Số 11 (8-1957)

Doãn Quốc Sỹ, Nền đại học văn khoa Việt Nam

Trần Thanh Hiệp, Nguồn rung cảm trong văn nghệ Ấn Độ

Nguyên Sa, Triết học của Kant

Vũ Khắc Khoan, Một khía cạnh tâm sự của Ôn Như Hầu

Thái Tuấn, Nhận xét về hội họa trừu tượng

Người Sông Thương, Chuyến xe lô

Đoản văn của Thanh Tâm Tuyền, Kiêm Minh

Lý Hoàng Phong, Ngoài hàng dậu

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Duy Thanh, Cung Trầm Tưởng

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng về xưởng kịch của những người yêu kịch; Quan Sơn thêm một ý kiến về cuốn văn học Việt Nam thời Lý của Lê Văn Siêu; Trường Giang về khai mạc xưởng họa Tú Duyên, triễn lãm tranh thuốc và bột màu của bà Wainright; Hầu Anh về Con bọ hung vàng, truyện của Edgar Poe, nghệ thuật nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Dân

Số 12 (9-1957)

Bản lên tiếng chung của tám tác giả Việt Nam (Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Vũ Khắc Khoan)

Nguyên Sa, Triết học của Kant II

Lê Văn Siêu, Biên kinh trên lá chuối

Hoàng Thái Linh, Thông cảm

Thái Tuấn, Thái độ cần thiết khi xem tranh

Người Sông Thương, Người lữ khách trong thành phố chúng ta

Doãn Quốc Sỹ, Trăng sao

Tô Thùy Yên, Đám cưới

Thanh Nam, Con mèo hoang

Thơ tự do của Nguyên Sa, Duy Thanh, Sao Băng, Thủy Thủ

Qua các bộ môn văn nghệ: Mai Thảo giới thiệu sách mới, Ai có qua cầu của Hoài Đồng Vọng; Hầu Anh về Tặng phẩm của trùng dương của Anne Morrow Lindbergh; Mặc Đỗ đọc Nam et Sylvie của Nam Kim; Nguyễn Đăng về Chống mác xít của Nguyễn Kiên Trung

Số 13 (10-1957)

Mai Thảo và một vài ý kiến gửi bạn đọc

Doãn Quốc Sỹ, Góp ý kiến xây dựng quốc học

Nguyên Sa, Triết học và ngôn ngữ

Trần Thanh Hiệp, Điện ảnh quốc tế và Việt Nam

Nguyễn Sỹ Tế, Sự tích Đông phương

Nguyễn Phụng, Ca khúc bình dân và dân ca

Thanh Tâm Tuyền, Isabelle

Lôi Tam, Cách biệt

Thơ tự do của Nguyên Sa, Ngy Cao Uyên, Thạch Trân, Vương Tân, Nguyễn Thanh Giá

Qua các bộ môn văn nghệ: Hàm Thạch về bức tranh Cây văn hiến của Lê Văn Siêu và Tú Duyên; Trường Giang về triển Lãm của Trần Văn Thọ; Nguyễn Đăng giới thiệu sách mới, Nội cỏ của thiên đường, truyện dịch của Vĩnh Sơn Lang, Chiếc áo thiên thai, tập truyện ngắn chọn lọc của nhà xuất bản Hướng Dương, số phụng sự đặc san văn nghệ quân đội

Số 14 (11-1957)

Nguyễn Sỹ Tế, Văn chương cổ điển Việt Nam

Nguyên Sa, Nhận định đại cương về triết học hiện hữu

Thái Tuấn, Tìm hiểu hội họa mới: Trường Biểu Hiện

Trần Thanh Hiệp, Những người đi trong tình cờ

Mặc Đỗ, Một buổi họp mặt

Doãn Quốc Sỹ, Đoàn quân xung phong

Hàn Sinh, Người bạn cũ

Thao Trường, Hương gió lướt đi

Thơ tự do của Nguyên Sa, Sao Băng, Vương Tân, Thạch Trân

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng giới thiệu sách mới, Tiếng võng đưa, thơ Bàng Bá Lân, Tình thương dạ lý của Nhà xuất bản Hướng Dương, Tuyển tập Tình thương của U.B.C.Đ.C.D.T.C. Bộ Quốc Phòng; Mai Thảo về Đi tìm một căn bản tư tưởng của Nghiêm Xuân Hồng; Hầu Anh về triển lãm Thuận Hồ; Trường Giang về trưng bày họa phẩm ở hội chợ triển lãm Thị Nghè.

Số 15 (12-1957)

Nguyễn Sỹ Tế, Văn chương cổ điển Việt Nam

Nguyên Sa, Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do

Lê Văn Siêu, Trả lời Ngô Quân về sách Nếp sống tình cảm

Thái Tuấn, Loại tranh mộc bản Việt Nam

Thái Bạch, Thơ trào phúng miền Nam

Doãn Quốc Sỹ, Đoàn quân xung phong II

Phạm Nguyên Vũ, Nước mắt

Thơ của Duy Thanh, Tô Thùy Yên, Nhị, Phạm Nguyên Vũ

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng về sách mới, Bốn mươi của Mặc Đỗ, Người nữ danh ca và hồng ngọc của Thanh Nam: Đoàn kết luận của Thái Lãng  Nghiêm; Trường Giang về các cuộc triển lãm hội họa ở Saigon, Lập một phòng triển lãm thường trực.

Số 16 (1-1958)

Nguyên Sa, Vấn đề Thượng Đế trong văn chương Việt Nam

Nguyễn Đình Hòa, Phương pháp học và dạy sinh ngữ

Lữ Hồ, Thơ, tục: Hồ Xuân Hương

Duy Thanh, Nói về hội họa

Thái Bạch, Đỗ Minh Tâm, một nhà thơ trào phúng

Doãn Quốc Sỹ, Căn nhà hoang

Thao Trường, Hai thế kỷ

Kỷ niệm Quách Thoại:
Quách Thoại, Thơ
Thanh Tâm Tuyền, Thoại ơi! Thoại ơi! Không biết khóc

Qua các bộ môn văn nghệ: Quan Sơn về Nguồn sáng mới của Trí Siêu Tuệ Quang; Huỳnh Văn Phẩm về triển lãm Thái Tuấn, triển lãm thường niên hội họa và sơn mài của Hội Văn Hóa Việt Nam, Triển lãm Beky; Nguyễn Đăng về sách mới, Người tù của Võ Phiến, Những năm trưởng thành của Van Wyck Brooks, bản dịch của Từ An Tùng, Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân

Số 17, số Xuân Mậu Tuất (2-1958)

Nguyễn Sỹ Tế, Kinh thành

Nguyên Sa, Người con gái trong truyện Liêu Trai

Vũ Hoàng Chương, Tuổi xanh

Quách Thoại, Chiều tiễn biệt, trăng thiếu phụ

Trần Lê Nguyễn, Ngày tháng rời của cuộc đời

Trần Thanh Hiệp, Tuổi trẻ

Đinh Hùng, Thảo dã, xuân tình

Mai Thảo, Căn nhà vùng nước mặn

Thanh Tâm Tuyền, Ba chị em

Kiêm Minh, Về trường hợp một đôi môi

Người Sông Thương, Nhớ biển

Duy Thanh, Thơ của một người

Vĩnh Lộc, Ánh trăng trên sông

Doãn Quốc Sỹ, Hồ Thùy Dương

Vương Tân, Làm thi sĩ không tên không tuổi

Tô Thùy Yên, Ký thác

Duy Thanh, Giấc ngủ

Thanh Nam, Người đóng kịch

Phạm Nguyên Vũ, Ngoài vườn xuân

Trần Lê Nguyễn, Giao duyên

Huy Quang, Sau mười năm

Tô Kiều Ngân, Thư quê hương

Trần Thanh Hiệp, Bài chiến ca ánh sáng

Lý Hoàng Phong, Tình ca

Lữ Hồ, Chung quanh một tin vặt

Tô Thùy Yên, Sài gòn, ngày…

Tạ Tỵ, Cuốn sách tặng

Số 18 (3-1958)

Mai Thảo, Về một hiện tượng trưởng thành của nghệ thuật

Nguyễn Sỹ Tế, Sĩ phu Việt Nam trước cuộc xâm lăng của người Pháp

Lữ Hồ, Bài ca của một cuồng sĩ

Thái Tuấn, Đường nét và màu sắc

Vĩnh Lộc, Giấc ngủ buổi chiều

Tạ Tỵ, Những viên sỏi

Lý Hoàng Phong, Những giờ cuối cùng của Thoại

Doãn Quốc Sỹ, Dòng sông định mệnh

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, Phạm Nguyên Vũ

Qua các bộ môn văn nghệ:

Nguyễn Đăng đọc Vũ nữ Saigon của Hoàng Hải Thủy, Nhạc khúc màu xanh thơ Tuấn Giang; Mai Thảo đọc Trên vỉa hè Saigon của Triều Đẩu, Thần tháp rùa truyện ngắn của Vũ Khắc Khoan

Số 19 (4-1958)

Nguyễn Sỹ Tế, Chủ thuyết siêu thực

Nguyên Sa, Con người trong triết học hiện đại

Thái Bạch, Một nữ sĩ miền Nam

Nguyễn Phụng, Hệ thống âm nhạc Nhật Bản

Mai Thảo, Chiếc xe đạp cũ

Lê Văn Siêu, Hà Ô Lôi, tiếng hát giết người

Lôi Tam, Phía mặt trời mọc

Doãn Quốc Sỹ, Dòng sông định mệnh

Thơ của Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Tạ Tỵ, Tuấn Giang, Sao Băng, Thạch Trân, Đoàn Đình Quỳnh, Vương Tân

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Đăng về Xóm nghèo, tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Vinh, bốn truyện ngắn Anh văn chọn lọc bản dịch của Võ Hà Lang; Mai Thảo về Lịch trình diễn tiến của phong trào quốc gia Việt Nam của Nghiêm Xuân Hồng; Nguyễn Trung và một ý kiến về cuộc triển lãm Duy Thanh

Số 20 (5-1958)

Mai Thảo, Vấn đề sân khấu Việt Nam

Nguyên Sa, Sự cô độc thiết yếu

Nguyễn Đình Hòa, Thân thế thi sĩ H.W. Longfellow

Nguyễn Duy Diễn, Phân tích nghệ thuật

Thái Bạch, Bạch Mai thi xã

Lữ Hồ, Vấn đề dạy Văn quốc ngữ

Võ Phiến, Kẻ trong đêm khuya

Tô Thùy Yên, Trong vườn địa đàng

Thạch Trân, Trăng đốm đèn

Doãn Quốc Sỹ, Dòng sông định mệnh

Thơ tự do của Người Sông Thương, Ngọc Dũng, Nguyên Sa, Hoàng Bảo Việt

Qua các bộ môn văn nghệ: Trần Thanh Hiệp về ban ca vũ nhạc Huế trình diễn ca vũ nhạc cổ Việt Nam; Nguyễn Trung về triển lãm hội họa Nguyễn Văn Quế; Trường Giang về triển lãm Đình Trọng và Huy Tưởng; Nguyễn Đăng giới thiệu sách mới, Trăng nước Đồng Nai của Nguyễn Hoạt

Số 21 (6-1958)

Trần Thanh Hiệp, Chúng ta hình thành văn nghệ mới

Nguyễn Sỹ Tế, Bàn về văn học sử Việt Nam

Thái Bạch, Khái luận về đặc tính văn nghệ của miền Nam

Nguyên Sa, Kinh nghiệm thi ca

Lê Cao Phan, Sáng tác nhạc thiếu nhi

Duy Thanh, Thằng Khởi

Võ Phiến, Kẻ trong đêm khuya

Doãn Quốc Sỹ, Dòng sông định mệnh

Thơ tự do của Phạm Nguyên Vũ, Quách Thoại, Tiêu Hà, Vương Tân, Lôi Tam, Thạch Chương, Tô Thùy Yên

Qua các bộ môn văn nghệ: Mạc Sơn đọc sách Những vấn đề của Đông Nam Á của Tạ Văn Nho; Trường Sơn về triển lãm Stephane Magnard; Nguyễn Trung về triển lãm Hà Hồng Liên; Thái Tuấn xem triển lãm hội họa Phi Luật Tân; Nguyễn Đăng đọc sách Nhận định của Nguyễn Văn Trung, về triển lãm hội họa của Nghi Cao Uyên tại Phi Luật Tân

Số 22 (7-1958)

Nguyễn Sỹ Tế, Vấn đề xác định một thời hiện đại trong văn học Việt Nam

Hoàng Thái Linh, Trường hợp Francoise Sagan

Thái Tuấn, Hình thể trong hội họa

Nguyễn Duy Diễn, Cao Bá Quát, một chiến sĩ cách mạng

Nguyễn Thiệu Lâu, Một thành tích của một quân nhân Việt Nam: Tạ Quang Cự

Nguyên Sa, Trang

Doãn Quốc Sỹ, Sách ước

Duy Thanh, Cầu thang

Thơ của Thanh Tâm Tuyền, Vương Tân, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Nguyễn Duy DIễn, Mai Trung Tĩnh

Qua các bộ môn văn nghệ: Mai Thảo đọc sách Những thiên đường lỡ của Triều Đẩu; Mạc Sơn đọc sách Đem tâm tình viết lịch sử của Nguyễn Kiên Trung; Thái Tuấn về triển lãm hội họa của các em học sinh; Hầu Anh về triển lãm Phạm Huy Tưởng; Nguyễn Đăng về giải thưởng văn chương văn hóa

Số 23 (8-1958)

Thông báo thành lập ban kịch “Đêm Hà Nội”

Lê Huy Oanh, Khảo về thơ Beaudelaire

Lữ Hồ, Định mệnh văn học

Phan Văn Dật, Bài thơ khóc thị Bàng không phải của vua Nguyễn Dực Tông

Thái Bạch, Nữ sĩ Trần Kim Phụng

Doãn Quốc Sỹ, Khu vườn bên cửa sổ

Thanh Tâm Tuyền,

Thao Trường, Đàn ông

Người Sông Thương, Quyển sách

Thơ tự do của Trần Thanh Hiệp, Trần Lê Nguyễn, Quách Thoại, Vương Tân, Duy Thanh, Hoàng Bảo Việt, Mai Trung Tĩnh

Qua các bộ môn văn nghệ: Mai Thảo đọc sách Tìm về sinh lộ của Kỳ Văn Nguyên; Thái Tuấn về triển lãm Trần Đình Thụy, triển lãm của Thuận Hồ; Vị Xuyên đọc sách Xây dựng một vở kịch tuyên truyền của Nguyễn Hoài Văn; Bá cáo của viện đại học Huế

Số 24 (9-1958)

Lê Huy Oanh, Khảo về thơ Baudelaire

Việt Tử, Cao Bá Quát

Lữ Hồ, Có chăng một bà Hồ Xuân Hương

Doãn Quốc Sỹ, Khu vườn bên cửa sổ

Thanh Tâm Tuyền, Những người đã chết đều có thực

Người Sông Thương, Con đường

Thơ tự do của Tô Thùy Yên, Tuấn Huy, Duy Thanh, Trần Lê Nguyễn, Vương Tân, Nguyễn Duy Diễn, Vũ Nguyên, Mai Trung Tĩnh

Qua các bộ môn văn nghệ: Thái Tuấn về triển lãm sơn đầu của Bon Nguyen, triển lãm Nguyễn Văn Phương; Thanh Nam đọc sách Hoa bên vườn cũ của Trần Phương Như; Duy Thanh về triển lãm Phạm Kim Khải, triển lãm Võ Minh Nghiêm; Hồ Nam đọc sách Thuyền thơ thi tuyển của Đông Xuyên

Số 25 (10-1958)

Sáng Tạo, Gửi bạn đọc

Người Sông Thương, Chị tôi

Trần Thanh Hiệp, Bài ca của những người – Tiếng nói

Thanh Tâm Tuyền, Thành phố – Tên người yêu dấu

Ngọc Dũng, Ngoại ô

Trần Thanh Hiệp, Ý nghĩa

Mai Thảo, Quê hương trong trí nhớ

Trường Dzi, Tuổi trẻ

Doãn Quốc Sỹ, Tiền kiếp

Vương Tân, Về cái chết của một người bạn

Duy Thanh, Bài thơ trong phố vắng

Mai Trung Tĩnh, Lịch sử

Trần Lê Nguyễn, Nguyện ước

Vương Tân, Tâm sự

Tô Thùy Yên, Thủ đô

Thanh Nam, Quyên

Tô Kiều Ngân, Phố Hàng Khay

Thanh Tâm Tuyền, Cuối đường

Vĩnh Lộc, Mưa lúc hoàng hôn

Duy Thanh, TimNhững lá thư Hà nội

Phạm Nguyên Vũ, Tiếng động dưới cỏ

Tô Thùy Yên, Vẻ buồn của tình yêu – Và hội họa

Huy Trâm, Điệp khúc

Hoàng Bảo Việt, Nước trôi về nguồn

Mai Trung Tĩnh, Trước ngày lên đường

Đinh Hùng, Bao giờ em lấy chồng

Duy Năng, Nguồn

Đ. Mnh, Bài ca hai mươi

Nguyễn Sỹ Tế, Mái đầu những Hà nội

Số 26 (11-1958)

Nguyễn Sỹ Tế, Tạp luận

Thanh Tâm Tuyền, Nhân nói về hội họa

Mai Thảo, Họp mặt ngày giỗ bạn

Trần Thanh Hiệp, Thế giới Quách Thoại

Vương Tân, Ở lại

Ngọc Dũng, Bài thơ Hoang

Hoàng Bảo Việt, Tìm em

Duy Thanh, Sợi giây – Thời gian – Đêm

Tô Thùy Yên, Thân phận thi sĩ

Trần Dạ Từ, Có ai – Mộng đầu – Bước đi

Hồ Nam, Thơ Nhật Bản

Nguyễn Thiệu Lâu, Một công tác kiến thiết

Thao Trường, Đò dọc

Thái Bạch, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa

Huy Quang, Người Hà Nội

Thủy Thủ, Nỗi buồn trên đất liền

Lữ Hồ, Truyện Kiều hấp hối

Hoàng Khanh, Hà Nội còn nữa

Duy Năng, Tâm hồn

Vương Tân, Hiu quạnh

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Thụy về giàn nhạc đại hòa tấu của Việt Nam Nhạc Hội; Mạc Sơn về Duy thức học thông luận của Thạc Đức; Vương Tân về giải thưởng Nobel văn chương năm 1958; Nguyễn Đăng về Tiếng bên trời thơ của Hà Liên Tử; Gõ đầu trẻ, truyện ngắn của Nguyên Sa

Số 27 (12-1958)

Nguyễn Sỹ Tế, Triết lý đoạn trường

Lữ Hồ, Nghĩ về Nguyễn Công Trứ

Doãn Quốc Sỹ, Bão vũ trụ

Tô Thùy Yên, Để phục hồi hội họa

Thái Bạch, Bộ mặt Đồng Tháp

Nguyễn Q. Đàm, Vài ý kiến về trường đại học

Hồ Nam, Khái luận về thi ca Việt Nam

Võ Phiến, Dừng chân – Tâm sự

Nhật Hương, Gục đầu

Ngọc Dũng, Số hai

Nguyễn Thiếu Lăng, Hờn lưu lạc

Vương Tân, Tĩnh vật – Ngoài phố

Thế Hoài, Mầu mắt người yêu

Cao Thiên Lương, Mây đầu núi

Trần Dạ Từ, Một bài thơ – Và chủ nhật – Môi

Mai Trung Tĩnh, Nửa đêm

Vĩnh Lộc, Những chiều mưa

Trần Phong, Đôi mắt

Ngọc Bích, Câu chuyện khiếm đề

Qua các bộ môn văn nghệ: Thái Tuấn về triển lãm sơn dầu và sơn mài của Văn Thịnh và Lê Thy, Phòng tranh của bà Hồ Thị Linh; Thanh Mỹ về triển lãm H. Hưu, triển lãm Phạm Tòng; Hồ Nam về tin Juan Ramon Zimenez từ trần

Số 28-29 (tháng 1 và 2 năm 1959)

Sáng Tạo, Gửi bạn đọc

Thanh Tâm Tuyền, Đêm

Lữ Hồ, Hoa muộn

Nguyễn Sỹ Tế, Nghĩ thầm

Trần Thanh Hiệp, Ngày cũ

Doãn Quốc Sỹ, Hương nhân loại

Hoàng Anh Tuấn, Điệu nhạc tắt đèn

Thái Tuấn, Sáng tạo

Quang Ninh, Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh

Lan Đình, Thương nhau thì về

Hoàng Bảo Việt, Tình yêu, tình bạn, mùa xuân

Nguyên Sa, Đằng sau

Mai Trung Tĩnh, Những hạt ba dăng của Niêm

Trần Dạ Từ, Bài kỷ niệm

Vương Tân, 30 tháng chạp – ngày đầu năm đi trốn

Thái Bạch, Lân Sài Goòng

Thao Trường, Xác chết

Vương Tân, Mùa xuân căn gác đầy người

Phạm Nguyên Vũ, Thơ cho Helena Okavitch

Thạch Chương, Đối thoại

Dương Nghiễm Mậu, Rượu, chưa đủ

Nguyên Sa, Tương tư – Mời

Duy Thanh, Xuân – Một mình – Giản đơn

Mai Thảo, Những ngày tháng mới

Số 30 (5-1959)

Nguyễn Sỹ Tế, Chờ sáng

Thao Trường, Riêng tư

Việt Tứ, Nguyễn Công Trứ

Nguyễn T. Lâu, Tìm hiểu non nước nhà

Doãn Quốc Sỹ, Đoàn người hóa khỉ

Thạch Chương, Sonnet – Một đóa hồng cho Emily

Thanh Tâm Tuyền, Barbara

Diên Nghị, Thương nhớ

Hoàng Bảo Việt, Hy vọng

Sao Băng, Người ở đâu

Song Linh, Bức tranh

Mai Trung Tĩnh, Ao ước

Lan Đình, Hàng xóm

Phạm Nguyên Vũ, Dạ khúc

Lôi Tam, Cơn mưa

Qua các bộ môn văn nghệ: Nguyễn Sỹ Tế về Việt Nam văn học toàn thư của Hoàng Trọng Miên; Trần Thanh Hiệp về Để hiểu đạo phật của Phương Bối; Thanh Tâm Tuyền, Trí thức làm dáng; Hồ Nam về Giòng thơ sang mùa của Hà Phương – Kịch Buon M’Rong.

Số 31 (9-1959)

Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay

Doãn Quốc Sỹ, Đoàn người hóa khỉ

Lê Huy Oanh, Verlaine, nhà thơ Tượng trưng

Trần Lê Nguyễn, Nhật ký – Đôi mắt

Cung Thư, Nhân những vấn đề về chủ âm tính trong âm nhạc Tây phương

Nguyên Sa, 20 – Tháng sáu trời mưa

Tô Thùy Yên, Trời mưa đêm xa nhà

Cung Trầm Tưởng, Nghĩa địa – Ngủ

Thao Trường, Làm quen

Dương Nghiễm Mậu, Tiếng nói

Tạ Tỵ, Nếu một ngày nào

Trên đây là bộ cũ của Sáng Tạo. Đến tháng 7-1960, Sáng Tạo ra bộ mới. Dưới đây là bài mở đầu của số 1 bộ mới:

Trong không khí và trạng thái của một thời đại đã chết, kéo theo luôn sự gục ngã những thần tượng của nó, và một thời đại mới bắt đầu – thời đại chúng ta – mà con người trong đó càng ngày càng thấu hiểu được tầm quan trọng sống còn của mình, sự thiếu vắng một nền văn học nghệ thuật phản ánh được ý thức con người trước sự quan trọng sống còn đó, phải được coi như lầm lỗi lớn lao không thể tha thứ của người làm nghệ thuật chân chính hôm nay. Lầm lỗi này tạo nên tâm trạng băn khoăn xao động thường trực ở người làm nghệ thuật, không còn ho phép hắn đi vào nghệ thuật với tâm trạng bình yên ngày trước.

Bởi nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến: tâm trạng tiếc thương quá khứ, những quan niệm lỗi thời, sự thiếu can đảm, thiếu chân thực từ bản thân, sự ngoảnh mặt trước những vấn đề chưa giải quyết, sự lười biếng trong lối sống và tâm hồn, sự mù tối cố ý trước thực trạng đời sống, tinh thần vô trách nhiệm, sự chênh lệch non kém của ý thức không bắt kịp diễn tiến sự vật và đời sống mới.

bởi rất nhiều bệnh tật, trong đó phải kể tới những nhận định còn sơ đẳng ấu trĩ về nghệ thuật, một tinh thần thỏa hiệp đồng lõa với bản thân mình và tất cả, sự ngủ yên trên những thành công nhỏ mọn, sự sợ hãi trước những đớn đau cần yếu của một lần thoát sác, óc nhóm đảng trường phái hẹp hòi,

chúng ta đã lựa chọn sự dễ dàng và sự dễ dàng này đã đẻ ra những công trình nghệ thuật, những tờ báo khô cạn nghèo nàn, giả tạo, thiếu sinh khí. Những công trình non yếu thảm thương không phản ảnh được gì ngoài thực trạng bi đát, cái hình ảnh ngõ cụt, cái thân thể tê liệt bất động của nghệ thuật tới nay. Những tờ báo vì thiếu một ý thức đồng nhất, một sức mạnh chủ lực, không giám tìm kiếm một sắc thái khác biệt, không giám phấn đấu cho một tư tưởng nghệ thuật nào.

Chúng tôi, những người đứng bên nhau, trong bộ Biên Tập Sáng Tạo, chúng tôi cùng nhau nhận thức sự thực đau đớn đó. Khối lượng tình cảm xâu rộng dành được ở lớp người đọc có ý thức – lý do chính đưa tới quyết định tục bản diễn đàn văn học nghệ thuật này – với một vài cố gắng đã thực hiện không thể xem là những chứng tích đầy đủ xóa nhòa được sự thực đau đớn kia. Một nhận định toàn thể phải được đặt ra.

Nhìn trở lại 31 số báo xuất bản liên tục trong 4 năm vừa qua, Sáng Tạo đã làm được những gì trên ý hướng và mục đích hình thành một nền văn nghệ mới, nó không vay mượn, nó nói được chúng ta, xứng đáng tiêu biểu cho đời sống và con người thời đại? Một số thí nghiệm táo bạo, sự có mặt rực rỡ của lớp người viết trẻ, những bước trở lui cần thiết thể hiện trong việc quy định lại những vấn đề văn học chính yếu, thái độ hướng dẫn mở đường cho những tài năng mới đến từ đám đông hay tự thành trong cô đơn, sự chấp nhận những ý tưởng khác biệt cùng lên tiếng trong không khí bằng hữu và tinh thần độc lập của diễn đàn này, cố gắng đạt tới tinh lọc nghệ thuật diễn tả qua phần sáng tác của tạp chí – những đặc tính đó đã tạo nên sắc thái độc đáo của Sáng Tạo, đúc kết thành truyền thống nghệ thuật của Sáng Tạo.

Nhưng chúng tôi thành thực nhận rằng chúng tôi chưa làm được gì. Sáng Tạo, mặc dầu uy tín đã đạt được, vẫn chưa thực hiện được những bước đi dài lớn về phía bên kia, phía tượng hình cho khoảng thiếu vắng lớn lao như một miền đất hoang vu của nghệ thuật chúng ta. Trên sự thiếu vắng này, Sáng Tạo chọn làm một điểm khởi hành mới. Sự thiếu vắng ám ảnh người làm nghệ thuật như một tác động vật chất khiến hắn đi vào thế giới nghệ thuật với một tâm trạng không ngừng lo âu xao xuyến đó là gì? Đó là một đòi hỏi chưa hề được giải đáp. Nghệ thuật hôm nay phải nói được thế nào là chúng ta, trình bầy được tâm trạng, đời sống của lớp người chúng ta, nếu không nó sẽ chẳng bao giờ nói được gì hết. Nghệ thuật không còn là một giải thoát, niềm an ủi vỗ về, sự trốn chạy khỏi đời sống, bàn tay xoa dịu con người lãng quên chốc lát trong một ảo tưởng hư ngụy, những thảm kịch, những vấn đề mà một ý thức soi chiếu xuống những tầng đầy xâu thẳm của tâm linh, xuyên qua những biến động ngoại cảnh đã lột trần chúng ta trong những quằn quại và những kêu gào đòi được biết đến. Nghệ thuật hôm nay không còn là liều thuốc an thần. Nghệ thuật hôm nay là vũ khí hành động của con người vĩ đại lớn lên trong thức tỉnh của ý thức. Nó phải đánh vào những miền bóng tối, những hoa lá ngụy trang che dấu đời sống. Nó phải có mặt ở khắp nơi, ở bất cứ nơi nào dự phần vào đời sống chúng ta. Nó phải nói được tất cả: những đau đớn vò xé, những thất vọng chán chường, những chiến thắng, những lần thất bại, nỗi hoang mang kinh hoàng, niềm vui tin lấy lại, những băng hoại xa hoa đau thương, những trở chiều, những phục sinh dũng cảm. Nó phải trình bầy được những biểu lộ khác biệt, những mâu thuẫn rối rắm, những khía cạnh sinh học của người thời đại trên hành trình đi vào trọng tâm bản thể đời sống, khám phá ở gốc nguồn và nền tảng tất cả sự thực về mình, những nguyên tố liên quan thiết yếu đến đời mình. Nghệ thuật đó không dẫn tới quan niệm phi lý, chối bỏ đời sống. Tâm trạng đào sâu vào lòng sự vật, phá bỏ những sự thật đã có – khiến nghệ thuật được định nghĩa như một hành động, một hành trình – chỉ là biểu tỏ nồng nàn của niềm khát khao chân thành muốn đạt tới, nắm vững sự thật của con người thời đại chúng ta. Ở một vươn tới khác, nghệ thuật đó phải đánh dấu sự có mặt, quyền năng và tác động ghê gớm của con người đứng trước, đi qua sự vật. Nghệ thuật đó tạo thành sự khác biệt căn bản giữa con người, đời sống hôm qua vớ con người, đời sống hôm nay. Nó mang chứa hình ảnh một sức mạnh chủ động. Nó kết tinh sự đắc thắng rực rỡ của con người trước sự vật. Nói như Trần Thanh Hiệp: Nó biểu tỏ sự lớn lao của con người.

Chúng tôi muốn Sáng Tạo, cho được xứng đáng với lớp người đọc ý thức – một bạn đọc khi đã đến với Sáng Tạo là ở lại vĩnh viễn – cắt nghĩa được sự trở lại của nó, phải thực hiện được một giòng nghệ thuật theo nhận thức và ý hướng nói trên.

Thế nào là nghệ thuật hôm nay? Sáng Tạo trở lại muốn trả lời cho câu hỏi đó.

Gạt sang một bên những cái nghèo nàn, giả tạo, khô cạn, lỗi thời, thứ nghệ thuật dát những lớp vàng đeo những vòng hoa vô ích lên đầu lên cổ đời sống, chúng tôi muốn tìm đến một nghệ thuật thực, kiến trúc được hình dáng thực, biểu hiện được bản chất thực của thời đại. Tránh xa những xung đột trường phái, những bút chiến nhóm đảng, chúng tôi muốn nhập vào những giòng sông lớn của thế kỷ này. Chúng tôi kính trọng những tài năng thuở trước, nhưng chúng tôi sẽ đặc biệt chú trọng đến những tài năng mới. Chúng tôi đứng về phía những thí nghiệm và những mở đường dũng cảm, những người đang băn khoăn, đang tìm kiếm và sẽ đi xa. Chúng tôi đón nhận mọi tư tưởng khuynh hướng khác biệt nếu những khuynh hướng tư tưởng khác biệt đó phong phú, mãnh liệt, phản ảnh được ưu tư đạt tới sự thực của nghệ thuật và đời sống.

Chúng tôi chỉ là những người viết trẻ, tự nhận chưa làm được gì cho nghệ thuật. Sự chân thành chúng tôi mang đến cho nghệ thuật là ý thức chúng tôi. Sáng Tạo từ nay sẽ đặt hẳn mình là diễn đàn là ý thức của những người viết trẻ, của nghệ thuật mới. Trên “diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay” dựng lại, chúng ta, người viết và người đọc cùng tìm trả lời cho câu hỏi: Thế nào là nghệ thuật hôm nay?

Số 1 (7-1960)

Nói chuyện giữa tám tác giả Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn về nhân vật tiểu thuyết.

Thanh Tâm Tuyền, Mặt trời tìm thấy

Duy Thanh, Chiếc lá

Doãn Quốc Sỹ, Đại học xá

Thạch Chương, Sự chán chường trong việc phê bình văn nghệ

Tô Thùy Yên, Niềm bí ẩn trong cái chết của một thanh niên

Lê Huy Oanh, Giòng sông

Mai Thảo, Sau tám tháng im lặng

Trần Thanh Hiệp, Để chúng ta được thấy mặt nhau

Nguyễn Sỹ Tế, Giữa hai giấc ngủ

Số 2 (8-1960)

Mười tác giả (Cung Trầm Tưởng, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Lê Huy Oanh, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp) nói chuyện về thơ bây giờ.

Thanh Tâm Tuyền, Buổi sáng ngoài bãi biển

Tô Thùy Yên, Ba dấu chân trên một quãng sầu

Thái Tuấn, Đứng trước giá vẽ hôm nay

Doãn Quốc Sỹ, Vỡ bờ

Mai Thảo, Về chuyến viễn du bí mật cuối cùng

Thạch Chương, Thơ, thơ dịch

Sao Trên Rừng, Ngàn khơi

Duy Thanh, Lớp gió

Dương Nghiễm Mậu, Tiếng động trên da thú

Thanh Tâm Tuyền, Thơ

Trần Thanh Hiệp, Sự thưởng ngoạn nghệ thuật bây giờ

Số 3 (9-1960)

Chín tác giả (Duy Thanh, Huỳnh Văn Phẩm, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp) nói về ngôn ngữ mới trong hội họa

Nguyễn Sỹ Tế, Lên đèn

Trần Thanh Hiệp, Độc thoại

Thanh Tâm Tuyền, Nghệ thuật đen

Doãn Quốc Sỹ, Vỡ bờ

Lê Huy Oanh, Miếu âm hồn

Ngọc Dũng, Biên giới của người điên

Thạch Chương, Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus

Duy Thanh, Bài thơ sầu tám khúc

Tô Thùy Yên, Người đánh bạc

Mai Thảo, Những cái đích phóng về trước mặt

Số 4 (10-1960)

Tám tác giả (Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp) nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam

Thanh Tâm Tuyền, Nguyên

Duy Thanh, Chân dung

Thạch Chương, Tinh cầu

Nguyễn Sỹ Tế, Ý thức nghệ thuật

Thao Trường, Mầu và sắc

Viên Linh, Đời rút xuống

Doãn Quốc Sỹ, Vỡ bờ

Lê Huy Oanh, Mưa trên thành phố

Franz Kafka, Trầm tưởng

Thanh Tâm Tuyền, Thềm sương mù

Duy Thanh, Nói chuyện với Kazuo Kobayashi

Trần Thanh Hiệp, Giữa hai người

Cung Trầm Tưởng, Thoát sác

Mai Thảo, Người lính lê dương

Số 5 (11-1960)

Bảy tác giả (Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Hồ Nam, Ngọc Dũng, Lý Hoàng Phong, Mai Thảo) kỷ niệm Quách Thoại

Lê Huy Oanh, Sáu bài thơ dịch

Thái Tuấn, Bồng lai

Quách Thoại, Những bài thơ tình đầu tiên

Doãn Quốc Sỹ, Vỡ bờ

Viên Linh, Trong giấc mộng tàn

Thanh Tâm Tuyền, Thềm sương mù

Alberto Moravia, Hai người bạn

Cung Trầm Tưởng, Tật nguyền

Vĩnh Lộc, Khoảng lộ trình cũ

Thạch Chương, Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật

Nguyễn Sỹ Tế, Chết trong tâm hồn

Số 6 (12-60 và 1-61)

Mai Thảo, Con đường trở thành và tiến tới tới của nghệ thuật hôm nay

Sao Trên Rừng, Nỗi mệt mỏi của kiếp người

Doãn Quốc Sỹ, Người ôm mùa xuân nguyên vẹn

Lê Huy Oanh, Hồi chuông báo tử

Albert Camus, Người đàn bà ngoại tình

Viên Linh, Sáu bài thơ lục bát

Thanh Tâm Tuyền, Thềm sương mù

Trần Dạ Từ, Buổi trưa về Thị Nghè

Vĩnh Lộc, Trang 4

Trần Lê Nguyễn, Màu đen

Dương Nghiễm Mậu, Làm thân con gái

Số 7 (9-1961)

Mai Thảo, Nghệ thuật, sự bạo động khẩn thiết và thường trực của ý thức

Trần Thy Nhã Ca, Rồi đôi chân của núi

Nguyễn Đăng, Đời sống trong biệt thự

Lan Đình, Hai mùa xuân hai cuộc đời

Vĩnh Lộc, Chặp tối

Dương Nghiễm Mậu, Buồn vàng

Viên Linh, Còn gì

Sao Trên Rừng, Những ngày xuân hoang vu

Thạch Chương, Mắt nhọn

Thanh Tâm Tuyền, Thềm sương mù

Trần Dạ Từ, Khúc dĩ vãng

Vương Tân, Hai mươi

Trường Duy, Những ngày ở biển

structuralism-a-glossary-and-a-bibliography

Structuralism: a glossary and a bibliography

by Dorothy B. Selz (1975)

A good beginning is Piaget’s Structuralism, which offers a survey of all the arts and sciences under one rubric: how they function as structures. To proceed to the special concerns of literature and anthropology, Michael Lane’s Introduction to Structuralism, with a prefatory history and a compilation of basic articles and good bibliographies could be a good choice.

Reading Claude Lévi -Strauss is difficult, but inevitable. One should start with Tristes Tropiques, then Structural Anthropology, where he elaborated his structural method in studying myth and criticized the scientific validity of psychoanalyis. The Raw and Cooked discusses the complex relationships among myths, customs of food preparation, kinship relations and other aspects of culture.

Lévi-Strauss paved a new way for mythical-anthropological investigration, and those who followed in his steps in this field are Leach, Kirk, and Haugen. They studied the re-orienting views of the Bible, the classics of Greece, and te myths of Scandinavia, believing those are human imagination to cope with nature.

Apart from anthropology, structuralism is also applied to linguistics, and therefore reading Saussure’s Course in General Linguistics is a must. In our reading, Saussure is followed by Jakobson and Propp. We then will arrive at the Russian Formalists, notably Erlich and Jameson.

In literary criticism, a prominent practitioner of structuralism is Barthes. Jakobson and Lévi-Strauss also tried to apply structuralism in analyzing Baudelaire’s text, but their analyses is objected by Riffaterre. Shkovsky’s theory, albeit unimpressed to Owen Barfield or the New Critics, is valued by professor Scholes in his Structuralism in Literature. In this work, Scholes applies structuralism in genre analysis and James Joyce’s works.

Lastly, structuralists also have their answers to the grandiose philosophical questions such as “what is the nature of the perceiving seld”, which can be found in Johns Hopkins’ 1966 conference speech and Macksey and Donato’s The Languages of Criticism and the Sciences of Man: The Structuralist Controversy. Those are not the final answers, but they broaden sympathies and widen perspectives.

A Glossary

  • associative relations
  • binary opposition: minimal pairs?
  • bricolage: metaphorical substitution; chẳng hạn, vòng tròn?
  • code: “The mythical consciousness resembles a code which is intelligible only to those who possess the key to it – i.e., for whom the particular contents of this consciousness are merely conventional signs for something “other”, which is not contained in them” (E. Cassirer, The Philosophy of Symbolic Forms, vol. 2, Mythical Thinking, p.38).
  • determism: one of the nets of Lévi-Strauss, that basic patterns of thought are assumed to be inevitable: “I have always aimed at drawing up an inventory of mental patterns, to reduce apparently arbitrary data to some kind of order, and to attain a level at which a kind of necessity becomes apparent, underlying the illusions of liberty” (Lévi-Strauss, The Raw and the Cooked, p. 10). [là dựng nên một hệ thống trong đầu để giảm thiểu tính võ đoán của ngôn ngữ? phải chăng đó là lý do luôn cần đặt lại các câu hỏi “nghĩa là gì”? tinh thần là gì?]
  • diachronic
  • dialectics
  • displacement: substituting one code for another by metomyny or metaphor. An old, ineffective symbol fails to tally with new perceptions; the replacement is perceived with approval since it is already operating in another whold code that the audience accepts.
  • l’esprit d’homme, l’esprit humain: the spirit of man, the essence of humanity. “Lévi-Strauss characterizes this universal espirit humain as follows: like language, the human mind differentiates empirical reality into constituent units; these units are organized into systems of reciprocal relations, and these systems enunciate rules to govern their possible combinations. Further, the qualities of mind and language are not only universal (all men have the intellectual capacity to make and use symbols, and all languages exhibit universal features) but unconscious as well… The assumption that structures of the human mind are unconscious and generic, universal and invariable, is of critical importance. (Bob Scholte, “Epistemic Paradigms,”, in Claude Lévi-Strauss: The Anthropologist as Hero, ed. E. N. Hayes and T. Hayes, p.110-11)
  • grid: metaphor for the apparent nature of the mind to isolate units of experience from the continuum and to identify them in relation to other units: a note in a scale, a color in a spectrum, a relationship to other people. A grid may apply to inner experience, a visceral rhythms” (Lévi-Strauss, The Raw and the Cooked, p.27)
  • homology
  • idealism
  • kinship laws
  • langue/parole: “If we could embrace the sum of word-images stored in the minds of all individuals, we could identify the social bond that constitutes language [langue]. It is a storehouse filled by the members of a given community through their active use of speaking, a grammatical system that has a potential existence in each brain, or, more specifically, in the brains of a group of individuals.” “Execution is always individual, and the individual is always its master: I shall call the executive side speaking [parole]” (Saussure, Course in General Linguistis, pp.13-14)
  • mechanism, materialism
  • mediation
  • metaphor, metonymy
  • mode
  • myth: in anthropology, a coded message, a model order of experience just as grammar is the model order of language
  • paradigmatic
  • phonemes
  • regulation, self-regulation
  • Russian Formalism
  • semiology
  • set
  • sign, signifier, signified
  • structuralism: a study of the laws of composition both of nature and of man’s creations. Language, as a creation, has offered a prime subject, and discoveries in the science of linguistics have provided methods for structural analysis in other areas. Myth similarly is governed by laws of compositioon (such as metaphor, displacement, mediation, sequence), and so are kinship regulations and other social and artistic artifacts. The recurrence of similar laws of composition leads the structuralist to speculations about the mind which enacts these laws.
  • structure: a set of terms in a relationship constantly defined, whatever the transformations. “Lévi-Strauss’ society is a totality of which the essence is embodied in a structure. This structure manifests itself in various forms – e.g. in myth, ritual, rules of marriage, law, etc. Structures of this kind vary both geographically through space and chronologically through time. One structure changes into an adjacent structure by dialectical variation of its component elements” (E. Leach, “The legitimacy of Solomon”, in Introduction to Structuralism, ed. M. Lane, p.251).
  • synchronic
  • syntagmatic relations
  • transformation
  • variables, variants
  • wholeness: not merely an aggregation of parts, but a family of elements. “The elements of a structure are subordinated to laws, and it is in terms of these laws that the structure qua whole or system is defined” (J. Piaget, Structuralism, p. 7)

A Selected Bibliography

Barthes, Roland. “Racinian Man: The Structure,” in On Racine, trans. Richard Howard. New York: Hill and Wang, 1964, pp. 3-60.

Erlich, Victor. Russian Formalism. The Hague: Mouton, 1965.

Guillen, Claudio. Literature as System. Princeton: Princeton Univ. Press, 1971.

Hartman, Geoffrey. “Structuralism: The Anglo-American Adventure,” in Structuralism, ed. Jacques Ehrmann. New York: Doubleday, 1970, pp. 137-158. (Also in Yale French Studies, 1966).

Haugen, Einar. “The Mythical Structure of the Ancient Scandinavians,” in Introduction to Structuralism, ed. Lane. New Yorj: Basic Books, 1970, pp. 170-183. (Also in To Honour Roman Jakobson, The Hague, 1956).

Hayes, Eugene N. and Tanya Hayes. Claude Lévi-Strauss: The Anthropologist as Hero. Cambridge, Mass.: MIT Press, 1970.

Jameson, Frederic. The Prison House of Language: A Critical Account of Structuralism and Russian Formalism. Princeton: Princeton Univ. Press, 1972.

Jakobson, Roman and Claude Lévi-Strauss, “Charles Baudelaire’s ‘Les Chats,’ ” trans. Katie Furness-Lane, in Introduction to Structuralism, ed. Michael Lane. New York: Basic Books, 1970, pp. 202-221. (Also in L’Homme, 1962).

Jakobson, Roman and M. Halle. Fundamentals of Language. The Hague: Mouton, 1956.

Kirk, G.S. “Lévi-Strauss and the Structural Approach,” in Myth: Its Meaning and Functions in Ancient and Other Cultures. Berkeley: Uni. of California Press, 1973, pp. 42-83.

Lacan, Jacques. “The Insistence of the Letter in the Unconscious,” in Structuralism ed. Ehrmann, pp. 101-137. (Also in Yale French Studies, 1966).

[some others]

duong-nghiem-mau

Dương Nghiễm Mậu

Vì sao Phí Ích Nghiễm lại chọn bút danh là Dương Nghiễm Mậu? Là bởi vì ông đặt tên ông ở giữa hai chữ đầu của quê ngoại (Dương Liễu) và quê nội (Mậu Hòa). Tôi không khỏi liên tưởng đến Dzư Văn Tâm đặt tên mình ở “trong lòng” tên của người con gái mà mình yêu, Thanh Tuyền, để làm thành bút hiệu Thanh Tâm Tuyền. 

Dương Nghiễm Mậu sinh năm 1936, cũng bằng tuổi Thanh Tâm Tuyền. Và nghĩa là, năm ông vào Nam (1954), ông 18 tuổi. 

Ông xuất hiện lần đầu trên Sáng Tạo ở số 28-29 bộ cũ (tháng 1-2 năm 1959), với truyện ngắn Rượu, chưa đủ. Mai Thảo kể đã nhặt bản thảo truyện này trong sọt rác của một tòa soạn để đem về đăng. 

Rượu, chưa đủ (1959)

Lúc này, Dương Nghiễm Mậu 23 tuổi. 

Không liên quan, nhưng mà hình như không phải cứ sống lâu, đọc nhiều là sẽ viết hay. Sự hay rất có thể chỉ xuất hiện trong một số khoảnh khắc xuất thần của cuộc đời. Cũng như “con tằm nhả được tơ óng mãi hay sao?”

Tinh anh phát tiết ra ngoài.
Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Phải chăng cái thời tơ óng của tôi đã đi qua (Đi qua những phóng túng hình hài)?

Mai Thảo bình truyện có một lối vào “mạnh dạn mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới”. Hẳn Mai Thảo muốn nói đến những tiền giả định (presupposition): Khi viết “về đến đầu ngõ thì tôi chia tay Thùy”, tác giả không cần nói rõ họ vừa đi đâu về, và Thùy là ai mà lại bước đi với dáng vẻ “lặng lẽ cuối đầu”. Tác giả cũng không cần giới thiệu Hùng là ai ngay từ đầu, cũng không giải thích vì sao mình thừa biết Hùng đọc cuốn sách gì. Chi tiết đó có lẽ chỉ để nói về sự quen thuộc và chán chường trong sinh hoạt của nhân vật chính và Hùng, một sự quen thuộc đến mức việc có hay không có người kia cũng không còn quan trọng. Giữa họ không có hồ hởi, không có thắm thiết.

Hùng rất là cynical, hình như hầu hết bạn bè của nhân vật chính đều cynical. Họ không còn tin vào những êm ái.

Tôi chỉ mới đọc qua ba truyện Niềm đau nhức của khoảng trống, Rượu, chưa đủKẻ sống đã chết, nhưng cũng thấy cái nhận định nói rằng có rất nhiều nhân vật mồ côi trong truyện của Dương Nghiễm Mậu là đúng. 

Những con sư tử là gì? Vì sao chúng lại bị khuyết tật (không có tai, mù mắt, cụt chân)? Và phải chăng vì khuyết tật nên chúng càng hung tợn? “Đến nay, hơn hai mươi tuổi đầu tôi sống như vậy”. Nhưng sống như vậy là sống thế nào? Là sống một cuộc đời được ẩn dụ như bị xâu xé bởi những con sư tử khuyết tật, hay là sống một cuộc đời toàn gặp ác mộng?

Tôi muốn van xin sự vắng mặt nhưng chính tôi thường vắng mặt. Những trang sách cứ qua mãi cho đến khi đôi mắt nhíu lại, cho đến khi bầu dầu vơi đi, cũng như những chặng đường, ngắn dần, lùi dần và cuộc đời lớn dần già dần, rồi tan dần đi. Tôi nghĩ đến những người đang ồn ào trong xóm. Những lúc tranh đua kiếm miếng có khi nào nghĩ đến cái thân phận làm người của họ không? Hôm nay họ xanh trẻ, thời gian sau họ già nua. Con cái họ lớn lên và già theo cùng những vui buồn, sinh tử, sợ hãi, chán ghét… rồi họ chết đi nhưng xóm nhỏ thì đông thêm, đông thêm mãi cho đến khi nào những người còn sống quên dần những người đã chết.

Dương Nghiễm Mậu, tuy vẫn viết về thời cuộc, nhưng nhiều khi, và ngay trong tác phẩm này, đã có khuynh hướng phổ quát đến kiếp người, cõi người. Ở tuổi 23, Dương Nghiễm Mậu đã nói về cuộc đời như thể rằng nó chỉ có bao nhiêu đó, và chẳng có gì vui đâu. 

Cuộc sống ngày nay mất đi những tham dự của sức mạnh siêu hình mà người trước tin cẩn để sống. Nhưng có lẽ thái độ can đảm liều lĩnh ấy khiến cho chúng tôi đau đớn hơn. Chúng tôi không thể đổ lỗi cho ai được khi chúng tôi tự cho mình là Thượng đế.

Và đến đây thì dấu vết Nietzsche khá rõ. Nhưng việc đưa vào mạch văn một triết lý như này quả có phần hơi thô.  

Lại nói, vì sao nhân vật chính của Dương Nghiễm Mậu rất giống với nhân vật chính trong Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền ở chỗ: là trí thức, trẻ tuổi, nhưng sớm buồn chán với cuộc đời, lung lạc và vô định? 

Phải chăng chỉ có những người nhìn thấy được những giới hạn không thể vượt qua và ý thức mạnh mẽ về mối quan hệ giữa “tôi” và “chúng ta” thì mới tìm đến hiện sinh? Và dù ta đã biết Sartre và Camus đã xuất hiện xong từ trước 1954, nhưng các thảo luận xoay quanh hiện sinh ở miền Nam bắt đầu sôi nổi từ lúc nào, như thế nào? Rượu, chưa đủ có phải là một tiếng vang lên giữa cái âm nền (ambient) đó, khi mà tác giả liên tục nói về lựa chọn, tự do, cái chết? Điều này cũng lặp lại ở Niềm đau nhức của khoảng trống. Những tác phẩm sau đó, Dương Nghiễm Mậu có thoát khỏi hiện sinh không? 

Đêm. Những lối ngõ. Phòng trọ tối. Ánh đèn đường xuyên qua những thanh chắn hắt lên tường trong lúc nhân vật chính nằm. Cái vibe này đã có trong Niềm đau nhức của khoảng trống. Hình như, một số nhà văn sẽ có khoái cảm trong việc dựng nên một cái atmosphere gần gũi với họ. Đó, rất có thể là không gian sống của Dương Nghiễm Mậu, ở độ tuổi đôi mươi.

Đoạn cuối nhịp dồn dập. Thực tôi đọc bài phê bình của Mai Thảo về đoạn này (“thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động”) trước khi tôi đọc đoạn này, và nó làm tôi hơi thất vọng.

Cách Dương Nghiễm Mậu đan xen đoạn tự sự của nhân vật chính và những đoạn văn được viết bởi một cô bạn của anh, tên Hương, có cần thiết không? Phải chăng những đoạn được trích ra là để làm cho rõ hơn cái ý niệm về miễn cưỡng, mất tự do? Những dòng văn có vẻ xô vỡ luân lý ấy (anh chàng 20 làm một người đàn bà 40 chửa hoang rồi phải đối mặt với trách nhiệm, hai người bạn tranh cãi về chuyện cái gì quan trọng hơn chuyện đứng bên này hay bên kia của một giòng sông ranh giới, và một người nói về việc con người bị kết án tự do) làm tôi nghĩ đến sự tò mò thích thú của bọn vừa dậy thì khi chơi trò truth or dare, hỏi những câu về chuyện phòng the. Thực ra, nếu đã nhìn thấy ranh giới đủ lâu, con người ta sẽ không còn thấy có gì hồi hộp hay hào hứng ở những sự phá bỏ luật lệ nữa.

Phải chăng Bếp lửa là sự ngộp thở trước “sự đa dạng khôn kiệt của cuộc đời”, và Rượu, chưa đủ cũng vậy?

Có một đoạn nói về việc đứa bé ở công viên thôi không còn chơi trò xây nhà đắp đê mà chuyển sang chơi trò đá dế. Chi tiết này Dương Nghiễm Mậu đưa ra chỉ để nói về sự rời bỏ những thú vui trẻ thơ khi người ta trưởng thành. Nhưng khi đọc nó, nhất là vào lần đọc đầu tiên, tôi không khỏi liên tưởng đến cái “bài học đường đời đầu tiên” của con dế Mèn của Tô Hoài, những choai choai ngu ngục. Và một đoạn phim Ngày giỗ (2003) của Hàm Trần, đoạn cross-cutting xen kẽ giữa trò chơi đá dế của hai anh em ngày còn nhỏ, với cảnh hai anh em cầm súng truy đuổi nhau ngoài chiến trường.  Ngày xưa ráy dế cho các chú ấy nóng tiết thì đá nhau mới sung, ngày nay bị làm dế cho người ta quay. L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!

Tôi cũng liên tưởng đến chi tiết chủ tiểu giết con ếch vì thích thú trước biểu hiện kỳ lạ khi một con vật chết trong Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại xuân (2003).

Bây giờ mùa nắng sắp tàn và sắp xa thêm những kỷ niệm. Dù có khuất xa đi nhưng nhờ những kỷ niệm để nắng tin rằng mình đã sống.


Photo: For him to live (2019), directed by Tomoyuki Kuramoto