Frantz Fanon về tâm thế của trí thức thuộc địa

frantz-fanon-ve-tam-the-cua-tri-thuc-thuoc-dia

Mỗi thế hệ phải khám phá ra sứ mệnh của mình, hoàn thành nó hoặc phản bội nó, trong một sự rõ ràng tương đối. Ở các quốc gia kém phát triển, những thế hệ trước vừa đồng thời ngăn cản cái chương trình thực dân hóa xảo quyệt vừa mở đường cho sự ra đời của những tranh đấu hiện thời. Giờ ở cao trào tranh đấu, chúng ta phải thôi chê bai những nỗ lực của các tiền bối và thôi giả vờ không hiểu sự im lặng hoặc thụ động của họ. Họ đã chiến đấu hết sức có thể với những vũ khí mà họ có lúc đó, và nếu sự tranh đấu của họ không vang dội trên trường quốc tế, thì lý do không phải là vì họ thiếu lòng can đảm mà là vì tình hình quốc tế lúc đó khác biệt về cơ bản với bây giờ. (…) Với chúng ta, những người quyết tâm đánh đổ chủ nghĩa thực dân, sứ mệnh lịch sử của chúng ta là phải trao gửi thẩm quyền cho mọi cuộc nổi dậy, mọi động thái tranh đấu dù không có hy vọng, mọi cuộc tấn công đã bị bỏ dở hoặc chìm trong máu. (tr. 145-146)

Những thế hệ sau này thật là không thể nào hình dung được đầy đủ cái thảm kịch gọi đò đêm sông vắng, cái thảm kịch đợi nước gọi đò (hiểu theo cả nghĩa đen kinh tế lạc hậu, hiểu theo cả nghĩa bóng chính trị của những người yêu nước trước đây nói bóng gió về thời cục bằng hình ảnh thơ). Nhưng tôi tin rằng những thế hệ đó được nâng cao vật chất và tinh thần, được học nhiều hiểu rộng gấp mấy mươi chúng ta bây giờ, họ có một quan niệm rộng rãi hơn về xử sự xử thế của những con người sống trước họ, họ ái ngại nhiều hơn là lên án những người trước đây chỉ mới yêu nước trong phạm vi yêu tiếng nói dân tộc mà chưa chuyển được sang những hành động trực diện. Cái học lực của họ sẽ tạo cho họ nhiều độ lượng nhân ái hơn, tình cảm phong phú và thuần khiết hơn, và họ có thể còn cảm thông thâm thúy và quán triệt sâu sắc hơn nữa với hiện tại gần đây của lớp chúng ta. Thực ra cái lớp chúng ta đây cũng là một lớp người chưa thoát đò ngang, cũng là vừa sang xong một vài chuyến, có những chuyến thuận chèo trót lọt, bến đông rộn lên như hội mùa, nhưng cũng có chuyến gian nan tay lái không dẻo thì cũng dễ đắm con đò có lúc đã chiềng hẳn đi.
(Nguyễn Tuân, Thời và thơ Tú Xương, đăng trên báo Văn Nghệ vào tháng 5-1961)

Trần Huy Liệu quy kết trách nhiệm cho Phan Thanh Giản vì đã nhượng bộ Nam Kỳ cho Pháp, ngay cả khi Phan Thanh Giản cũng không thể tự mình ra quyết định nếu đó không phải là mong muốn của triều đình Huế. Thế thì tôi rất tò mò muốn biết thái độ của Trần Huy Liệu về việc Hồ Chí Minh ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt (1946) giữa tình thế mà nhân dân đều nôn nóng đánh Pháp. Sao ông ấy không hiểu rằng về cơ bản thế hệ của Phan Thanh Giản là một thế hệ lực bất tòng tâm. Cũng như việc bọn trẻ bây giờ cứ nhai lại điệp khúc trong sách giáo khoa cho rằng con đường của Phan Châu Trinh là “xin giặc rủ lòng thương”, còn của Phan Bội Châu là “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Nhưng những người như Phan Châu Trinh hay Phan Bội Châu đi theo những con đường như vậy không phải vì họ hèn nhát hơn những chiến sĩ đã rơi đầu đổ máu ở Bãi Sậy, ở Hương Khê, mà vì trong cái thời điểm đó, với điều kiện lịch sử đó, họ chỉ thấy đó là những con đường tối ưu hơn cả. Và phải có những con người “không thành công thì cũng thành nhân đó”, Việt Minh sau này mới thành công.

Colonialism is not satisfied with snaring the people in its net or of draining the colonized brain of any form or substance. With a kind of perverted logic, it turns its attention to the past of the colonized people and distorts it, disfigures it, and destroys it. This effort to demean history prior to colonization today takes on a dialectical significance. When we consider the resources deployed to achieve the cultural alienation so typical of the colonial period, we realize that nothing was left to chance and that the final aim of colonization was to convince the indigenous population it would save them from darkness. The result was to hammer into the heads of the indigenous population that if the colonist were to leave they would regress into barbarism, degradation, and bestiality. At the level of the unconscious, therefore, colonialism was not seeking to be perceived by the indigenous population as a sweet, kindhearted mother who protects her child from a hostile environment, but rather a mother who constantly prevents her basically perverse child from committing suicide or giving free rein to its malevolent instincts. The colonial mother is protecting the child from itself, from its ego, its physiology, its biology, and its ontological misfortune. (p. 149)

“Cái dân An Nam ngu thật!” (bà Phó Đoan, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng)

“Ôi! cả quốc dân An Nam trong ba cõi, hãy lẳng lặng mà nghe nhời trân trọng của Toàn quyền, nên ghi tạc trong tâm khảm, chớ bao giờ quên. Nếu cái văn minh cũ nước Nam quả là tốt đẹp như thế, nếu quốc dân An Nam quả có tính cách hay như thế, nếu quan Toàn quyền không phải vì quá thương lũ ta mà tặng ta cái giá trị quá đáng, thì ta cũng nên mừng thay cho cái hậu vận đất Việt Nam cổ quốc này” (Phạm Quỳnh, Nam Phong số 2)

Tranh Lê Phổ vẽ năm 1930

Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh nhìn Việt Nam bằng cái nhìn của người Pháp tiến bộ; bỏ qua việc làm bồi bút cho Pháp, những phê phán của Nguyễn Văn Vĩnh về xã hội Việt Nam thời bấy giờ là những phê phán đúng.

Nhất Linh và báo Phong Hóa làm tiếp cái công việc của ông Vĩnh chăng?

Though historically limited, the fact remains that the actions of the colonized intellectual do much to support and justify the action of the politicians. And it is true the attitude of the colonized intellectual sometimes takes on the aspect of a cult or religion. But under closer analysis it clearly reflects he is only too aware that he is running the risk of severing the last remaining ties with his people. This stated belief in the existence of a national culture is in fact a burning, desperate return to anything. In order to secure his salvation, in order to escape the supremacy of white culture the colonized intellectual feels the need to return to his unknown roots and lose himself, come what may, among his barbaric people. Because he feels he is becoming alienated, in other words the living focus of contradictions which risk becoming insurmountable, the colonized intellectual wrenches him self from the quagmire which threatens to suck him down, and determined to believe what he finds, he accepts and ratifies it with heart and soul. He finds him self bound to answer for everything and for everyone. He not only becomes an advocate, he accepts being included with the others, and henceforth he can afford to laugh at his past cowardice. (p. 155)

“Tuy đó là một truyện về thanh niên, nhưng tôi cũng bắt đầu từ thế hệ trước, cái thế hệ nho tàn. Các anh có thấy đẹp không? Cả một thế giới đổ sụp, bị nhổ bật rễ lên.” (…) “Thế giới ấy đổ sụp, tiêu tán đi để nhường chỗ cho một thế giới mới, bỡ ngỡ, non nớt, bấp bênh, lung lay trước gió…”
(Khái Hưng, Đẹp, 1941)

It is painful and harrowing wrench is, however, a necessity. Otherwise we will be faced with extremely serious psychoaffective mutilations: individuals without an anchorage, without borders, colorless, stateless, rootless, a body of angels. And it will come as no surprise to hear some colonized intellectuals state: “Speaking as a Senegalese and a Frenchman… Speaking as an Algerian and a Frenchman.” Stumbling over the need to assume two nationalities, two determinations, the intellectual who is Arab and French, or Nigerian and English, if he wants to be sincere with himself, chooses the negation of one of these two determinations. Usually, unwilling or unable to choose, these intellectuals collect all the historical determinations which have conditioned them and place themselves in a thoroughly “universal perspective.” (p. 155)

Mẹ và con, tranh của Victor Tardieu vẽ năm 1925

“It is among my friends that little by little I became aware of who I was: different from all of them. In contact with them, through comparison, I became conscious of who I was, of the ways in which I had less than they, and of what I had in addition to what they had. I heard things about myself during those years, directly and otherwise, that had a clarity and a depth that have never been surpassed. I will add that these judgments bore no dishonor for Annam and our race, far from it. Did they only help me to define myself? They also allowed me to respond in a certain way, to live in a certain way, to feel, to be as I had never been able to before without them. Every plant needs its particular environment in order to blossom, and as one of the students who preceded me once wrote of the school: ‘It is one of the rare places in France where one can show oneself to be truly intelligent’.”
(Phạm Duy Khiêm, 1943, “Quelques souvenirs sur Normale Supérieure”, Indochine: Hebdomadaire illustré, December 30)

In a second stage, the colonized writer has his convictions shaken and decides to cast his mind back. This period corresponds approximately to the immersion we have just described. But since the colonized writer is not integrated with his people, since he maintains an outsider’s relationship to them, he is content to remember. Old childhood memories will surface, old legends be reinterpreted on the basis of a borrowed aesthetic, and a concept of the world discovered under other skies. Sometimes this precombat literature is steeped in humor and allegory, at other times in anguish, malaise, death, and even nausea. Yet underneath the self-loathing, the sound of laughter can be heard. (p. 159)

Rồi trạnh [sic] tưởng đến quê nhà bây giờ đang mỗi phút một xê gần lại, tôi tưởng nhớ đến thầy tôi, một ông Tú già cũ, trong những đêm xuân mưa phùn nặng hột, thường bắt tôi gây một lư trầm Quảng Nam. Cha tôi vặn trục đàn nguyệt kêu cót két, trong gian nhà gác vắng vẻ ở một tỉnh xép kia phố xá lèo tèo. Và ngâm xong hai câu thơ:
Cứ đốt lò hương cho đến sáng,
Thử xem mưa gió đến bao giờ.
cha tôi bảo tôi: “Đánh đàn, kỵ nhất huyên náo. Và nên kỵ nữa là trời nồm, trời mưa, nếu đánh dây tơ. Dây hay dão và ải. Đốt than ở lư trầm, tức như sấy dây cho nó se lại và khỏi đứt. Đêm mưa gió, muốn lấy nhạc để diễn tâm sự, phải đốt lò hương rồi mới se tơ phiếm.”
Cảnh tượng êm đềm ấy diễn lại rõ rệt trong ký ức. Nó làm ấm áp lại một linh hồn đang cảm thấy sự thui thủi mênh mông. Tôi không muốn nghĩ tới điều gì nữa. Tôi chỉ muốn sống cho trọn canh trường với vang và bóng ngày ký vãng.
(Nguyễn Tuân, Một chuyến đi, 1941, Hà Nội: Tân Dân, 195-196)

Nguyễn lại lồng ra đường (…) chàng khom khom tựa vào cột cổng, đứng giải thoát cái nước thừa của cơ thể. Ánh trăng suông lúc về sáng, la đà trên các khóm tre ngoại thành và soi xuống một bãi nước giải. Bãi nước ấm đã im đọng lại thành một mảnh gương. Chờ mãi một cánh cửa mở, tình cờ, Nguyễn đã thấy bóng mình trên tấm gương ấy. ”Mình lại soi mặt mình vào bãi nước tiểu của mình! Một đêm như thế. Và đã có mấy chục trăm đêm như thế, mảnh trăng về sáng kia ơi! Những đêm tối trời thì không nói làm gì, chứ đã có trăng thì Nguyễn lại thấy bóng mình trong một bãi nước giải ấm. Một lần đi tiểu xong, không chiụ được cái bóng trên bãi nước đó, Nguyễn đã nhớ đến một người bạn có chân trong làng Tây. Anh ta có một khẩu súng lục. “Ta sẽ mượn cái súng của nó, trong một buổi, để bắn vào cái bóng thằng người này”. (Nguyễn Tuân, Vô đề)

Tri tânThanh nghị là hai tờ tạp chí lớn nhất của quãng đầu thập niên 40. Cả hai đều không ít thì nhiều phục cổ, ít nhất thì cũng tỏ ra coi trọng các “giá trị cũ”. (nhilinhblog)

Bên thành quách ta ra tay tàn phá.
Giữa hoang loạn của lâu đài, đình tạ,
Ta thản nhiên, đi trở lại núi rừng.
Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng.
(Đinh Hùng, “Bài ca man rợ”, in trong tập Mê Hồn Ca)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s