Đọc tiểu luận What is Writing của Roland Barthes

writing degree zero Barthes

Bản dịch tiếng Anh của Annette Lavers và Colin Smith.

Ta biết rằng ngôn ngữ là một kho ngữ liệu những chuẩn tắc và những thói quen chung của mọi tác giả trong một giai đoạn lịch sử. 

Saussure nói, ký hiệu ngôn ngữ có tính võ đoán ở chỗ không có quan hệ một đối một giữa signifiant signifié, nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ vận hành dựa trên ý chí chủ quan của mỗi cá nhân người dùng ngôn ngữ, mà các tổ hợp signifiant signifié này được kế thừa từ quá khứ, được truyền lại bởi cộng đồng ngôn ngữ nơi ta lớn lên. Ngay cả khi một người muốn thay đổi nghĩa của một từ họ cũng không làm được, thậm chí cả tập thể cũng không làm được. Đó phải là kết quả của các gán ghép tự phát, liên tục được thực hiện bởi vô số các tác nhân trong cộng đồng, từ đời này sang đời khác, giống như sự lắng xuống của phù sa khi các chuyển động đã hoàn tất. Immutability and mutability of the sign không lệ thuộc vào ý chí của chúng ta. Điều đó khiến ngôn ngữ khác với các thiết chế xã hội khác. Luật pháp chẳng hạn, chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi luật pháp nếu tất cả cùng đồng thuận. Nhưng liệu chúng ta có thể tạo ra một sự thay đổi như là bắt tất cả mọi người gọi con chó bằng từ “mèo” và gọi con mèo bằng từ “chó” thông qua một sự đồng thuận của cả tập thể không?

Điều đó có nghĩa là một ngôn ngữ là một loại âm nền tự nhiên lấp đầy biểu đạt của tác giả mà không ban cho nó hình thức hay nội dung gì hết: Nó đã và vẫn là một vòng tròn của những chân lý, mà bên ngoài vòng tròn đó cặn rắn của một thứ logos cá nhân bắt đầu lắng lại. Nó mở ra toàn bộ sáng tạo văn chương nhiều như đất, trời, và ranh giới nơi chúng gặp gỡ vạch ra một môi trường sống quen thuộc cho loài người. 

Một nhà văn hay nhà thơ không thể lựa chọn hình thức biểu đạt nào khác ngoài ngôn ngữ. Họ phải nhận lấy tập hợp các ký hiệu thế hệ trước để lại mà bày tỏ, nhưng bày tỏ cái gì là chuyện của riêng họ. (“Tôi gắng gặt một lượm sống, bó buộc lỏng lẻo bởi dải băng ngôn từ”)

Nhưng cái di sản ngôn ngữ để lại đó không đủ để biểu đạt hết toàn bộ các ý niệm phức tạp của con người. Vả chăng, có những ký hiệu không như ta muốn. Chẳng hạn, có thể Bergson không dùng từ consciousness / conscience mà dùng psychic states / états psychologiques là vì đã có quá nhiều concepts gắn với cái sound-image “consciousness” đó. 

Đoạn logos cá nhân không hiểu cho lắm.

Nó không phải một kho tài liệu mà đúng hơn là một đường chân trời, theo nghĩa vừa đặt ra một giới hạn, vừa đặt ra một góc nhìn; nói tóm lại, nó là một khu vực yên ổn trong một không gian có trật tự. Nhưng người tác giả sẽ không nhận được gì từ nó hết; một ngôn ngữ với anh ta gần như một biên giới, mà nếu băng qua nó sẽ gây ra hiện tượng siêu thực về mặt ngôn ngữ; ngôn ngữ là vùng của hành động, là định nghĩa của và là hy vọng về một khả năng. Ngôn ngữ không phải là một khế ước xã hội, mà là một phản xạ bất khả kháng, một thuộc tính không thể tách rời của con người, chứ không phải của nhà văn; nó nằm ngoài nghi thức của văn chương; nó là một đối tượng xã hội theo định nghĩa chứ không phải theo lựa chọn. Không có những quy tắc ngôn ngữ, không ai có thể giả vờ đưa sự tự do của riêng mình vào trong phương tiện ngôn ngữ bền vững bởi vì đằng sau nó, toàn bộ Lịch Sử thống nhất và toàn vẹn theo một Trật tự Tự nhiên. Do đó, với nhà văn, một ngôn ngữ không gì hơn một đường chân trời của loài người, mang lại một bối cảnh xa xôi của sự quen thuộc, mà tình cờ là, giá trị của nó hoàn toàn âm: nói rằng Camus và Queneau nói cùng ngôn ngữ là, bằng một phép phân biệt, ta thừa nhận sự tồn tại của các ngôn ngữ quá khứ hoặc vị lai mà họ không dùng.  Lửng lơ giữa những hình thức chưa được sử dụng hoặc chưa được biết, ngôn ngữ nhà văn không phải là một quỹ để rút ra mà là một giới hạn kiệt cùng; nó là locus hình học của toàn bộ những gì mà anh ta không thể nói nếu thiếu, giống như Orpheus nhìn về sau, mất đi cái nghĩa cố định của chính mình và động tác cốt yếu của một tồn tại xã hội.

Theo Saussure, một signifiant có nghĩa khi nó khác với các signifiant khác, tương tự với signifié. Sự khác biệt làm nên ý nghĩa của từng mặt của một ký hiệu, mà Saussure gọi là “giá trị âm”. Định nghĩa một từ nằm ở chỗ không có nó trong các từ còn lại. Còn giá trị dương được thiết lập trong mối liên hệ giữa signifiantsignifié. Một ký hiệu có giá trị dương vì mối quan hệ giữa hai mặt signifiantsignifié, có giá trị âm trong hệ thống biểu nghĩa.

Ngôn ngữ do đó ở phía bên này của Văn Chương. Phong cách thì gần như nằm phía bên kia: tưởng tượng, tu từ, từ vựng sinh sôi từ cơ thể và quá khứ của nhà văn và dần trở thành những phản xạ đặc thù của nghệ thuật nhà văn.

Hàn Mặc Tử, chẳng hạn, thường dùng signifiant là “trăng” nhưng với những signifié rất khác nhau. Đó là các gán ghép (association) từ tưởng tượng, hoặc từ những tương tác phức tạp của cái vô ý thức bên trong nhà thơ, xuất phát từ nỗi đau thể xác và các ẩn ức sinh lý. Các signifiant “máu”, “trăng”, “nước” dường như xuất hiện rất nhiều trong thế giới thơ Hàn Mặc Tử; có thể xem đó là những phản xạ đặc thù của nhà thơ.

Dưới tên gọi phong cách, một ngôn ngữ độc lập được tiến hóa, bắt rễ không chỉ từ vực sâu của huyền thoại bí mật và cá nhân tác giả, cái phụ phẩm của biểu hiện nơi sự giao hợp đầu tiên giữa từ vựng và kinh nghiệm diễn ra, nơi mà một lần vã mãi mãi những chủ đề ngôn từ lớn của cuộc đời anh ta được cài đặt.

Sẽ có lúc nào đó, nhà văn hoặc nhà thơ tạo ra các ký hiệu mà gắn với phong cách của riêng mình. Kafka với “phiên tòa”, “hóa thân”, đó là những ký hiệu của phong cách Kafka. Và nó phải xuất phát từ những ấn tượng từ cuộc sống, nhất là từ tuổi trẻ. Một người trải qua một tuổi trẻ ở các quán rượu và cà phê và đường phố sẽ hình thành những ký hiệu mà có các signifiant nằm trong các trường nghĩa liên quan đến thành thị. Một người trải qua thời hoa niên ở miền quê với chợ quê, cánh đồng, sự vắng lặng, tiếng dế và ếch nhái sẽ hình thành những ký hiệu có các signifiant nằm trong các trường nghĩa liên quan đến nông thôn. Chẳng hạn vậy.

Dù cho có phức tạp đến mức nào, phong cách vẫn luôn thô sơ: Nó là một hình thức không có điểm đến rõ ràng, là sản phẩm của một sự xô đẩy, không phải cố tình, và là một chiều kích suy nghĩ cô độc và theo chiều dọc. 

Mặc dù bắt chụp một từ vựng để gọi tên một cảm giác, nhưng có thể vẫn không nắm bắt được trọn vẹn cái cảm giác đó. Sự gán ghép giữa sound-image và concept ở đây là một phản xạ bộc phát của tác giả, và nó có thể chứa đựng nhiều tham chiếu đến những kinh nghiệm cá nhân, do đó người khác sẽ không hiểu, và do đó tác giả là một người cô độc ở phương diện thế giới của các ký hiệu trong vùng phong cách là thế giới của riêng tác giả mà thôi.

Ở đây tôi là vị hoàng đế. – Thanh Tâm Tuyền

Như Roger Waters khi tạo ra album The Wall, những signifiant như “bức tường”, “viên gạch”, “căn nhà trống”, chúng đều tham chiếu đến các kinh nghiệm cá nhân. Nếu người nghe không chịu khó hiểu thì sẽ không thấy được.

Bộ khung tham chiếu của phong cách là sinh lý và tiểu sử, không phải lịch sử: nó là một sở hữu của tác giả, là vinh quang và ngục tù của anh ta, nó là sự cô độc của chính anh ta. Phong cách không can hệ gì đến xã hội và tường minh với xã hội; nó là một chu trình cá nhân khép kín, không phải là sản phẩm của một lựa chọn hay của một suy tư về Văn Chương. Nó là phần riêng tư của nghi thức, nó trỗi dậy từ lũng sâu của huyền thoại của người viết và bung nở vượt ngoài phạm vi kiểm soát của người viết. Nó là cái giọng điệu trang trí của xác thịt sâu kín; nó vận hành như cái Tất Yếu, như thể trong sự sinh sôi này, phong cách không là gì hơn kết quả của một sự hóa thân ngang bướng và mù quáng bắt nguồn từ một ngôn ngữ thứ cấp được tạo ra nơi xác thịt và thực tại gặp nhau. Phong cách là một dạng hiện tượng mọc mầm, đột biến của một cái Uy Mua (Humor). 

(…)

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s