Jeremy Harmer về việc dạy writing

jeremy-harmer-ve-viec-day-writing

Quyển How to Teach Writing (2004), Jeremy Harmer biên soạn, là một phần của bộ sách How to Teach do nhà xuất bản Pearson Longman ấn hành. Ta biết Jeremy Harmer là tác giả của cuốn sách vỡ lòng về ELT cho các giáo viên tiếng Anh, The Practice of English Language Teaching; ông cũng là một trong những tác giả viết sách về phương pháp giảng dạy nổi tiếng nhất, cùng với Scott Thornbury.

Vốn theo dõi sát sao các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, Jeremy Harmer khi viết cuốn sách phương pháp dạy writing này cũng đưa vào bàn luận những phát hiện mới ở thời điểm cuốn sách ra đời (mặc dù “mới” ở đây nghĩa là cách thời điểm hiện tại gần 20 năm rồi), như là hiệu quả của phản hồi từ giáo viên và bạn học, mối quan hệ tương hỗ giữa đọc và viết, hay lợi ích của journal reading với người học bậc cao. 

Sau khi đọc cuốn sách này, có một số khái niệm hữu ích mà mình rút ra được cho bản thân như sau:

Writing as a process

Chương đầu của sách nói về quy trình viết chung mà hầu hết tất cả mọi người đều tuân thủ. Jeremy Harmer minh họa nó bằng sơ đồ mà ông gọi là the process wheel, gồm các bước cơ bản như hoạch định, viết nháp, hay chỉnh sửa. Ông chỉ ra hạn chế của cách dạy writing kiểu cũ là giáo viên chỉ giao bài, rồi hôm sau nhận bài viết hoàn chỉnh của học trò mà chấm: học trò sẽ chỉ ngó qua điểm số rồi cất đi chứ hiếm khi ngó lại lần thứ hai. Nói cách khác, đó là cách dạy writing chỉ quan tâm đến thành quả sau cùng mà không nhìn nhận writing như một quá trình, và như vậy thì học trò sẽ chỉ biết là đúng hay sai cái gì chứ không biết được viết như thế nào. [Đây chính là nhầm lẫn mà mình mắc phải khi dạy lớp 8 khóa trước.]

thầy Jeremy Harmer

Thay vào đó, Harmer đề xuất người giáo viên phải theo sát học trò qua từng bước một, từ brainstorming (học trò làm việc theo nhóm động não, suy nghĩ ý tưởng cho một chủ đề gì đó) đến các guided tasks (những bài tập nhỏ giúp học trò sẵn sàng trước khi bắt đầu viết). Giáo viên phải khuyến khích học trò động não, không chỉ để nảy ra ý hay mà còn phải luôn nhất quán với mục đích và đối tượng độc giả. 

Khi đã viết bài rồi, giáo viên cũng phải động viên học trò tự đánh giá và tự sửa lỗi. Có thể cung cấp cho một trò một checklist những lỗi cần sửa (như về spelling, punctuation, subject-verb agreements, v.v..). Harmer nhiều lần nhắc đến collaborative writing như một phương pháp giúp học trò có thể thảo luận về việc viết, đề xuất những thay đổi, đóng góp hoàn thiện bài viết. Viết hoàn toàn có thể được thực hiện theo nhóm, chứ không phải chỉ là việc cá nhân (Ibrahim & Penfield, 2005; Storch, 2005).

Không chỉ đánh giá bài viết đã hoàn tất, mà giáo viên phải phản hồi thường xuyên một bản nháp đang trong quá trình thành hình. Đọc, đặt câu hỏi, đề xuất một cấu trúc ngữ pháp khác hoặc một cách dùng từ khác, cách làm này sẽ giúp ích học trò rất nhiều. Bài viết mẫu cũng rất quan trọng. Giáo viên nên trình bày một bài viết mẫu trước. 

Nhưng cũng nên tránh việc chia nhỏ một quá trình tư duy liên tục, dẫn đến gây mất thời gian và cản trở sự sáng tạo, ứng biến của học trò. Nếu cứ quanh quẩn mãi trong những bản nháp thì sẽ không thể nào hoàn tất. Jeremy Harmer gọi đó là the process trap. Để tránh việc này nên đặt ra thời hạn cho các bài viết một cách rõ ràng.

Lexical density

Cũng trong chương đầu, Jeremy Harmer bàn về những khác biệt giữa speaking và writing. Trong đó, đáng chú ý nhất là sự khác biệt về lexical density, tạm dịch là mật độ ngữ nghĩa. Nó là cụm từ để chỉ tỷ lệ content words so với grammatical words. Chẳng hạn, flowers, run, orange, happily là những content words, còn if, was, and, with là những grammatical words. Đặc thù của văn viết là phải hàm súc, tránh các lối diễn đạt gián tiếp, dài dòng, nên tránh grammatical words. Mệnh đề quan hệ chẳng hạn, sẽ rất hữu ích khi dùng để cắt nghĩa những khái niệm phức tạp, nhưng nếu chúng ta biết được từ vựng để chỉ đích danh, chính xác khái niệm đó, thì sẽ khiến bài viết hàm súc hơn nhiều. Đây là vấn đề mà nhiều học trò của mình hiện tại đang mắc phải, vì phần đông đều nghĩ rằng “viết cũng chỉ là nói, nhưng dưới dạng văn bản”. Điều này không đúng. 

Thêm nữa, trong lựa chọn từ vựng, phải ý thức được có những từ dùng nhiều trong speaking hơn writing, như từ guy hay cool. Các cụm động từ cũng nên được thay bằng những động từ (như thay deal with bằng handle hoặc tackle chẳng hạn). 

Genres matter

Một điểm đáng nói về tình hình dạy viết ở Việt Nam, mà cũng liên quan đến tình hình dạy tiếng Anh nói chung, đó ảnh hưởng của việc thi lấy chứng chỉ IELTS lên chương trình và cách thức giảng dạy (backwash effect). Hầu như trong cách nghĩ của mọi người, học viết tức là học IELTS writing: học viết report cho IELTS writing task 1 và học viết discursive essay cho IELTS writing task 2. Nhưng writing nhiều hơn như vậy. Chúng ta còn có viết quảng cáo, viết thông báo, viết email, viết truyện, viết văn miêu tả, viết thơ, vân vân. Giảng dạy luyện thi IELTS đã làm nghèo nàn đi sự phong phú của thực tiễn viết lách.

Trong chương 2 của cuốn How to Teach Writing, Jeremy Harmer có nói về tầm quan trọng của việc hiểu về genres. Hiểu về thể loại mình viết giúp mình lựa chọn từ vựng thuộc phạm trù kiến thức đó (topic vocabulary) và cả sắc thái biểu đạt phù hợp (tone), hai thứ làm nên cái gọi là register của một bài viết. Ngoài ra, trong thực tiễn, muốn viết tốt một cái gì đó, ngoài kiến thức về thể loại, còn phải có kiến thức văn hóa xã hội (tức là hiểu về cộng đồng ngôn ngữ mà bài viết của mình hướng đến) và kiến thức về lĩnh vực mà mình viết. 

Rất tiếc vì chính mình cũng đang dạy một khóa về IELTS writing, nên dựa trên thời lượng hạn hẹp của khóa học, mình cũng không thể đưa vào quá nhiều thứ thuộc về các thể loại khác ngoài thể loại các bài viết cho IELTS.

Cohesion and coherence

Cả hai đặc điểm này của một văn bản đều được nêu trong IELTS Writing Band Descriptors, nhưng hiển nhiên trong đó không nói rõ thế nào là cohesion và thế nào là coherence. 

Trong chương 2, Jeremy Harmer giải thích, cohesion là sự liên kết bài viết về mặt hình thức, mà người ta có thể dùng các phương tiện thuộc nhóm lexical cohesive devices như repetition of words (lặp lại những từ mấu chốt), lexical set ‘chains’ (dùng những từ thuộc cùng trường nghĩa), hoặc thuộc nhóm grammatical cohesive devices như pronoun and possessive reference (đại từ và tham chiếu sở hữu), article reference (tham chiếu mạo từ), tense agreement (thì), linkers (hay discourse markers, tức những từ liên kết), và substitution and ellipsis (thay thế và bỏ khuyết).

Còn coherence là sự liên kết về mặt nội dung. Tiêu chí này được đảm bảo khi xuyên suốt bài viết, người đọc luôn nắm rõ dụng ý của người viết (writer’s purpose) và mạch tư duy của người viết (writer’s line of thought).

Jeremy cũng nhắc cần tránh rơi vào the genre trap, tức là giáo viên trở nên giáo điều bắt học trò viết theo một tiêu chuẩn nghiêm ngặt định sẵn (prescriptive) thay vì theo một cách phóng khoáng hơn, gần gũi với thực tế cuộc sống hơn (descriptive). Nên có không gian cho học trò sáng tạo, cải tiến, thay vì bắt học trò phải lặp lại y chang bài viết mẫu. Để giúp học trò tự mình nắm được cái tinh thần chung của một thể loại, nên để học trò đọc càng nhiều bài mẫu càng tốt, và xem đó như là những ví dụ của một thể loại, đây gọi là variety of exposure.

Writing for learning và Writing for writing

Jeremy Harmer phân biệt hai loại writing: writing for learning là việc đưa hoạt động viết vào bài giảng để hỗ trợ việc dạy các kiến thức hoặc kỹ năng khác, như dạy ngữ pháp hay dạy từ vựng; writing for writing mới là dạy viết để người học viết tốt hơn. Và ông gợi ý một số hoạt động dạy viết như sau:

Writing for learning

Viết để củng cố kiến thức từ vựng hoặc ngữ pháp vừa học

Chẳng hạn, vừa dạy xong về câu điều kiện loại 3, có thể yêu cầu học trò: “Write two sentences about things you wish had turned out differently, and two sentences about things you are pleased about”. Thì học trò có thể viết những câu như, “If I hadn’t failed my exams, I would have gone to university” (things you wish had turned out differently) và “If I hadn’t gone to that party, I wouldn’t have met my boyfriend” (things you are pleased about).

Tương tự, cũng có thể yêu cầu học trò viết câu mà trong đó có 1 từ vựng vừa được học. Cụ thể hơn, khi dạy từ vựng miêu tả vóc dáng và tính cách người, có thể yêu cầu học trò viết một đoạn văn tả một người bạn hoặc một thành viên trong gia đình.

Vài ví dụ khác: kể một câu chuyện trong quá khứ sử dụng thì quá khứ đơn; viết đoạn văn gồm 5-6 câu sử dụng các liên từ.

Viết để luyện nói

Chẳng hạn, yêu cầu học trò hoàn thành câu bắt đầu bằng: “I like / don’t like going to parties because…”. Sau khi học trò ghi ra rồi, mới cho cả lớp thực hành hỏi và trả lời câu hỏi “Do you like going to parties? Why?” Học trò có thể đọc những gì mình đã ghi, hoặc dựa trên ý tưởng mình vừa ghi ra để nói. Cách làm này giúp câu nói được chỉn chu hơn, ý tưởng mạch lạc hơn.

Cũng có thể cho học trò viết các gạch đầu dòng để phục vụ cho hoạt động tranh luận về chủ đề nào đó.

Các hoạt động viết khác

Có thể yêu cầu học trò viết một đoạn thoại ngắn mà sau đó phải diễn xuất, trong đó phải có các câu thể hiện chức năng giao tiếp mời mọc hoặc đề xuất ý kiến. Cũng có thể yêu cầu học trò làm việc nhóm và soạn một cái questionaire cho bạn học, rồi sau đó cho mọi người đi vòng quanh để làm khảo sát.

Writing for writing

Quy trình dạy viết mà Harmer đề xuất gồm các bước: (1) Đọc bài viết mẫu và trả lời các câu hỏi để hiểu rõ về cách viết bài mẫu; (2) Đưa ra một đề bài tương tự và để học trò làm; (3) Học trò lên bảng ghi ra bài viết của mình, sau đó giáo viên và bạn học cùng bàn luận, đề xuất chỉnh sửa; (4) Đọc một bài mẫu thứ hai và điền khuyết, bàn luận về sự khác biệt giữa hai bài mẫu; (5) Cho bài tập về nhà để viết.

Vai trò của người giáo viên trong việc dạy viết

Khi dạy viết, người giáo viên phải có những phần việc sau: demonstrating (cho học trò xem bài mẫu và thảo luận để học trò chú ý và hiểu về các đặc điểm thể loại, như khi dạy một bài viết mẫu của IELTS writing task 1, highlight những động từ diễn tả sự thay đổi để học trò ghi nhớ chúng), motivating and provoking (gợi mở khi học trò bí ý tưởng, động viên khi học trò nản chí, có khi nên cho học trò một số từ vựng trước khi học trò viết bài), supporting (luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ học trò giải quyết các vướng mắc trong việc viết, không chỉ về ý tưởng mà còn về ngôn ngữ), responding (phản hồi các bản nháp, trong lúc bài viết đang thành hình, đặt câu hỏi để học trò thấy được những hạn chế và đề xuất cách cải thiện), evaluating (đánh giá bài viết học trò sau khi đã hoàn thành).

Tầm quan trọng của hình thức

Một trong những khác biệt giữa speaking và writing là writing đòi hỏi cao hơn về well-formedness, tạm hiểu là sự chuẩn chỉn của những gì được viết ra. Chính vì thế, Harmer nhấn mạnh những chi tiết thuộc về hình thức như chính tả, viết hoa hay viết thường, dấu câu.

Một hoạt động luyện cách đặt dấu câu đúng là cho học trò xem một số đoạn văn sai về dấu câu và yêu cầu chỉnh sửa; hoặc cho một đoạn văn không có dấu và yêu cầu học trò thêm dấu câu vào.

Có một số hoạt động luyện viết thú vị được đề xuất ở chương 4 mà có thể áp dụng cho lớp cấp thấp:

  • Dictation: hoạt động kinh điển dùng để check từ vựng. Chẳng hạn, gọi 3 học trò lên bảng, giáo viên đọc 3 từ vựng thuộc chủ đề vừa học là “pollution” và học trò phải ghi ra từ mà mình nghe được.
  • Digraph: Chia bảng thành 2 cột, đầu một cột ghi “gh”, cột kia ghi “sp”. Học trò chia làm 2 nhóm, lên ghi bất cứ từ vựng nào mình biết mà trong đó có chứa digraph “gh” hoặc “sp”. Đây là hoạt động vui để luyện spelling và học từ.
  • Whisper writing: Giống như là tam sao thất bản. Chia lớp thành 2 nhóm, hai bạn bàn đầu sẽ được xem 1 câu, sau đó nói nhỏ chuyền tai cho bạn bàn dưới, cứ thế, đến khi hai bạn bàn cuối cùng nghe được câu này thì lên bảng ghi ra.
  • Paragraph writing: Cho một card thông tin, yêu cầu học trò viết đoạn văn dựa trên card thông tin đó. Chẳng hạn, thông tin tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, công việc của một người, rồi viết một đoạn văn về người đó. Show bài mẫu, rồi mới cho bài tập.

(…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s