Lý thuyết Ý của Plato

the-school-of-athens

Plato sinh ra trong một gia đình giàu có vào những ngày cuối cùng của đế chế Athens. Khi chiến tranh giữa Athens và Sparta kết thúc vào năm 405, Plato mới ở độ tuổi đôi mươi, vừa đủ để đi lính như những người anh của mình. Chú của Plato là Critias và Charmids, hai trong số Bao mươi Bạo chúa. Án tử cho Socrates năm 399 dưới một nền dân chủ được phục hồi đã khiến Plato cả đời ngờ vực những kẻ diễn thuyết và chán ghét sự nghiệp chính trị ở Athens.

Năm bốn mươi tuổi, Plato đến Sicily và có một mối thâm giao với Dion, người anh rể của vua Dionysius II. Khi về Athens, ông lập một trường học gọi là Academy, trong một khu rừng tư hữu cạnh nhà. Mô hình của nó dựa trên các cộng đồng theo học phái của Pythagoras ở Ý, một nhóm những người có suy nghĩ giống nhau cùng hứng thú với toán học, siêu hình học, luân lý học và huyền học. Ở tuổi sáu mươi, Plato được mời trở lại Sicily để làm cố vấn cho cháu trai của Dion, người vừa kế nhiệm ngôi vương của Sionysius II. Sự nghiệp cố vấn hoàng gia của Plato không thành công, cả về mặt chính trị lẫn triết học, và đến năm 360, ông về lại Athens. Ông chết trong yên bình tại một bữa tiệc cưới ở Athens ở tuổi 81, vẫn còn độc thân.

The statue of Plato,

Ngoài những thông tin ít ỏi trên, vốn được thêu dệt bởi nhiều tác giả vào cuối thời cổ đại, chúng ta không biết gì mấy về cuộc đời Plato. Tuy nhiên, khác với Socrates, Plato để lại nhiều trước tác về triết học, mà toàn bộ chúng đều còn nguyên vẹn đến hôm nay. Nhưng những công trình này lại ở dạng đối thoại, và bản thân Plato chưa bao giờ xuất hiện trong những mẩu đối thoại đó với tư cách người phát ngôn. Do đó, rất khó để biết trong số những lập trường triết học đa dạng và lắm khi mâu thuẫn được đưa ra bởi các nhân vật trong mẩu đối thoại, đâu mới là lập trường mà Plato tin vào. Khi ta cố khám phá lập trường triết học của bản thân Plato, ta có rất ít chắc chắn; nhưng những nhà phê bình đều có một sự đồng thuận nhất định về những đường hướng phát triển của tư tưởng Plato.

Những ghi chép của Plato rơi vào ba nhóm. Nhóm đầu tiên, được viết sớm nhất, là những mẩu đối thoại mà Socrates xuất hiện với vai trò một người chất vấn và xua đi cái danh hão của những kẻ tự nhận là thông thái lúc bấy giờ. Euthyphro cho thấy một kiểu mẫu điển hình của phần lớn các mẩu đối thoại này: ai đó, thường tên người này cũng là nhan đề mẩu đối thoại, tự xưng là mình hiểu biết về một lĩnh vực nào đó, và sự chất vấn của Socrates làm người ta thấy rõ cái tri thức tự xưng đó chỉ là hữu danh vô thực. Theo kiểu mẫu đó, chủ đề lòng can đảm được bàn trong Laches, sự chừng mực được bàn trong Charmides, tình bạn được bàn trong Lysis, cái đẹp được bàn trong Hippias Major, và việc ngâm thơ trong Ion, cũng như cái gọi là lòng mộ đạo được bàn trong Euthyphro. Mẩu đối thoại Hippias Minor đã chỉ ra chủ đề của Socrates về hành vi sai quấy cố ý và vô ý.

Ở nhóm tác phẩm trung tâm của Plato, được viết khi ông đã trưởng thành, Socrates vẫn một lần nữa là nhân vật trung tâm; nhưng ông không còn đơn giản là một công tố viên kết án những kẻ trí thức giả hình. Lúc này, Socrates hiện ra như một người thầy, trình bày chi tiết những suy nghĩ triết học của mình. Những mẩu đối thoại lúc này dài hơn, và nội dung của chúng khó để hiểu hết: Phaedo, Gorgias, Protagoras, Meno, Symposium, Phaedrus và nổi tiếng nhất là Republic. Điểm chung của phần lớn các tác phẩm thuộc nhóm này là sự trở đi trở lại của Lý thuyết Ý.

Ở nhóm tác phẩm cuối cùng của Plato, vai trò của Socrates mờ nhạt đi; đôi khi ông chỉ là một nhân vật phụ, đôi khi ông thậm chí không xuất hiện. Một chiếc cầu nối giữa nhóm tác phẩm giữa và nhóm tác phẩm cuối này là Theaetetus, tìm kiếm một định nghĩa về tri thức: Socrates ở đây vẫn giữ vai trò quen thuộc như một ‘bà đỡ’ của suy nghĩ. Trong Parmenides, Socrates xuất hiện như một người đàn ông trẻ tuổi nể sợ Parmenides tiền bối trong khi những lập luận hàm súc và phức tạp được trình bày để phản biện bại Lý thuyết Ý. Trong Philebus, chủ đề là khoái cảm, Socrates lần nữa giữ vai trò chính; trong Sophist, chủ đề là hiện hữu và không hiện hữu, và trong Statesman, về loại hình chính phủ tối ưu, ông có mặt nhưng không có vai trò đáng kể trong thảo luận. Ở nhóm tác phẩm sau cùng và cũng là dài nhất, The Laws, trình bày ra một hiến pháp chi tiết cho một thành quốc tưởng tượng, Socrates không hề xuất hiện.

Completed in November 895, this is the oldest surviving manuscript of Plato’s Tetralogies 1-6 (Euthyphro-Meno), with some scholia

Các học giả thường tranh cãi về cách diễn giải góc nhìn lạnh lùng và phản biện với Lý thuyết Ý xuất hiện ở những mẩu đối thoại sau này. Phải chăng Plato đã bỏ lý thuyết đó ở khoảng giữa cuộc đời? Hay ông nghĩ rằng những lập luận đó chỉ có tính cách biện luận chứ không có giá trị chân lý, và muốn người đọc tự tìm ra cách bác bỏ chúng? Sự mông lung ở đây đến từ một mẩu đối thoại khác, Timaeus, ghi chép đã trình bày vũ trụ luận của Plato mà mãi đến thời Phục Hưng mới trở thành ghi chép nổi tiếng nhất của ông. Trong Timaeus, Lý thuyết Ý xuất hiện mà không hề bị phê phán; thắc mắc nếu có chỉ là không biết rằng nó được Plato viết giai đoạn giữa hay giai đoạn sau của cuộc đời. Sự phát triển của tư tưởng Plato dễ hiểu hơn nếu ta đặt Timaeus bên cạnh những tác phẩm như Republic; nhưng nếu ta so sánh những tác phẩm về mặt phong cách, thì Timaeus sẽ giống với nhóm các tác phẩm chứa Sophist hơn. Vấn đề về niên đại vẫn chưa được giải quyết và có lẽ sẽ tiếp tục gây tranh cãi giữa các học giả.

Nhưng hãy cùng bàn kỹ về Lý Thuyết Ý, thứ đã làm nền móng cho các mẩu đối thoại quãng giữa cuộc đời Plato và cung cấp một xương sống cho các luận điểm ở các đối thoại về sau. Socrates từng nói về cái đẹp thuần túy và cái thiện thuần túy trong Phaedo, và nó rất liên quan đến cái gọi là Lý thuyết Ý.

Lý thuyết Ý

Chesire là mèo. Goose là mèo. Figaro là mèo. Thì theo Plato, cả Chesire, Goose lẫn Figaro đều là những sự vật cụ thể có liên quan đến ý Mèo. Plato liệt kê rất nhiều ý như ý Tốt, ý Xấu, ý Tròn, ý Hiện Hữu, hay ý Giống. Đôi khi, trong các trước tác của mình, Plato nêu ra nguyên tắc của mình về ý một cách phổ quát, nhưng đôi khi ông lại ngần ngại áp dụng nó. Lướt qua hết những gì Plato từng viết về ý, ta thấy có những luận đề sau đây:

(1) Khi một thứ là F, đó là bởi vì nó là thành phần hoặc là mô phỏng của ý F.

(2) Không có ý nào là thành phần hoặc là mô phỏng của chính nó.

(3a) Ý F là F

(3b) Ý F không là gì ngoài F.

(4) Những ý không ở trong không-thời gian, chúng không có thành phần, không thay đổi, và cũng không thể nghe, nhìn, chạm, ngửi, nếm.

Tuy nhiên, (1), (2) và (3) bị nhập nhằng ở chỗ, cả F, ý F, lẫn những thứ là thành phần hoặc là mô phỏng của ý F đều là một. Aristotle gọi sự mâu thuẫn này của lý thuyết ý của Plato là “The Third Man argument”. Vấn đề này của lý thuyết Plato đôi khi cũng được gọi là “vấn đề của cái phổ quát”. Thời nay, có bốn niệm có thể giống với ý của Plato:

Plato & Aristotle, a detail from Raphael’s The school of Athens

(A) Concrete Universals: trong câu “nước là chất lỏng”, từ “nước” được nhiều triết gia xem là một thứ phổ quát bị phân tán thành nhiều thứ cụ thể, như nước ở hồ, sông, biển, vân viên. Đây là một ví dụ về cái phổ quát cụ thể, và nó tương đối giống với ý của Plato. Nó giải thích vì sao Plato thích gọi những ý của mình một cách cụ thể (the beautiful) chứ không phải trừu tượng (beauty). Và nó cũng giải thích chỗ những cái riêng là thành phần của cái chung là ý, như nước trong chai, nước trong giếng,.v.v. đều là những cái thành phần của nước nói chung. Tuy nhiên, niệm này lại không tương thích với ý (4) nói trên, vì nước thì có thể thay đổi, ở trong không-thời gian, và có thể nghe, nhìn, chạm, ngửi, nếm.

(B) Paradigms: Cũng có người đề xuất việc xem ý của Plato giống như những mẫu hoặc tiêu chuẩn. Quan hệ giữa ý và các sự vật là thành phần của ý giống với quan hệ giữa những vật có cùng chiều dài 1m và cái tiêu chuẩn đo lường 1m. Nhưng cũng giống với concrete universal, niệm này không thỏa mãn được luận đề (4) vì mét thì có thể tri nhận bằng giác quan.

(C) Attributes and Properties. Các nhà luận lý thi thoảng nói về các thuộc tính. Những thứ có cùng một thuộc tính, thì cũng giống như những thứ là thành phần của cùng một ý. Nhưng nếu dùng niệm này để giải thích Plato thì ta sẽ gặp vướng víu ở luận đề (3) vì, chẳng hạn, nói Socrates là người thì Socrates có thuộc tính “là người”, nhưng “là người” thì đâu phải “người”.

(D) Classes. Dựa vào thuộc tính mà các sự vật có thể tập hợp lại thành các nhóm có thuộc tính giống nhau. Nhóm là một niệm có thể giải thích được ý của Plato. Những vật cùng có thuộc tính F thì thuộc cùng một nhóm, và mỗi vật đều là F. Nhóm thì khác với thuộc tính ở chỗ, nhóm luôn có thể mở rộng, còn thuộc tính thì không. Không rõ ý của Plato sẽ thiên về nhóm hay thuộc tính. Nhưng nếu suy nghĩ theo hướng này, cũng có một số nhập nhằng với luận đề của Plato.

Những khái niệm như thuộc tính hay nhóm có vẻ không được phức tạp bằng ý niệm của Plato; chúng không biện giải được nhiều phương diện của lý thuyết Ý. 

Republic của Plato

Plato dựa vào Lý thuyết Ý không chỉ ở phạm trù luận lý và siêu hình học, mà còn ở lý thuyết về tri thức và những nền tảng của luân lý. Để thấy những cách áp dụng Lý thuyết Ý khác nhau của Plato trong thời trưởng thành, không gì phù hợp hơn việc xem xét mẩu đối thoại nổi tiếng nhất của ông, The Republic, tức Cộng hòa.

Title page of the oldest complete manuscript: Paris, Bibliothèque Nationale, Gr. 1807 (late 9th century)

Mục đích chính của mẩu đối thoại này là tìm kiếm một định nghĩa về công lý, và luận đề mà nó tuyên xưng là ‘công lý là sức khỏe của linh hồn’. Nhưng để chứng minh luận đề đó thì mất khá nhiều thời gian, và khi đạt được rồi thì cũng có thể diễn giải nó theo nhiều cách khác nhau.

Republic gồm nhiều cuốn mà cuốn đầu tiên thử đưa ra một số định nghĩa về công lý, chúng đều bị Socrates bác bỏ. Cuốn sách đầu tiên thực sự có thể đứng riêng một mình, tồn tại độc lập, nhưng nó cũng làm rõ cấu trúc trọng yếu của toàn bộ Republic, vốn dựa trên một phương pháp lập luận mà Plato xem trọng và gọi là ‘biện chứng pháp’.

Khi thực hành biện chứng pháp, ta sẽ nêu ra một giả thuyết rồi cố gắng chứng minh rằng nó dẫn đến mâu thuẫn: ta sẽ trình bày cái mà gọi theo tiếng Hy Lạp là elenchus. Nếu elenchus thành công, và mâu thuẫn tồn tại thì giả thuyết bị bác bỏ; sau đó ta lại tiếp tục kiểm tra những giả thuyết khác cho đến khi có một giả thuyết không thể bị bác bỏ.

Toàn bộ phương pháp này được minh họa trong cuốn sách đầu tiên của Republic. Elenchus đầu tiên rất ngắn gọn. Người bạn cũ của Socrates là Cephalus đưa ra giả thuyết rằng công lý là nói sự thật và hoàn trả những gì mà ta vay mượn người khác. Socrates mới hỏi rằng: liệu việc trả lại vũ khí cho một người bạn bị điên thì có xem là công lý không? Cephalus đồng tình rằng nó không phải; và thế là Socrates kết luận ‘công lý không thể được định nghĩa là nói thật và trả lại những gì đã vay mượn’. Cephalus thoái lui khỏi cuộc tranh luận.

to be continued

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s