Athens của Socrates

Những ngày huy hoàng nhất của Hy Lạp cổ đại rơi vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên, trong khoảng 50 năm hòa bình giữa hai thời kỳ binh biến. Đó là thế kỷ mở ra với chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư và khép lại với những cuộc nội chiến giữa các thành quốc bên trong Hy Lạp; khoảng giữa hai thời kỳ chiến tranh đó là giai đoạn nảy nở nền văn minh vĩ đại của thành quốc Athens.

Ionia, quê hương của những triết gia đầu tiên, đã bị đặt dưới sự cai trị của Ba Tư từ giữa thế kỷ thứ 6. Năm 499, những người Hy Lạp ở Ionia nổi lên chống lại vua Ba Tư Darius, nhưng thất bại. Sau khi dẹp yên bạo loạn, Darius xâm lược các nơi khác của Hy Lạp để trừng trị những kẻ đã hỗ trợ cho cuộc nổi dậy này. Một lực lượng mà chủ yếu là quân Athens đã đánh bại đội quân xâm lược của Ba Tư tại Marathon năm 490. Con trai của Darius là Xerxes phát động một cuộc viễn chinh lớn hơn vào năm 484 và đánh bại đội quân của Spartans tại Thermopylae, và buộc những người Athens phải tản cư khỏi thành phố của chính mình. Nhưng sau đó quân Ba Tư lại bị đánh bại bởi thủy quân Hy Lạp ở khu vực gần đảo Salamis, và sự chiến thắng trên đất liền của quân Hy Lạp tại Platea năm 479 đã chấm dứt cuộc xâm lược này.

Sau những cuộc chiến chống ngoại xâm nói trên, Athens nổi lên nắm giữ vai trò thủ lĩnh của liên minh các thành quốc Hy Lạp. Chính những người Hy Lạp ở Athens đã giải phóng người Hy Lạp ở Ionia, và cũng chính Athens, với sự hậu thuẫn từ những thành quốc khác, đã chỉ huy thủy quân gìn giữ độc lập cho vùng biển Aegea và Ionia. Cái liên minh ban đầu đó dần trở thành đế chế Athens.

Leonidas at Thermopylae, 1814, by Jacques-Louis David. © The Gallery Collection/Corbis

Athens theo chế độ dân chủ và cũng là ví dụ chân thực đầu tiên cho thể chế chính trị này. Nền dân chủ ở Athens không giống như nền dân chủ hiện đại, nơi mà công dân bầu ra các đại diện cho mình để hình thành chính phủ. Ở đây, mỗi công dân đều có quyền tự mình dự phần vào chính phủ bằng cách tham dự vào hội đồng thành quốc, nơi họ có thể nghe những bài diễn thuyết của các chính trị gia và biểu quyết cho một đường lối mà họ ưng thuận. Để dễ hiểu, cứ tưởng tượng rằng những thành viên của một nội các và nội các bóng tối nói chuyện trên sóng tryền hình trong suốt hai giờ đồng hồ, sau đó một bản kiến nghị được đề xuất, và quyết định sẽ được đưa ra dựa trên số phiếu bầu thu thập từ tất cả mọi người xem đài; họ chỉ việc ở nhà và bấm nút ‘đồng ý’ hay ‘không đồng ý’ mà thôi. Cũng cần nói thêm rằng, chỉ có nam giới trên hai mươi tuổi mới được phép bỏ phiếu; phụ nữ, trẻ em, nô lệ và người ngoài thành không được bầu.

Bộ máy tư pháp và lập pháp ở Athens được lập ra bằng cách bốc thăm từ những thành viên của một hội đồng hơn 30 tuổi; luật pháp được thông qua bởi một ban hội thẩm gồm 1000 người được chọn chỉ trong một ngày và những phiên tòa lớn sẽ được tiến hành trước một bồi thẩm đoàn gồm 501 người. Ngay cả những quan tòa – những nhà hành pháp lãnh nhiệm vụ thực thi các quyết định của chính phủ, dù thuộc về tòa án, tài chính, hay quân đội – đều được chọn lựa chủ yếu bằng bốc thăm; chỉ khoảng một trăm người là những viên chức được bầu chọn.

Đây là một cơ chế cho phép thường dân được dự phần rất nhiều vào chính phủ mà chưa từng có trước đó, và cũng chưa từng có từ đó trở đi. Cần nhớ điều này khi đọc những gì mà các triết gia Hy Lạp viết về cái lợi và hại của thiết chế dân chủ. Hiến pháp của người Athens vốn đã có từ những cuộc cải cách của Cleisthenes vào năm 508 trước công nguyên, và năm đó thường được xem là năm khai sinh của nền dân chủ.

Acropolis, Athens, Greece

Nền dân chủ ở Athens lại không hề mâu thuẫn với sự lãnh đạo của giới quý tộc, và suốt thời kỳ của đế chế Athens, bằng phổ thông đầu phiếu, được điều hành bởi Pericles, chắt họ của Cleisthenes. Pericles đã thiết lập một chương trình đây tham vọng nhằm tái thiết những ngôi đền của thành quốc vốn đã bị phá hoại bởi Xerxes. Đến tận bây giờ, nhiều du khách trên thế giới vẫn đến đây để xem tàn tích của các tòa kiến trúc do Pericles phục dựng tại Acropolis. Những bức phù điêu trang trí các ngôi đền này giờ đây là những tài sản giá trị nhất của các viện bảo tàng lưu giữ chúng. Đền Parthenon, thờ nữ thần Athena, được xây nên như một lời tạ ơn vì đã phù hộ cho dân Hy Lạp chiến thắng chiến tranh với Ba Tư. Bộ sưu tập các tác phẩm điêu khắc của Hy Lạp ‘The Elgin Marbles’ ở Bảo tàng Anh, vốn được đem về Anh từ những tàn tích của lãnh chúa Elgin năm 1803, tái hiện một lễ hội lớn ở Athens cổ đại, lễ hội Panathenaea, cũng giống như cái lễ hội mà Parmenides và Zeno đã được chứng kiến trong những năm khi mà các công trình kiến trúc này chỉ vừa mới được xây dựng. Khi chương trình của Pericles hoàn thành, Athens có thể nói là nơi mà có kiến trúc và điêu khắc mà không nơi nào trên thế giới lúc bấy giờ có thể sánh kịp.

Athens cũng ở địa vị hàng đầu trong lĩnh vực sân khấu và văn chương. Aeschylus, người đã chiến đấu trong chiến tranh Ba Tư, là người viết bi tráng kịch vĩ đại đầu tiên: ông đã mang đến cho sân khấu những nam nữ anh hùng trong sử thi Homer và sự tái hiện lại cuộc trở về và vụ ám sát Agamemnon vẫn còn gây thích thú và sợ hãi. Aeschylus cũng tái hiện những thảm họa đã xảy đến với vua Xerxes. Những kịch tác gia trẻ tuổi hơn, như kịch tác gia bảo thủ Sophocles và kịch tác gia cấp tiến và hoài nghi Euripides, đã đặt ra mẫu mực cổ điển cho bi tráng kịch. Những vở kịch của Sophocles về vua Oedipus, kẻ giết cha và lấy mẹ mình, cũng như sự khắc họa của Euripides về Medea không chỉ là những tác phẩm kinh điển của thế kỷ 21 mà còn tạo được những âm vang bức bối trong tâm thức thể kỷ 21. Sử ký cũng bắt đầu từ thế kỷ này, với biên niên sử của Herodotus về chiến tranh Ba Tư viết vào những năm đầu thế kỷ, và các ghi chép về chiến tranh giữa các thành quốc của Thucydides.

Anaxagoras

Triết học cũng đến với Athens dưới thời của Pericles. Anaxagoras ở Clazomenae (gần Izmir) sinh vào khoảng năm 500 trước công nguyên và theo đó lớn hơn Democritus 40 tuổi. Ông đến Athens sau chiến tranh Ba Tư và trở thành một người bạn cũng như cộng sự của Pericles. Ông viết một cuốn sách về triết học tự nhiên theo phong cách của những tiền nhân của mình ở Ionia, chịu nhiều ảnh hưởng của Anaximenes; đây là luận thuyết đầu tiên mà bên trong có chứa đồ hình.

Anaxagoras

Quan niệm của Anaxagoras về nguồn gốc thế giới rất giống với một mô hình nổi tiếng ngày nay. Ông cho rằng, thuở ban sơ, mọi thứ đều là một, một hạt nhân phức tạp vô hạn và nhỏ vô hạn, thiếu vắng những phẩm chất có thể tri nhận được. Cái hạt nhân nguyên thủy đó bắt đầu xoay và mở rộng, đồng thời phóng ra ngoài không khí và bầu trời, và cuối cùng là những vì sao và mặt trời cùng mặt trăng. Trong quá trình xoay của nó, cái đặc phân tách khỏi cái loãng, cái nóng khỏi cái lạnh, cái sáng khỏi cái tối, cái khô khỏi cái ướt. Những cái đặc, ướt, lạnh, tối sau đó tập hợp lại thành đất, còn những cái loãng, nóng, khô, sáng di chuyển ra những phần bên ngoài tạo thành trời.

Tuy nhiên, Anaxagoras cũng cho rằng, vì mọi thứ vốn có cùng nguồn gốc hạt nhân, nên trong mỗi vật đều có một phần của mọi vật khác; trong tối có một ít sáng, trong nhẹ có một ít nặng. Điều này thấy rõ nhất ở tinh dịch, thứ mà hẳn là phải chứa cả tóc và móng, cơ và xương, và nhiều thứ khác. Sự mở rộng của vũ trụ, theo Anaxagoras, vẫn tiếp tục diễn ra cho đến hiện tại, và sẽ tiếp tục trong tương lai; có thể nó bây giờ đã phóng ra những thế giới sống khác với thế giới mà chúng ta vẫn biết.

Chuyển động phóng ra sự phát triển của vũ trụ đã được kích hoạt bởi cái gọi là Mind. Mind là cái gì đó hoàn toàn khác với toàn bộ những thứ mà nó tạo ra. Nó vô hạn và phân tán, và không cư ngụ trong vật chất; nếu có, nó cũng sẽ bị cuốn vào quá trình tiến hóa và không thể kiểm soát được chính quá trình đó.

Vào khoảng những năm 430 trước công nguyên, danh tiếng của Pericles bắt đầu suy giảm, và Anaxagoras, với tư cách là lý thuyết gia của Pericles, đã trở thành mục tiêu bị tấn công. Anaxagoras nói rằng mặt trời là một quả cầu lửa lớn hơn cả bán đảo Peloponnesus. Điều này được cho là không nhất quán với sự thờ phụng mặt trời như một vị thần, và đã trở thành cơ sở để kết tội bất kính với thần linh cho Anaxagoras. Vị triết gia này sau đó đã phải lưu vong đến Lampsacus thuộc Hellespont và sống ở đó đến khi mất năm 428.

Các sophist

Anaxagoras, suốt thời kỳ trị vì của Pericles, không hề có đối thủ nào như một triết gia thường trú tại Athens. Nhưng cũng trong thời gian này, thành quốc chào đón những chuyến viếng thăm của các nhà tư tưởng mà danh tiếng của họ về sau cũng không thua kém gì Anaxagoras. Họ là những thuyết gia lưu động được gọi là các sophist. Họ sẵn lòng truyền dạy các kỹ năng hoặc tư vấn về nhiều lĩnh vực khác nhau, để đổi lại một khoản thu nhập nhất định.

Vì Athens không có hệ thống giáo dục cao học, chính những sophist trở thành người hướng dẫn cho các thanh niên có tiền để chi trả cho việc học hỏi về nghệ thuật cũng như những thông tin mà họ cần trong cuộc sống. Vì việc thuyết trình là một phần tất yếu trong các hội đồng thành quốc cũng như ở các tòa án, thuật hùng biện được xem trọng và các sophist được mời đến để dạy và giúp đỡ người ta trong việc thuyết trình. Nhiều người cho rằng bởi vì các sophist chủ yếu quan tâm đến thuật hùng biện hơn là truy cầu sự thật, nên không thể xem các sophist là triết gia chân chính. Tuy nhiên, vẫn có một số cá nhân lỗi lạc trong các sophist từng đưa ra những lập luận triết học rất đáng lưu tâm.

Pericles’ Funeral Oration, By Philipp Foltz (c. 1805–1877)

Vị sophist nổi tiếng nhất là Protagoras của Abdera, người đã đến Athens nhiều lần vào giai đoạn giữa thế kỷ thứ năm trước công nguyên, và đã được Pericles mời để soạn hiến pháp cho một thuộc địa của Athens. Phần lớn những gì ta biết về Protagoras đến từ các ghi chép của Plato, người đã đánh giá thấp các sophist, cho rằng họ gây ảnh hưởng xấu lên trên thanh thiếu niên, cổ súy cho thái độ hoài nghi, thuyết tương đối, và học phái khuyển nho. Nhưng với riêng Protagoras thì Plato lại xem trọng và đã thử đưa ra câu trả lời cho các lập luận của Protagoras.

Về mặt tôn giáo, Protagoras là người theo thuyết bất khả tri. Ông nói rằng, ‘Tôi không thể chắc rằng liệu thượng đế có tồn tại hay không, nếu có thì trông như thế nào; vì có quá nhiều thứ cản trở việc hiểu biết về họ: sự mơ hồ của các chủ thể, sự ngắn ngủi của kiếp người’. Protagoras có xu hướng là người theo nhân văn chủ nghĩa hơn là hữu thần luận khi ông nói: ‘Con người là thước đo của mọi thứ, cả những thứ vốn là cái nó là, cả những thứ vốn không phải là cái nó không phải là’.

Câu này có thể hiểu là, bất cứ thứ gì chân thực, hiện hữu với một người, dù thông qua tri nhận hay bằng suy tưởng, thì sẽ chân thực, hiện hữu với người đó. Quan điểm này thì ngược lại với cái gọi là sự thật khách quan, vì nó hàm chỉ rằng không có gì là đúng tuyệt đối, mà chỉ đúng một cách tương đối với một cá nhân nào đó mà thôi. Khi người ta khác nhau về niềm tin, thì không có nghĩa là người này đúng còn người kia sai. Democritus, sau nữa là Plato, phản biện lại quan điểm này của Protagoras, cho rằng chính quan điểm này tự phủ định chính nó. Vì nếu mọi niềm tin đều đúng, thì trong số những niềm tin đúng đó, có bao gồm cả niềm tin rằng không phải niềm tin nào cũng đúng. 

Một vị sophist khác là Gorgias ở Leontini, từng là học trò của Empedocles. Ông là người thầy đầu tiên và trước nhất về thuật hùng biện, những tiểu luận của ông về cách trau chuốt phong cách diễn thuyết đã ảnh hưởng lên lịch sử diễn thuyết của Hy Lạp. Nhưng ông cũng là một triết gia với khuynh hướng hoài nghi hơn Protagoras. Ông được cho là người chủ trương rằng không có gì trên đời; nếu có bất cứ thứ gì thì ta cũng không thể hiểu biết nó được, và nếu có cái gì mà có thể hiểu biết được thì nó cũng không thể được truyền đạt từ người này sang người khác.

Plague in an Ancient City, Michiel Sweerts, c. 1652–1654

Lúc Gorgias đến Athens, khoảng năm 427 TCN, cuộc chiến đã bắt đầu giữa Athens và Sparta, được gọi là cuộc chiến tranh ở Peloponnesia. Trong một thời gian ngắn sau khi chiến tranh nổ ra, Pericles qua đời và hết chiến dịch này đến chiến dịch khác của Athens đều thất bại. Các trận thua lẫn dịch bệnh tàn phá Athens, khiến họ trở nên tàn nhẫn và không khoan nhượng trong việc binh đao. Họ đã đánh mất chính nghĩa và sự cao quý vào năm 416 khi đánh chiếm đảo Melos, tàn sát đàn ông và nô dịch đàn bà cùng trẻ nhỏ. Những bi tráng kịch về sau của Euripides và một vài vở hài kịch của người cùng thời Euripides là Aristophanes đã thể hiện một biểu tình chống lại sự hiếu chiến của Athens. Cuối cùng, Athens đại bại sau khi bị một đội thủy quân đánh tan ở Aegospotami năm 405 TCN. Đế chế Athens đến hồi diệt vong và vai trò thủ lĩnh của Hy Lạp được truyền sang tay của người Hy Lạp ở Sparta. Nhưng những ngày huy hoàng của triết học ở Athen vẫn còn tiếp tục.

Socrates

Trong số những người phục vụ ở binh đoàn bộ binh của Athens có Socrates, con trai của Sophroniscus; lúc chiến tranh nổ ra, ông 38 tuổi. Ông có mặt ở ba trong số những trận chiến quan trọng vào những năm đầu chiến tranh và đã giành được một danh tiếng đáng kể cho sự dũng cảm của mình. Hồi năm 406 TCN, ông làm việc văn phòng của hội đồng thành quốc thời điểm mà một nhóm các tướng lĩnh bị đưa ra tòa vì đã bỏ lại xác của những liệt sĩ trong trận chiến trên biển ở Arginusae. Việc xét xử tập thể các tướng lĩnh thay vì cá nhân là bất hợp pháp, nhưng chỉ có một mình Socrates là người đã bỏ phiếu chống lại việc đó, nên cuối cùng các tướng lĩnh đều bị xử tội.

Socrates bust, British museum

Khi chiến tranh kết thúc năm 404 TCN, người Spartans thay thế chế độ dân chủ ở Athens bằng một chế độ quyền lực tập trung được gọi là Ba mươi Bạo chúa, họ đã thiết lập một triều đại gây nhiều khiếp sợ cho người Athens. Socrates được ra lệnh phải bắt giữ một người đàn ông vô tội, nhưng ông không đếm xỉa đến mệnh lệnh này. Rất nhanh sau đó ông đã phải trả giá cho sự chính trực của mình, sự chính trực đã khiến ông không có tiếng tăm mấy với những người dân chủ và giới quý tộc.

Socrates quan trọng đến độ trong lịch sử triết học, toàn bộ các triết gia trước ông đều bị các sử gia gộp chung lại mà gọi là những triết gia ‘trước Socrates’. Thế nhưng ông lại chẳng có một trước tác nào hết, các chi tiết về cuộc đời ông, ngoại trừ những sự kiện kịch tính, đều mơ hồ, một đối tượng gây tranh cãi giữa các học giả. Không thiếu người viết tiểu sử về ông, thậm chí nhiều người cùng thời với ông lẫn những hậu bối của ông đều ghi lại các cuộc đối thoại mà ông cầm trịch. Cái khó ở chỗ phân biệt giữa thực tế tỉnh táo với hư cấu được thêu dệt do lòng ái mộ. Những người viết tiểu sử Socrates đều nói với chúng ta rằng ông có vẻ ngoài thô kệch, xấu xí, bụng bự, mũi tẹt; nhưng dường như mọi sự đồng tình đều chỉ dừng lại ở đó. Hai tác giả mà tác phẩm của họ vẫn còn nguyên vẹn, một là sử gia quân sự Xenophon, hai là triết gia duy tâm chủ nghĩa Plato, đều vẽ ra những bức chân dung Socrates khác nhau, tương tự như trường hợp thánh Mark và thánh John viết về Jesus khác nhau.

Trong đời mình, Socrates bị móc mỉa bởi kịch tác gia hài kịch Aristophanes, người khắc họa Socrates như một kẻ lập dị vụng về và đồi bại, đã theo đuổi những hiếu kỳ khoa học với đầu óc trên mây. Nhưng Socrates không phải một triết gia tự nhiên, ông dường như là một sophist nhưng thuộc loại đặc biệt. Ông cũng là một sophist theo nghĩa ông dành nhiều thời gian để thảo luận và tranh luận với những người đàn ông trẻ tuổi giàu có (vài người trong số họ đạt được quyền lực khi chế độ quyền lực tập trung thay thế chế độ dân chủ). Nhưng không giống các sophist khác, ông không tính phí khi diễn thuyết, và phương pháp giáo dục của ông không phải để chỉ dẫn mà là để chất vấn; ông nói rằng ông giống như một bà mụ, “đỡ đẻ” các suy tư mà người trẻ tuổi đang thai nghén. Cũng không giống với các sophist, ông không tuyên bố rằng bản thân sở hữu kiến thức hay kỹ năng chuyên môn gì đặc biệt.

Ở thời này, người ta rất chú ý đến những lời sấm được cho là của thần Apollo truyền đạt thông qua các thầy tế ở đền Delphi. Khi được hỏi liệu có ai thông minh hơn Socrates không, một thầy tế trả lời rằng không ai cả. Socrates tự nhận là bản thân thấy khó hiểu với lời sấm này, ông từng chất vấn hết người này đến người khác, từ chính trị gia, nhà thơ cho đến các chuyên gia tự nhận là sở hữu trí thông minh thuộc nhiều loại khác nhau. Không một ai trong số họ có thể bảo toàn được danh tiếng về trí thông minh trước những câu hỏi của Socrates, và Socrates kết luận rằng lời sấm đúng ở chỗ tự bản thân ông đã nhận ra rằng trí thông minh của ông chẳng có gì đáng giá.

Sự theo đuổi tri thức chân chính và bóc trần những cái sai lầm giả hình có ý nghĩa nhất ở phương diện luân lý. Theo Socrates, tri thức về luân lý và đức hạnh là một và giống nhau. Vì nếu ai đó đã có tri thức về đúng-sai, phải-trái, thì tất họ sẽ làm điều đúng chứ không làm điều sai; Còn nếu đã làm sai, đó hẳn là vì họ không có tri thức về đúng-sai, phải-trái, vì làm gì có ai mà lại cố tình làm sai, trong khi tất cả mọi người đều muốn sống một cách đúng đắn? Thế thì với những người làm sai, chúng ta không nên trừng phạt họ, mà phải chỉ dẫn họ. Cái luận thuyết này của Socrates đôi khi được các sử gia gọi là ‘nghịch lý Socrates’.

Socrates không tuyên bố rằng bản thân sở hữu trí tuệ gì có thể giúp ông tránh khỏi sai sót, nhầm lẫn. Thay vào đó, ông nói rằng ông dựa vào một tiếng nói thần thánh bên trong, cái tiếng nói sẽ can thiệp nếu ông sắp sửa có một nước đi nhầm lẫn.

The Debate Of Socrates And Aspasia by Nicolas André Monsiaux, 1801 via Pushkin Museum, Moscow

Những người có thẩm quyền bất đồng với những lời giảng của Socrates đều đồng thuận về cái chết của Socrates. Những mối thù Socrates đã gây lấy vì chính tính cách thẳng thắn của mình và những tổn hại danh tiếng mà Socrates đã gây ra cho nhiều kẻ cùng thời cộng dồn lại để chống lại ông, ở tuổi 70, một loạt các án của kinh thành cáo buộc ông về tội bất kính với thần linh, về việc xiển dương những loại thánh thần dị giáo và về việc đã đầu độc tư tưởng những thanh niên Athens. Plato, người đã có mặt ở phiên xử Socrates, đã viết sau khi Socrates chết, một bài diễn văn theo kiểu kịch về lời biện hộ của chính Socrates có tên là Apology.

Kẻ đã kết tội Socrates là Meletus, người cho rằng Socrates đầu độc tư tưởng thanh niên. Nếu vậy thì ai là người đã giúp thanh niên tốt hơn? Meletus trả lời, chẳng hạn như các vị thẩm phán, các thành viên của hội đồng lập pháp, rồi đến các thành viên của hội đồng thành quốc, và sau cùng là mỗi một công dân Athens, trừ Socrates. Quả là một điều may mắn cho tuổi trẻ của thành quốc! Socrates tiếp tục hỏi liệu sống giữa những người tốt với giữa những người xấu thì cái nào tốt hơn? Bất cứ ai cũng hiển nhiên sẽ chọn sống giữa những người tốt, vì người xấu có khuynh hướng làm hại người ta; nếu vậy thì chính Socrates lại chẳng có bất cứ một động cơ gì để mà đi đầu độc tư tưởng người trẻ hết, và nếu ông có làm vậy một cách vô tình, thì phải giáo dục cho ông hiểu chứ không nên khởi kiện ông.

Socrates tiếp tục nói về cáo cuộc bất kính với thánh thần. Ông hỏi, rốt cuộc thì ông bị buộc tội vô thần hay tội xiển dương các thần thánh kỳ lạ? Vì cả hai cáo buộc này không nhất quán với nhau, và trên thực tế, Meletus dường như đã nhầm ông với Anaxagoras, người nói rằng mặt trời làm từ đá và mặt trăng làm từ đất. Còn chuyện vô thần, Socrates đáp rằng sứ mệnh của ông với tư cách một triết gia là được giao cho ông bởi thần thánh, và những gì ông làm – lật tẩy những tri thức giả hiệu – là một thực hành phụng sự lời sấm của đền Delphi. Vậy thì ông chỉ phản bội thần thánh khi ông trốn tránh nhiệm vụ của mình vì sợ chết. Nếu ông được bảo rằng ông có thể tự do với điều kiện ngừng truy vấn triết học, ông sẽ đáp lại rằng: “Hỡi nhân dân Athens, tôi tôn trọng và yêu quý các người; nhưng tôi sẽ vâng lời thượng đế chứ không phải các người, và trong khi tôi còn được sống và còn sức mạnh, tôi sẽ không bao giờ ngừng thực hành và giảng dạy triết học’.

Socrates khép lại lời biện hộ của mình bằng cách chỉ vào các học trò và người thân của ông có mặt ở tòa án, không một ai trong số họ được gọi lên để làm chứng minh oan cho ông. Ông từ chối làm giống những người khác và nói trước tòa rằng những đứa con đang nức nở của ông chỉ là những người dưng vì cảm thương mà khóc: nằm trong tay của các thẩm phán, ông tìm kiếm sự công bằng chứ không phải lòng thương hại.

Khi phán quyết được đưa ra từ một bồi thảm đoàn gồm 501 người, Socrates bị tuyên án tử hình. Trong bài diễn văn sau khi bị kết án, Socrates nói với thẩm phán rằng sẽ không khó để ông có thể lựa chọn lời biện hộ giúp bản thân được tha bổng, nhưng cái loại chiêu trò đó là quá thấp kém với ông. ‘Cái khó không phải là tránh cái chết, mà là tránh sự sai trái; vì nó đến còn nhanh hơn cái chết’. Socrates, lúc này đã già và chậm chạp, đã bị cái chết đuổi kịp; nhưng những kẻ nhanh nhẩu buộc tội ông thì cũng đã bị cái sai vượt mặt. Xuyên suốt phiên tòa, tiếng nói thần thánh bên trong ông chưa bao giờ cất lên để ghì ông lại, và vậy nên ông bằng lòng đi đến cái chết.

Liệu chết có phải là một giấc ngủ không mộng mị? Một giấc ngủ như thế thì đáng quý hơn hầu hết ngày và đêm của cuộc đời của kẻ sống may mắn nhất. Liệu cái chết có phải là một hành trình đến thế giới khác? Tráng lệ làm sao khi có thể gặp được cái chết huy hoàng và gặp gỡ Hesiod và Homer! ‘Nếu những giả định đó là thật thì cứ để tôi chết nhiều lần nữa’. Ông có rất nhiều câu hỏi đặt ra cho những người đàn ông và đàn bà vĩ đại trong quá khứ; và trong cái thế giới tiếp theo mà ông đặt chân vào sẽ không ai bị kêu án tử vì đặt câu hỏi hết. ‘Giờ chia tay đã đến, và chúng ta sẽ đi con đường của mình – Ta sẽ chết, và các cậu sẽ sống. Sống và chết, đâu mới là thứ tốt hơn, chỉ có thượng đế mới biết mà thôi.’ 

[Perhaps the reason why Nietzsche criticizes Socrates is that Socrates dreamed of another world after death, instead of focusing on this only world; that if he dies for his way of living, it should be for the life he has lived, not for the possibility of the afterlife that can be].

3 Comments

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s