Ngôn ngữ học tri nhận (1): Cấu trúc ngôn ngữ và cấu trúc nhận thức

ngon-ngu-hoc-tri-nhan-1

Mọi hướng tiếp cận trong nghiên cứu ngôn ngữ học đều đi đến việc mô tả và lý giải tính hệ thống, cấu trúc, và chức năng của ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ học tri nhận khác với các nhánh khác ở chỗ, nó tồn tại trên một giả định rằng ngôn ngữ phản ánh cách con người nhận thức thế giới, rằng thông qua ngôn ngữ, người ta sẽ hiểu về cách tâm trí con người hoạt động. Chính giả định này đã làm cơ sở cho việc vạch ra phạm vi nghiên cứu, phương pháp luận và các mô hình nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận.

Ngôn ngữ học tri nhân vẫn còn là một trường phái tương đối mới mẻ trong ngôn ngữ học nói chung, nó hình thành trong một lĩnh vực nghiên cứu đa ngành gọi là khoa học nhận thức. Để hiểu được những vấn đề mà ngôn ngữ học tri nhận đang tìm cách giải quyết, trước hết, cần trả lời câu hỏi biết một ngôn ngữ là như thế nào. Việc trả lời câu hỏi đó sẽ mở ra hướng tiếp cận, góc nhìn và những giả định cả ngôn ngữ học tri nhận.

Ngôn ngữ để làm gì?

Ngôn ngữ cho phép chúng ta bày tỏ suy nghĩ một cách nhanh chóng và hiệu quả bởi nó cung cấp một phương tiện tiên tiến giúp mã hóatruyền đi những ý nghĩ phức tạp và tinh tế. Đó cũng là hai chức năng mấu chốt của ngôn ngữ: chức năng ký hiệu chức năng tương tác.

Chức năng ký hiệu của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là tập hợp những ký hiệu, vốn cấu thành từ hai mặt gắn liền với nhau là hình thứcý nghĩa. Hình thức có thể là âm thanh, có thể là chữ viết hoặc cả cử chỉ, điệu bộ. Còn ý nghĩa là một hình ảnh, một khái niệm hiện lên trong đầu khi ta bắt gặp cái hình thức tương ứng.

Saussure

Chẳng hạn khi ta nói chair thì cái âm thanh phát ra [tʃer] là hình thức, và một người khi nghe từ chair, trong đầu họ hiện lên hình ảnh một cái ghế, thì hình ảnh đó là ý nghĩa.

Cần nói rõ rằng hình ảnh của cái ghế hiện lên trong đầu của ta không phải là hình ảnh của một cái ghế cụ thể nào trong thế giới thực, mà chỉ là một mental image, hay còn gọi là ý niệm (concept), là một đúc kết, khái quát từ vô vàn các kinh nghiệm của tri giác.

Năng lực nhận thức cho phép chúng ta tổng hợp những thông tin tri giác thô sơ để tạo thành một mental image nhất quán và rõ rang trong đầu. Toàn bộ ý nghĩa được mã hóa bởi các ký hiệu ngôn ngữ tham chiếu đến cái gọi là thực tại được phóng chiếu trong đầu chúng ta: đó không phải là thực tại, mà là một tái hiện của thực tại, vốn được phân tích lý giải bởi trí óc ta và thông qua hệ thống tri giác và tri nhận đặc thù của chúng ta.

Các ý niệm thì vô hạn, ngôn ngữ thì hữu hạn, nên nhiều khi người ta gặp phải trường hợp “không biết phải diễn đạt bằng lời thế nào”. Ngôn ngữ chỉ có thể cung cấp những dấu nhắc (prompt), nó không thể mã hóa toàn bộ ý nghĩ phức tạp, mà chỉ đưa ra những chỉ dẫn sơ bộ đến hệ thống ý niệm trong đầu nhằm tiếp cận sử dụng và sản tạo ra những ý nghĩ phong phú, tinh tế.

Khi nghe câu: “Con mèo nhảy qua bức tường”, trong đầu ta có thể phóng ra nhiều hình ảnh khác nhau về sự việc được miêu tả:

Ví dụ trên cho thấy ngôn ngữ không thể “bắt chụp” hết mọi suy nghĩ của ta, mà chỉ có thể là những dấu nhắc.

Chức năng tương tác của ngôn ngữ

(…)

Cấu trúc của ngôn ngữ

Bằng chứng của tính cấu trúc

Làm sao biết ngôn ngữ là một cấu trúc? Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có những ký hiệu, hay những cặp hình thức – ý nghĩa, gọi là những đơn vị ngôn ngữ. Bản thân từ chair, là một đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất, nên nó được gọi là một hình vị. Một từ có thể chứa nhiều hình vị, như anti-dis-establish, nhiều từ có thể ghép lại với nhau tạo thành một ngữ đoạn hoặc một câu, tất nhiên là phải tuân thủ theo những nguyên tắc ngữ pháp nhất định.

Chính vì hiện tượng những đơn vị ngôn ngữ nhỏ có thể kết hợp với nhau theo nguyên tắc để hình thành những đơn vị ngôn ngữ lớn hơn; và ngược lại, những đơn vị ngôn ngữ lớn có thể bị phân tích theo nguyên tắc thành những đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn, thuộc nhiều cấp độ khác nhau, mà ta có thể thấy tính chất hệ thống của ngôn ngữ. Tức là, giữa các đơn vị ngôn ngữ có mối quan hệ mang tính hệ thống với nhau.

Schopenhauer

Cấu trúc của tư duy

Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng tư duy cũng có tính hệ thống. Cấu trúc tâm trí là một phản ánh của cấu trúc thế giới. Chẳng hạn:

(a) Christmas is fast approaching.

(b) The number of shares we own has gone up.

(c) Those two have a very close friendship.

Ba ví dụ trên liên quan đến ba phạm trù ý niệm (conceptual domains) là thời gian (a), lượng (b) và tình cảm (c). Một phạm trù ý niệm là một thể kiến thức bên trong hệ thống ý niệm chứa đựng và tổ chức những ý tưởng và kinh nghiệm liên quan với nhau. Chẳng hạn, phạm trù ý niệm thời gian thì liên quan đến từ Christmas. Nhưng cũng cần lưu ý rằng trong các ví dụ (a), (b), (c) ở trên, những ý niệm trừu tượng như Christmas, number hoặc friendship đều đặt bên cạnh những phạm trù ý niệm liên quan đến trải nghiệm vật lý cụ thể, như approaching (chuyển động) – mặc dù Christmas thì không thể chuyển động, gone up (lên cao) và close (khoảng cách).

Một trong những phát hiện quan trọng trong nghiên cứu về hệ thống ý niệm của tâm trí con người đó là chúng ta sẽ hiểu những ý niệm trừu tượng dễ dàng hơn khi thông qua những phạm trù ý niệm liên quan đến trải nghiệm vật lý cụ thể như chuyển động, lên cao, hay khoảng cách.

Công việc của một nhà ngôn ngữ học tri nhận

Đặt giả thuyết về bản chất ngôn ngữ và hệ thống ý niệm mà nó phản ánh, và giả thuyết này phải đạt được sự thỏa đáng về mặt mô tả, nghĩa là nó mô tả được những thực tế ngôn ngữ theo một cách có thệ thống. Sau đó nhà ngôn ngữ phải khám phá, mô tả và lập mô hình những hệ thống ngôn ngữ, với mong muốn hiểu về nhận thức của con người; Ngôn ngữ học theo đó là một trong những ngành khoa học nhận thức. Để làm được, nhà ngôn ngữ học tri nhận phải dựa trên phân tích dữ liệu cũng như trực giác của người dùng ngôn ngữ ngữ và bằng chứng hội tụ. Một ví dụ về bằng chứng hội tụ là sự phản ánh ngôn ngữ học của sự phân biệt trong tâm lý học về vậtbề mặt (kiểu con mèo ở trên cái ghế; cái ghế ở dưới con mèo).

Biết một ngôn ngữ không chỉ là biết nói một ngôn ngữ. Cần phân biệt hai loại tri thức về ngôn ngữ: ngôn ngữ cung cấp một tái hiện tri nhận (cognitive representation), và nó được chia thành hai hệ thống là ngữ nghĩangữ pháp. Hệ thống ngữ nghĩa chứa những thành phần nhóm mở thực hiện chức năng nội dung. Hệ thống ngữ pháp chứa những thành phần nhóm đóng thực hiện chức năng kết cấu, cung cấp nghĩa sơ đồ.

(Trong cuốn How to teach writing, Jeremy Harmer gọi là content wordsgrammatical words).

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s