giải quyết một sự tò mò 2 năm qua

giai-quyet-mot-su-to-mo-3

Rốt cuộc thì thứ văn chương duy nhất mà tôi chịu đọc vẫn chủ yếu là văn của Nguyễn Tuân, và cả những tác phẩm giống như Cát bụi chân ai của Tô Hoài. Điểm chung của chúng là không có một kết cấu định trước, mà dường như được viết ra một cách miên man trong cảm hứng. Gọi là tùy bút hay tạp ghi gì cũng được, quan trọng là chúng phải cuốn tôi vào một cảm giác nào đó. Chẳng hạn cái đoạn sau của Tô Hoài:

“Chiều thứ bảy, như có đoàn thám hiểm ập đến nơi hoang vu. Đấy là những chuyên gia Thụy Điển làm việc ở xưởng tàu Phà Rừng ngồi ca nô đến, có mấy cô gái điếm đi theo. Một cô khoe với tôi ở ngoài hành lang là cô đã đọc Vợ chồng A Phủ! Các người nước ngoài chơi trên sân gác sáng tràng, quẳng vỏ chai Lúa Mới xuống vịnh, hò hát lảm nhảm suốt đêm. Hôm sau, một đám trai gái từ Hà Nội xuống đi tàu ra đảo. Như những người digan lang thang. Bạt và màn cuốn trong ba lô, vai đeo những can nhựa đựng rượu. Hỏi ra đều là cán bộ kỹ thuật và văn phòng đi chơi ngày nghỉ, sớm thứ hai lại có mặt ở các sở làm. Các bạn trẻ đều đã học ở nước ngoài về. Cuộc nhảy không có nhạc, nền xi măng lạo xạo ngay trước phòng tôi. Các bạn mời tôi ra chơi rồi xúm lại kéo tôi nhảy. Không ánh trăng, không đèn, không tiếng nhạc, chỉ có tiếng quay mình huỳnh huỵch, chân lào xào như người đi đêm trên bãi cát. Tôi đành kiếu. Nhớ một đêm nhảy múa man dại thế này trong tiếng trống rầm rộ trên bờ biển thành phố Dar es Salaam xế dưới Đông Phi. Chốc nữa, các bạn ấy trở về dãy nhà ngang đằng kia, mười mấy người mà chỉ thuê có một buồng. Tôi ngồi lại đây trông vào mịt mùng nhìn thấy xa lắc xa lơ một thời đã qua. Âu cũng là cái nhộn nhạo thuở nào được khuấy động chốc lát. Tôi cũng sợ rồi, tôi ngồi im.”

hay như đoạn sau của Nguyễn Tuân:

Rồi trạnh [sic] tưởng đến quê nhà bây giờ đang mỗi phút một xê gần lại, tôi tưởng nhớ đến thầy tôi, một ông Tú già cũ, trong những đêm xuân mưa phùn nặng hột, thường bắt tôi gây một lư trầm Quảng Nam. Cha tôi vặn trục đàn nguyệt kêu cót két, trong gian nhà gác vắng vẻ ở một tỉnh xép kia phố xá lèo tèo. Và ngâm xong hai câu thơ:

Cứ đốt lò hương cho đến sáng,

Thử xem mưa gió đến bao giờ.

cha tôi bảo tôi: “Đánh đàn, kỵ nhất huyên náo. Và nên kỵ nữa là trời nồm, trời mưa, nếu đánh dây tơ. Dây hay dão và ải. Đốt than ở lư trầm, tức như sấy dây cho nó se lại và khỏi đứt. Đêm mưa gió, muốn lấy nhạc để diễn tâm sự, phải đốt lò hương rồi mới se tơ phiếm.”

Cảnh tượng êm đềm ấy diễn lại rõ rệt trong ký ức. Nó làm ấm áp lại một linh hồn đang cảm thấy sự thui thủi mênh mông. Tôi không muốn nghĩ tới điều gì nữa. Tôi chỉ muốn sống cho trọn canh trường với vang và bóng ngày ký vãng.

Lạ lắm. Như có một cái gì ở đó làm nó cứ lởn vởn trong đầu tôi, mà có những khi vô tình bắt gặp một cơn gió, một tiếng nhạc, nó lại từ trong vô thức bước ra tỉnh thức. Nó là một thứ không thể giải quyết rốt ráo được. Mọi bình phẩm đều là dư thừa hoặc thiếu sót, đặt bên cạnh một cái trọn vẹn của tác phẩm. Người ta có thể đọc đi đọc lại nhiều lần trong đời những thứ như vậy, giống như hơn 200 năm qua bao nhiêu cái đầu sắc sảo vẫn cứ đọc Đoạn Trường Tân Thanh. Mấy câu văn của Nguyễn Tuân trong Một chuyến đi, trong Chiếc lư đồng mắt cua, mấy câu thơ của Hoàng Cầm (Em đi trẩy hội non sông/ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh) hay Thanh Tâm Tuyền (tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ / thanh tâm tuyền / buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường) là những thứ thuộc kiểu vậy với tôi. Tôi từng nói, như cuộc đời có vô vàn cách sống, văn chương cũng có vô vàn kiểu, cái quan trọng không phải là cố đọc một thứ văn nổi tiếng hay được giới phê bình đánh giá cao, mà phải biết mình thích cái gì không thích cái gì. Thì tôi có thể nói ngay, tôi thích văn Nguyễn Tuân. Khi ấy, những thứ thuộc về chính trị hay luân lý chẳng còn mấy ăn nhập. 

Tôi không đủ kiên nhẫn và hứng thú để đọc những truyện có kết cấu, có các tuyến nhân vật, có diễn biến kịch tính, lớp lang, trước sau. Dường như cái khuynh hướng muốn vào thẳng vấn đề, cộng với việc sống trong một thời đại của nghe nhìn, đã xô vỡ đi sự chịu đựng của tôi với những rào đón, những dàn cảnh, vốn đầy rẫy trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, của Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh, TchyA Đái Đức Tuấn hay Lan Khai. Nếu viết văn để trình bày một luận đề, sao không viết luận cho rồi? Trương Tửu viết quá nhiều những Thanh niên SOS hay Một cổ đôi ba tròng hẳn vì khi ấy người ta còn nhiều yếu đuối, cần đến một thứ quyền lực mềm như văn chương để tìm sự đồng cảm với các ý tưởng cấp tiến. Đó cũng là lý do tôi đã chọn viết truyện để giãi bày tâm trạng của mình trước đây, nhưng về sau tôi chú trọng việc hành động để giải quyết vấn đề hơn. Còn nếu viết văn để cho người ta “nhập mộng” giống như Hồ Hữu Tường nói, thì giờ đây với kỹ xảo điện ảnh, tôi đã không còn thèm thuồng được sống trong cái thế giới quá quen quá cũ của văn chương thế kỷ hai mươi. Những bạo lực, kinh hoàng, hưng phấn, cuồng nộ trong các tình tiết văn chương Việt Nam tôi đã thấy thừa ở phim Mỹ hay Pháp. Đọc văn, tôi muốn tìm những khoảnh khắc kỳ lạ mà điện ảnh không mang lại được cho tôi. Chỉ có đọc những thể loại như tùy bút hay tạp ghi, nơi mà cảm hứng dẫn dắt mạch văn chứ không phải một sự dàn xếp, định trước, mới mang lại cho tôi cái say mê, ham thích, muốn trở lại hoài, trở lại mãi. Theo đó, đến cả Khái Hưng cũng không làm tôi đủ hứng thú để đọc. Tôi thấy Khái Hưng là kiểu nhà văn tỉnh táo, luôn có sự sắp đặt, làm việc có giờ giấc. Đó đều là những phẩm chất cần thiết của một người đặt nền móng cho sự phát triển của văn chương chữ quốc ngữ. Thi thoảng tôi cũng thích một số đoạn văn của Khái Hưng: 

Tối hôm ấy, bên khóm tre trong vườn, kê một cái bàn trên bày đèn kéo quân, bốn đĩa bánh nướng, hai quả bưởi, hai đĩa hồng chín, một nải chuối tiêu còn ương và những tấm mía mà buổi sáng bà ngoại đã róc và nhuộm phẩm hồng, phẩm xanh. Còn bốn chiếc đèn xếp thì nàng treo ở các cành tre mềm rủ xuống mặt bàn. Hai bà cháu chơi tết trong yên lặng, cái yên lặng của những đêm trăng ở nơi thôn dã mà tiếng dế bất tuyệt càng làm thêm sâu, thêm xa rộng mênh mông. Bỗng Trinh liếc mắt nhìn thấy trên má bà hai giòng lệ lấp lánh dưới ánh đèn. Nàng mới chín tuổi nhưng nàng sớm biết, và nàng hiểu ngay rằng đó là nước mắt khóc mẹ nàng, vì nàng vẫn thấy bà ngoại yêu mẹ lắm.

Nàng liền đến gần bà ngoại thỏ thẻ: “Bà ăn bánh với cháu nhé?” Bà ngoại cố gượng trả lời: “Bánh để bày cỗ đã chứ!” Nàng mỉm cười rất ngoan ngoãn, cố làm vui lòng bà: “Vậy tí nữa bà cháu ta phá cỗ nhé?” Rồi nàng giảng nghĩa cho bà ngoại những điển tích trong cái đèn kéo quân:

“Đây này, bà này, ông Đinh Tiên Hoàng cưỡi rồng đây. Chú ông ấy đương đứng bờ sông lạy ông ấy đây. Đây là ông Triệu Tử Long với ông Trương Phi. Ông Triệu Tử Long bế con ông Lưu Bị đấy. Đằng sau là giặc đuổi. Đây là người tát nước với người đánh dậm. Đây là ông sư gõ mõ tụng kinh với lại hai bà vãi ngồi lễ phật…”

Nhưng Khái Hưng lại không làm cho tôi cảm thấy ông thuộc kiểu của mình. Nhất Linh, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương cũng vậy.

Tôi từng cố lý giải vì sao bản thân lại tìm hiểu văn học Việt Nam, lúc đó chỉ có thể nghĩ nó giống như một thói quen đã hình thành không từ một chủ đích nào cả. Nhưng giờ tôi nhớ lại, tôi tìm hiểu văn học Việt Nam là vì tôi đã muốn làm một nhà văn nhưng lại sợ rằng mình chưa đủ. Hình như lúc đó tôi đã nghĩ rằng, nếu mình đọc hết văn chương của người thời trước thì mình sẽ an tâm hơn khi đặt bút. Lúc đó, Nguyễn Tuân là nhà văn gây ấn tượng nhất với tôi qua những câu trong Sông Đà (Bờ sông hoang dại như bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa), đến giờ vẫn vậy. Tôi muốn biết người ta đã nói gì về Nguyễn Tuân, và cứ thế, Nguyễn Tuân móc nối tôi đến với những nhân vật văn chương khác. Để rồi sau khi thử dạm bước vào cửa ngõ của thế giới văn chương những nhà văn khác, ngó vào rồi lướt qua, tôi vẫn chưa tìm thấy một ai có thể thay thế được vị trí của Nguyễn Tuân trong tâm trí của tôi. 

Câu văn của Nguyễn Tuân và của Tô Hoài trong Cát bụi chân ai là những câu văn không thể lường trước. Chúng không tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc ngữ pháp, mà biến hóa linh hoạt theo mạch suy tư của tác giả. Nó khác với những thứ văn được sắp đặt, có lớp lang, có thứ tự. Tôi thích một thứ văn không đáp ứng kỳ vọng thông thường về tính mạch lạc. Tôi thậm chí đánh giá cao sự lạc đề, mặc dù tôi vẫn ngưỡng mộ những tác giả có thể trình bày các ý tưởng một cách hàm súc và sáng sủa (như Hồ Hữu Tường và Nguyễn Vỹ). Sự bất ngờ, cảm hứng chỉ có thể tìm thấy ở những dòng suy nghĩ đột ngột. Dương Nghiễm Mậu làm tôi ấn tượng bởi sự thẳng thắn trong cách viết, có những đoạn của Dương Nghiễm Mậu cũng rất đáng nhớ:

“Bao nhiêu năm cô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo, tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai, chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày hú còi và phun khói. Chỉ biết mang mình ra khoảng trống đóng lấy những vai trò lừa dối mình. Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối chích vào thân thể anh. Anh đã đánh lừa và mang anh đến với em, em đã chịu đựng sự có mặt của anh, nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa, em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh. Anh hốt hoảng ở giữa khoảng trống vây quanh anh đã lấp liếm che đậy. Nó hiện ra một vực thẳm sâu vắng. Anh la hét cho tiếng anh trả lại. Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình. Nhưng anh không thể không được quyền với thực tại. Anh có quyền về anh nên anh đã cầu cứu mọi người giúp anh, nhận anh là một người như họ. Anh đã cắt bỏ cái bướu để tìm về cõi sống, vì đám đông bình thường. Nhưng không được.

Thân thể anh còn đây, cái bướu đã mất. Anh khước từ sự hiện diện vô ích của nó nên anh trở thành một sự không thực. Anh là một sự không thực nằm đây… Nhưng, từ đó cho anh biết rằng anh là gì? Anh hơn đám đông vây quanh bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt nhưng là một sự có mặt hư ảo, không thấy mình. Người ta khước từ anh – điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu”

Nhưng Dương Nghiễm Mậu cũng không giống Nguyễn Tuân ở chỗ, tuy ta vẫn thấy được bóng dáng Dương Nghiễm Mậu trong văn ông, nó lại không lồ lộ, to đùng như Nguyễn Tuân trong các tác phẩm của mình. Nguyễn Tuân nổi lên như một cái cá tính rõ rệt trong văn chương. 

Riêng với Nguyễn Tuân, đã có thời tôi rất thích các truyện thuộc mạch văn yêu ngôn, nhưng đến hiện tại, tôi lại tâm đắc hơn cả những gì trong Một chuyến đi, Chiếc lư đồng mắt cua, hay Nguyễn. Với tôi thì chúng mới là Nguyễn Tuân nhất, khi ông không gò ép mình tuân theo các quan niệm thông thường về văn chương. Các tiêu chuẩn là quá chật hẹp với Nguyễn Tuân, với Nguyễn Tuân, viết là một sự nảy nở tự thân, giống như sự trổ ra của các loại hoa. Nếu mỗi nhà văn đều không cố gắng đáp ứng kỳ vọng của những người đi trước, luôn giữ cho mình một cái cá tính rõ nét như Nguyễn Tuân, thì tôi nghĩ rằng thế giới văn chương Việt Nam hẳn sẽ sôi động hơn nhiều.

Giờ đây, tôi nghĩ những quan tâm của tôi dành cho văn chương không nằm ở văn chương, mà ở văn học sử và phê bình nhiều hơn. Thời gian tới, có lẽ tôi sẽ bớt đi cái cường độ đọc, và tập trung hơn cho ELT, chỉ muốn thi thoảng ở một thư viện hay một quán cà phê, vô tình thấy một cái tên quen thuộc, đến và mở sách ra, khi đó hẳn tôi sẽ nhìn những nhà văn mà hôm nay tôi lướt qua theo một cách khác. 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s