tiếp diễn không phải là thì (progressive is not a tense)

Dạng tiếp diễn [progressive form] không biểu đạt thì [tense], mà biểu đạt cách nhìn [aspect]. Thì là sự định vị sự việc được nói đến trong dòng thời gian, trong sự đối chiếu với thời điểm đang nói – trước (quá khứ), cùng lúc (hiện tại) hoặc sau (tương lai) thời điểm nói. Còn cách nhìn là vị trí của người nói so với sự việc được nói đến.

Cụ thể hơn, khi dùng dạng phân từ -ing của động từ, người ta “đứng bên trong trong quá trình của hành động” để nói về hành động đang diễn ra; còn khi không dùng dạng phân từ -ing của động từ, là người ta “đứng bên ngoài hành động” để nói về hành động trong cái tổng thể của nó – tức là đã bắt đầu và đã kết thúc.

Muốn phân tích cách nhìn, cần phân biệt các loại tình huống. 

Giả sử có năm người cùng quan sát một cô tên Jennifer đang vẽ tranh, và mỗi người nói về những gì họ quan sát được như sau:

  1. Jennifer is drawing a tree.
  2. Jennifer is drawing.
  3. Jennifer is working hard.
  4. Jennifer likes bright colours.
  5. Jennifer has dropped a pencil.

Cả năm câu trên đều không mâu thuẫn với nhau, chỉ là mỗi người lựa chọn một phương diện riêng của tình huống để nói về. Theo đó, họ dùng những động từ khác nhau, những thì khác nhau, và cả những cách nhìn khác nhau. 

Tình huống nêu ra ở câu (1) có bao hàm một kết quả khả hữu của hành động (cái cây). Tình huống ở câu (2) chỉ có hành động, không có nêu kết quả. Câu (3) không nói về quá trình vẽ, mà là một nhận định của người nói về sự chuyên cần của Jennifer. Câu (4) thể hiện một suy đoán của người nói dựa trên sự lựa chọn màu sắc của Jennifer. Người nói câu (5) thì lại tập trung vào một phương diện khác của tình huống, đó là một lúc nào đó trong lúc đang vẽ, Jennifer làm rơi một cây bút chì.

Có thể thấy, cùng là một sự vật hiện tượng, nhưng mỗi người quan sát sẽ lựa chọn một phương diện để trình bày, tạo ra những loại tình huống [situation types] khác nhau. 

Có 3 thông số để đánh giá một tình huống: thời lượng của hành động [duration], sự chuyển động [dynamicity], và điểm dừng cố hữu [inherent endpoint]. Dựa trên 3 thông số này, chúng ta sẽ có bốn loại tình huống:

  • Tình thái [state]: có thời lượng, nhưng không có chuyển động và không có điểm dừng (i.e. “like bright colours”)
  • Đang làm [activity]: có thời lượng và chuyển động, nhưng không có điểm dừng. (i.e. “draw”)
  • Làm trọn [accomplishment]: có thời lượng, chuyển động, lẫn điểm dừng (i.e. “draw a tree”)
  • Đạt được [achievement]: không có thời lượng, nhưng có chuyển động và điểm dừng (i.e. “drop a pencil”)

Trong nhiều trường hợp, tự thân động tự cũng cho biết được loại tình huống. Chính đây là cơ sở để phân loại cái gọi là động từ tình thái [state verbs] và động từ hành động [action verbs]. Tuy nhiên, ngôn ngữ thì mềm dẻo chứ không cứng nhắc, nên tùy thuộc vào ngữ cảnh mà, chẳng hạn, một động từ tình thái vẫn có thể thuộc về một loại tình huống chỉ hành động.

  • He hated the idea of having to leave his family behind. (State)
  • He said that camp was fun, but actually he was hating every minute of it. (Activity)

Có hai nghĩa cơ bản gắn với tiếp diễn: sự đang diễn ra [ongoingness] và thời lượng bị giới hạn [limited duration].

Sự đang diễn ra [ongoingness]: Thường sẽ không dùng với loại tình huống tình thái, vì tình thái thì không có sự chuyển động. Còn khi dùng với tình huống làm trọn, điểm đầu và cuối của hành động thường bị mờ đi, chỉ tập trung vào giữa của hành động..

Thời lượng bị giới hạn [limited duration]: Tiếp diễn là một lựa chọn biểu đạt khá mâu thuẫn. Một mặt, nó gắn liền với thông số thời lượng; mặt khác, nó có thể được dùng để hạn chế thời lượng

Khi kết hợp với tình huống làm trọn, vốn thường tốn rất ít thời gian, tiếp diễn tạo ra hiệu ứng làm chậm [slow-motion] khi mà đường viền thời gian của hành động bị kéo dài ra. Có một sự tập trung vào sự kéo dài ra của thời gian trực tiếp trước một sự kiện vốn không có thời lượng:

  • His train was just arriving when I got to the station.
  • The bus was leaving, so I had to hurry.

Những tình huống không có thời lượng [non-durative] còn gọi là tình huống điểm [punctual situation]. Tiếp diễn còn có thể dùng để phản ánh sự lặp lại của tình huống điểm:

  • Someone is knocking at the door. Will you please go and see who it is?
  • The neighbour’s dog was barking, so I finally had to complain.

Bergson làm người ta yên tâm với tốc độ của riêng họ trong tâm trí; nhưng ngôn ngữ là một tồn tại đặc biệt ở chỗ nó vừa trung thành với cấu trúc sẵn có vừa có những biến cố liên tục để biến đổi qua thời gian; có thể hiểu là, chúng ta cần có chung để hiểu nhau, và phóng chiếu cái riêng của mình vào cái chung đó. Trong cái chung đó, tất phải có thời gian thực. Thìcách nhìn trong tiếng Anh là một ví dụ của sự có mặt tất yếu của thời gian thực.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s