Phỏng vấn Nguyễn Tuân về những ngày đầu chống Pháp

phong-van-nguyen-tuan-ve-nhung-ngay-dau-chong-phap

Trích từ bài phỏng vấn Nguyễn Tuân nhan đề Hỏi chuyện Nguyễn Tuân về những ngày đầu kháng chiến chống Pháp của Ngọc Trai trên tạp chí Văn Học số 6, năm 1986.

Ảnh: Tòa soạn báo Độc Lập, cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Việt Nam ở Việt Bắc. Trong những năm tháng kháng chiến, giữa báo Độc Lập và báo Văn Nghệ có sự gắn bó rất khăng khít. Nhiều số báo Văn Nghệ đã nhờ in bên báo Độc Lập. Ở bức ảnh này, có thể nhận ra nhà văn Nguyên Hồng và Nguyễn Tuân (hàng hai, thứ hai và ba từ phải qua) giữa các đồng nghiệp. Trần Văn Lưu chụp.

Hành trạng Nguyễn Tuân trong giai đoạn 1945-1946

Hỏi: Anh đi vào cách mạng như thế nào? Có được tuyên truyền, giới thiệu Việt Minh từ trước không?

Đáp: Nhật đảo chính Pháp, không khí khắp nơi sục sôi chuẩn bị khởi nghĩa, tôi vẫn không hề hay biết gì. Chiều 9-3-1945, tôi còn nằm bẹp tại nhà một cô đầu ở Khâm Thiên. Một tay nhà báo vốn là tay sai của Nhật cứ mấy lần bảo tôi: – Thôi cậu về nhà đi. Tôi cáu tiết vặc lại: – Mày là cái thá gì mà đuổi tao về! Đêm, Nhật nổ súng đảo chính Pháp, tôi mới nghĩ ra có thể thằng này đoán biết. Tôi vẫn nằm ở nhà hát bà Chu. Sáng ra, sau khi ngớt tiếng súng, tôi mới khăn đóng áo the ra đường về nhà ở phố Cầu Mới. Cả đêm, nghe tiếng súng, gia đình rất lo cho tôi, thấy tôi về cả nhà rất mừng, muốn giữ tôi ở nhà lâu lâu, chờ cho tình hình yên ổn. Nhưng chỉ được mấy hôm, tôi lại lặng lẽ xuống phố, lại vào nhà cô đầu. Hồi đó, tôi chưa có quan hệ gì với tổ chức cách mạng.

Phủ Thống Sứ, ngày 19-8-1945

Ngày Cách mạng tháng Tám, Việt Minh chiếm phủ Thống sứ (hồi Pháp gọi Bắc bộ phủ là Phủ Thống sứ), tôi cũng lại khăn đóng, áo dài “đi xem” – đúng, chỉ là một người quan sát thế thôi. Tôi thấy Việt Minh hạ cờ quẻ ly xuống, rồi treo cờ đỏ sao vàng lên. Tôi nhận ra có sự thay đổi, sự chuyển biến lớn lao thực sự. Tôi cũng thu thú, thế là vào hiệu cắt tóc, cạo râu. Thấy con người mình như sáng sủa lên. Tôi còn cởi bỏ bộ quần áo dài ta, mặc quần soóc, sơ mi vải cứt ngựa, nhập vào dòng biểu tình chào mừng cách mạng. Khi trở về nhà hát, bà Chu – chủ nhà hát và là nhân tình của tôi, la lên: «Ông định làm cách mạng đấy à? Đừng có mà đi theo họ!». Kể đến đây, Nguyễn Tuân cười và đề thêm: – Thế có chết tôi không chứ! Anh hạ giọng và nói một cách dí dỏm: – Nếu không có cách mạng thì tôi sẽ gay go to, có thể lấy bà ta làm vợ lẽ, cho nên vợ tôi phải là cảm ơn cách mạng nhiều lắm!

Hỏi: Nhưng anh vẫn không «đừng» mà vẫn «đi theo» cách mạng?

Đáp: Cũng không đơn giản như thế. Hồi đó, bọn Việt Quốc, Việt Cách cứ làm rối cả lên, đêm đến hễ xe chúng chạy ngang qua nhà nghe tiếng la hét «Cứu tôi với!», thế là y như có người bị chúng bắt cóc đấy! Rồi thêm cái vụ giết người ở phố Ôn Như Hầu (bấy giờ là phố Nguyễn Gia Thiều), tôi đâm ra hoang mang, bối rối, không phân biệt được cách mạng thật, cách mạng giả. Tôi đã viết một hai bài trong đó có câu: «Bây giờ, hễ thấy chỗ nào có treo cờ, bất kể là cờ gì, tôi đều sợ». Trong chỉnh huấn ở Việt Bắc, tôi đã phải tự kiểm điểm về biểu hiện tư tưởng dao động, không vững vàng ấy.

Vả lại con người tôi nó cũng phức tạp lắm, tôi thấy trong hàng ngũ cách mạng có một vài nhà văn kém tài mà trước đây mình không thích, cái tính khinh bạc của tôi nó lại nổi lên, tôi đâm ra hờ hững, chưa thật dứt khoát đi với cách mạng.

Nguyễn Tuân sau 19-12-1946

Hỏi: Sau này, vì sao anh tham gia kháng chiến?

Đáp: À, đến Kháng chiến thì lại khác rồi, đánh nhau với thằng Tây thì phải tin vào ai chứ, thế là tôi dứt khoát theo cộng sản. Đầu tiên là do cuộc Nam tiến. Hội Văn hóa cứu quốc tổ chức cho nhiều văn nghệ sĩ theo bộ đội vào mặt trận phía Nam. Anh Trần Huy Liệu giới thiệu tôi vào một đoàn gồm có Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ… đi vào chiến trường khu V. Trước khi di, anh Trần Huy Liệu đưa cho mỗi người một nghìn tiền cụ Hồ. Khi cầm tiền, tôi hỏi anh Liệu: «Như thế này là tôi phải viết mấy bài?». Ấy cái tính của tôi cứ hay sục sặc như vậy! Thế là mình cà khịa với Cách mạng chứ gì nữa? May sao, anh Trần Huy Liệu lại tỏ ra rất thoải mái. Anh cười và bảo tôi: «Anh cứ cầm lấy mà đi dường, còn viết hay không là tùy, thích thì viết, không viết cũng chẳng sao».

Trước lúc lên đường, ông Tố Hữu lại đưa cho một nghìn nữa. Tôi từ chối và nói «Anh Liệu đưa cho rồi». Anh Lành trả lời: – Số tiền này anh đưa về cho chị và các cháu để nhỡ đi lâu cũng đỡ lo chuyện nhà. Tôi cầm tiền, nhưng đã không đưa đồng nào về cho vợ con mà mang theo cả vào mặt trận Khánh Hòa – Phú Yên. Một vài chi tiết nho nhỏ ấy, nhưng đối với tôi nó trở thành ấn tượng. Chính những thái độ ưu ái, cởi mở ấy của anh Tố Hữu và anh Trần Huy Liệu là những yếu tố thêm vào cho mình dứt khoát đi với cách mạng và chuyển hẳn sang quan điểm vị nhân sinh. Cái tính của tôi nó chướng thế. Giá lúc ấy anh Liệu bảo tôi là anh phải cố viết lấy một hai bài thì có khi tôi lại từ chối hoặc là cứ đi mà không viết gì cả. Nhưng sự cởi mở, cảm thông của anh Liệu làm cho tôi phải suy nghĩ. Tôi nhớ đợt đi ấy về, tôi không những đã nói chuyện ở nhiều nơi, nhiều cuộc mà còn viết một số bài cho tờ Chống giặc ở khu IV.

Hỏi: Ngày toàn quốc kháng chiến, anh ở đâu? Anh có tham gia lập chiến lũy ở các đường phố thủ đô như Nguyễn Huy Tưởng đã tả trong Sống mãi với thủ đô? Anh có theo các đội tự vệ cảm tử, chui qua các lỗ đục tường để chuyển từ nhà này sang nhà khác, theo dõi cuộc đọ sức của nhân dân thủ đô với bọn xâm lược Pháp?

Đáp: Thật đáng tiếc là những ngày tháng Chạp năm 1946 ấy, tôi đã không có mặt ở Hà Nội. Từ mặt trận Khánh Hòa trở về, đến Thanh Hóa thì ta đã tiêu thổ kháng chiến, phá hết đường tàu. Tôi ở lại Thanh Hóa. Đánh lại thằng Pháp định biến ta thành nô lệ lần nữa là điều không phải bàn cãi gì cả. Tôi đi kháng chiến với tâm hồn thanh thản, hào hứng.

Báo Chống giặc – thông tin tranh đấu ngôn luận cơ quan UBKC Thanh Hóa ( Số Chủ nhật ngày 23/2/1947) đưa tin: Lần đầu tiên hơn 20 ngàn người dự cuộc mít – tinh đón tiếp Hồ Chủ Tịch

Cũng làm được khối việc ra đấy. Lúc đầu tôi theo đoàn kịch Tiền tuyến lưu diễn khắp khu IV. Tôi nhớ trong đoàn có những anh chị em như Chu Ngọc, Nguyễn Lương Ngọc, vợ chồng Sỹ Ngọc, Bửu Tiến… Tôi vừa làm trưởng đoàn, vừa viết vở tập thể, vừa làm diễn viên.

Hồi ấy tôi tưởng như Thanh Hóa sẽ thành căn cứ địa chống Pháp. Bác Hồ cũng có về đây nói chuyện. Ông Tố Hữu cũng về đây, ông Đặng Thai Mai được cử làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Thanh Hóa. Tướng Nguyễn Sơn là Khu trưởng quân khu IV. Đoàn kịch Tiền tuyến lưu động được 6 tháng, đi biểu diễn ở khắp ba tỉnh khu IV. Mỗi tháng diễn đến 15 đêm, ở 15 địa điểm khác nhau. Tất cả hành trang, phông màn đeo cả lên đôi vai các diễn viên. Tôi đóng cả vai chính, vai phụ trong các vở. Được phân vai nào, đóng vai ấy với tất cả nhiệt tình của mình.

Hỏi: Xin anh kể lại một vài kỷ niệm về cái hồi làm diễn viên này.

Đáp: Tôi nhớ lần đóng vai ông già Tàu trong vở Người nữ cứu thương Trung Hoa tại thành phố Vinh. Thành phố Vinh lúc này cũng đã tiêu thổ kháng chiến, nhà cửa, đường tàu đã phá hết nhưng nhân dân vẫn sống trong thành phố, chợ vẫn đông vui. Để sắm vai, nhớ lại hồi trước ở Hà Nội Pháp bảo hộ, diễn viên phải tự mình tìm lấy trang phục cho phù hợp, nay kháng chiến, tôi phải vào nhà Hoa kiều mượn quần áo. Sau mấy đêm diễn, Hoa kiều ở thành phố Vinh đã chiêu đãi đoàn chúng tôi một bữa linh đình. Có ông già Tàu khen tôi: «Ôn tóng dất giỏi, nói tiếng Quảng Tông giỏi hơn chúng tôi dồi!».

Hỏi: Hồi này, ngoài việc tham gia đoàn kịch Tiền tuyến, anh có viết được gì không?

Đáp: Lúc đó, ở Thanh Hóa có tờ Chống giặc. Anh Lành bảo tôi tham gia vào đấy. Ông Đặng Thai Mai mở lớp Văn hóa kháng chiến nhằm bồi dưỡng người viết văn, tôi cũng có tham gia giảng một số buổi. Khóa này, tôi nhớ có Hoàng Trung Thông, Xuân Hoàng, Trần Hữu Thung, Bùi Hiển, Vũ Tú Nam… Hồi này, anh em văn nghệ sĩ Hà Nội tản cư ra Kháng chiến rất đông, có cả Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Bằng… Về sau, các vị này, người thì không chịu được gian khổ, có người vì nghiện thuốc phiện mà phải dinh tê.

Về việc bỏ thuốc phiện và viết Chùa Đàn

Hỏi: Đọc Chiếc lư đồng mắt cuaTàn đèn dầu lạc, tôi nghĩ là anh cũng nghiện nặng lắm. Vì sao anh bỏ được?

Đáp: Hình như, đối với tôi, cái việc hút hay bỏ hút nó cũng giản đơn thôi. Trước đây chán đời thì hút cho quên đời đi, cũng là một cách để tự hủy hoại mình cho bỏ tức với đời. Đến hồi đầu Cách mạng, mình cũng nghĩ đơn giản là cách mạng không thích bợm nghiện. Đã đi theo cách mạng thì phải bỏ thuốc phiện thôi. Anh lại nói thêm: Hai thứ này kỵ nhau, đã cách mạng thì không thuốc phiện!

Ảnh: Nhà văn Nguyễn Tuân (bên trái), cùng đồng nghiệp đi thực tế ở Quảng Ninh (1970). Nhiếp ảnh gia Đoàn Minh Tuấn.

Tôi bỏ thuốc phiện cũng không gay go gì. Khoảng gần một tháng. Sáng đạp xe từ Hà Nội xuống Văn Điển, nhà một người bạn, uống rượu rồi lăn ra ngủ một giấc, dậy, đạp xe về. Chiều lại uống nửa lít rượu và lại ngủ. Thế là nó quen đi. Lấy độc trị độc mà lại! Tôi cũng không thấy vật vã ghê gớm như người ta nói.

Hỏi: Sau này, khi đi thâm nhập thực tế Tây Bắc và hồi sau giải phóng vào Nam, bạn bè có rủ anh hút không? Có khi nào anh lại hút chơi một vài điếu với bạn bè?

Đáp: Năm 1963, ông Lành và ông Hà Huy Giáp đi công tác ở Điện Biên cùng với một đoàn cán bộ tuyên huấn, ông Lành có bảo tôi cùng đi. Lên đó, ông Lành và ông Hà Huy Giáp họp hành, công tác, còn tôi đi «tìm hiểu thực tế». Khi trở về, ông Lành và ông Hà Huy Giáp đi máy bay, tôi và đoàn cán bộ tuyên huấn đi đường bộ. Đoàn tôi ghé vào nhà ông Lý Nụ Chu, phó chủ tịch tỉnh Nghĩa Lộ, để nghỉ ngơi. Ông Chu trước đây là cơ sở cách mạng, người Mèo, ông nghiện thuốc phiện. Trong nhà sẵn có bàn đèn, ông rủ tôi hút. Tôi bảo để tôi tiêm cho ông hút chứ tôi không hút. Tôi nằm cạnh bàn đèn, tiêm cho ông Chu hết điếu này đến điếu khác. Phía bên kia, mấy chị cán bộ phụ nữ Trung ương cũng là khách của ông Chu, thấy tôi nằm cạnh bàn đèn, họ theo dõi, sợ tôi cũng bị cuốn theo ả phù dung, hút một vài điếu rồi trở lại với thói xấu cũ thì nguy, nhưng thấy tôi nói không hút là không hút thật. Hôm sau, các chị nói chuyện với tôi, cũng kể lại cái chuyện họ theo dõi và thấy tôi không hút, họ mừng cho tôi.

Anh nhấm nháp cốc rượu và trầm ngâm hồi lâu, rồi trong lúc tưởng đã chấm dứt câu chuyện, anh bỗng gật gù nói tiếp: Thế là, có thể nói, sau Cách mạng, đối với riêng mình tôi đã làm được hai việc ghê gớm, – nói như A.Q. thì gọi là Cách cái mạng mình đi: đó là từ bỏ ả phù dung, và từ bỏ ý định vợ lẽ con thêm. Từ bỏ ả phù dung thì đơn giản như tôi đã nói với chị, nhưng từ bỏ bà Chu thì không đơn giản chút nào. Vì đây là chuyện tình cảm không dễ một lúc mà dứt bỏ được. Tôi nghĩ là phải viết một cái gì đó để trả món nợ tơ duyên này. Tôi quyết tâm ngồi viết Chùa Đàn. Tôi cứ ngồi trên chiếc võng đay trong ngôi nhà của bà Chu ở Bần Yên Nhân, – ngày ngày cứ đến bữa, mẹ bà Chu đưa cơm vào cho ăn, còn tôi thì mải miết viết hết trang này đến trang khác, sau một tuần là xong Chùa Đàn, xong cái phần chủ yếu, ấy là từ cuối năm 1945. Đến năm 1946, tôi thêm phần đầu và phần cuối để dễ xuất bản. Chùa Đàn cũng là chuyện của tôi đấy thôi. Anh lặng im thật lâu, nhấp từng ngụm rượu nhỏ như để hồi tưởng lại cái xa xưa ấy. Bỗng, như phát hiện ra một ý tưởng mới, anh ngồi chồm dậy và nói tiếp sôi nổi: nếu sau này tái bản Chùa Đàn, tôi sẽ cho cái thằng đánh trống chầu chết. Chỉ thằng cầm chầu mới hay chết, chứ có chết đâu đến người đánh đàn! Chị thấy có phải không?

Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, Quốc Văn xuất bản, 1946

Tôi ngớ ra, chưa biết phải trả lời thế nào, thì anh đã trở lại giọng đùa đùa:

Bà Chu chơi thế này có chết tôi không! Cái ngày bà cụ tôi mất, sau đám ma có tới dăm bảy bà danh ca đi đưa và bà Chu thì xin «Ông cho tôi cái khăn ngang». Nhưng trường hợp này cũng chưa mệt bằng cái hồi kháng chiến. Tôi đã lên Việt Bắc rồi, không hiểu sao bà ấy vẫn tìm ra địa chỉ của mình, bà gửi người cầm ra cho tôi một cái khăn tay thêu và mấy chỉ vàng. Tôi giữ cái khăn làm kỷ niệm còn vàng thì nộp cho tổ chức. Vậy mà đến chỉnh huấn mình cũng phải kiểm điểm. Có cha nội cứ vặn hỏi mình: Tại sao anh lại cầm? Có mệt không!

Hỏi: Anh hút và đi hát ả đào mê say như vậy thì có bị chị cằn nhằn không?

Đáp: Lúc đầu thì bà ấy cũng can ngăn, nhưng thấy tôi lì lợm quá không còn cách nào, bà ấy tìm cách đối phó. Hồi mẹ tôi mới làm cho cái nhờ để mở hiệu sách, lấy cớ không muốn tôi la cà, bệ rạc, bà ấy sắm bàn đèn cho tôi hút ở nhà. Tôi cũng rủ bạn bè về nhà phá phách bà ấy quá lắm. Nhưng rồi cái tính phóng túng của tôi không để tôi ngồi nhà lâu, tôi lại lẳng lặng chuồn theo bạn bè đến nhà hát. Hút ở nhà hát nó có không khí hơn, bạn bè bù khú thoải mái hơn. Bà ấy đành bất lực. Bà nhà tôi không bao giờ càu nhàu, làm ầm ĩ nhà cửa lên. Có lẽ vì thế mà sau này tôi càng thấy quí và nể bà ấy. Vợ tôi chỉ nói những câu châm biếm mát mẻ mà làm mình ngượng đến chết, nhưng ngẫm nghĩ là tại mình chuốc lấy cái nghiệp chướng ấy, nên tôi có ngượng, có đau, cũng đành bấm bụng mà chịu, chứ biết nói sao.

(…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s