Nghiêm Xuân Hồng (1920-2000)

nghiem-xuan-hong

“I was born in Hanoi circa 1920 and studied Laws (École supérieure de droit de Hanoï) in 1939. As the political movements were on the rise, I dropped out of school in 1941 and joined them. Although I was more or less influenced by the Marxist ideology, it’s strangely difficult for me to get along with people from the Việt Minh.

In 1953, I became a lawyer, and one year later, I emigrated to the South. I fled my country in 1975 and settled in the United States from then on. I wrote some books on politics, philosophy and literature. Over the past seventeen years, I spent most of the time reading Buddhist scriptures”, said Nghiêm Xuân Hồng in a 1992’s interview.

Nghiêm Xuân Hồng is often referred to as a member of the intellectual group called Quan Điểm (meaning “perspective” or “viewpoint”), together with the translator-writer Mặc Đỗ and the playwright-essayist Vũ Khắc Khoan. His main interests are politics and philosophy.  

In search of the basis for our ideology, 1957

“From the unique situation of Vietnamese history, a conclusion can be drawn that the petty bourgeoisie in the rationalist movement has somewhat the same role as that of the pre-modern scholars (sĩ phu, 士夫) in the metaphysical movement. It’s the petty bourgeoisie who will form the historical synthesis and lead the revolutions in the modern era. Just like the pre-modern scholars having led such political movements as Cần Vương, Đông Du, and Đông Kinh Nghĩa Thục, the petty bourgeoisie will continue to lead the nationalist movements as they already did in the Yên Bái mutiny. The petty bourgeoisie (not the proletariat) will move the arc of history and fight for social justice”, page 186-187.

A history of nationalist movements in Vietnam, 1959

Nghiêm Xuân Hồng believes it’s best to divide the history of Vietnam’s nationalist movements into 7 stages: 

1862-1895: the Văn Thân movement, led by scholars in support of the Cần Vương idea, evident in the mutinies led by Trương Định, Phan Liêm, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thước, Hoàng Hoa Thám,  or the resistance against the French of Nguyễn Tri Phương and Hoàng Diệu.

1895-1912: the Đông Du and Đông Kinh Nghĩa Thục movements, led by two prominent figures Phan Bội Châu and Phan Châu Trinh, and their comrades, namely Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Nguyên Phổ, Dương Bá Trạc, and so on.

1912-1920: the transition stage (quá độ, 過渡) where all the efforts of the pre-modern scholars to fight against the French colonialism turned out to be helpless, and at the same time, the Vietnamese society had changed so significantly that people started to look for other initiatives, modern and more effective, to liberate the nation.

1920-1930: the predominance of liberation nationalism, indicated by the rise of several political causes, such as the Constitutionalist Party led by Bùi Quang Chiêu, the Vietnamese Revolutionary Youth League founded by Nguyễn Ái Quốc, Lâm Đức Thụ, Hồ Tùng Mậu and Lê Hồng Phong, whose name was later changed into the Communist Party of Indochina, the New Vietnam Revolutionary Party founded by Lê Văn Huân and Nguyễn Đình Kiên, and perhaps the most noticeable of this period: the Vietnamese Nationalist Party founded by Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Nhượng Tống. 

1930-1945: This period witnessed the escalating conflicts between liberation nationalism and stalinist communism. The nationalist side was now joined by the groups of Trần Trung Lập (Việt Nam Phục Quốc hội), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính đảng), Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc Dân đảng), Lý Đông A (Đại Việt Duy Dân đảng), Dương Đức Hiền (Đân chủ đảng), and Nguyễn Xuân Mai, Ngô Thúc Địch, Nhượng Tống (Đại Việt Quốc gia Liên minh). It should be noted that during this period, there was also another communist movement, the Fourth International or the Vietnamese Trotskyist, led by Tạ Thu Thâu, that operated mainly in the South. 

1945-1952: the triumph of stalinist communism

1952-1959: the twilight of stalinist communism and the rise of new nationalist ideas

Revolution and action, 1962

In this book, Nghiêm Xuân Hồng firstly discusses the realities of important revolutions in world history, from the French revolution 1789-1799 to the Chinese Communist Revolution 1948. He then dissects the war strategies of Russia and China in the 20th century from the philosophical and practical standpoints. 

From Sun Tzu’s The Art of War to nuclear strategy, 1965

This three-book series is an attempt to understand the war strategies in the ancient times and how they have evolved over the course of history. 

“Việc binh là quỉ đạo”, Tôn Tử.

“Nghệ thuật chiến tranh không phải là tĩnh và bất biến – Nó thay đổi với những khúc quanh của lịch sử”, Clausewitz

Việt Nam, in the experiment of war, 1966

This book was written 9 years before the end of the Vietnam war. It was concluded with Nghiêm Xuân Hồng’s prediction:

“In short, there might be a future where, with the warnings of the Soviet as well as the severe difficulties within the Chinese communist party, Beijing will recognize that the game it is entering is strenuous and dangerous and thus let Hanoi negotiate (with Saigon). If this is the case, then it will be fortunate for both Vietnamese people and world peace. However, if Beijing stubbornly forces Hanoi to continue the war, the U.S. and its allies might as well let the war escalate. This might lead to the decline of war without any agreements attained. Even if there is a peace conference, it might last several months until an accord is signed, and the war will happen in the meantime”.

Nghiêm Xuân Hồng’s bibliography:

Đi tìm một căn bản tư tưởng, 1957

Lịch trình diễn tiến của phong trào quốc gia Việt Nam, 1959

Xây dựng nhân sinh quan, 1960

Luyến ái quan, 1961

Cách mạng và hành động, 1962

Người viễn khách thứ mười, kịch, 1963

Từ binh pháp Tôn Ngô đến chiến lược nguyên tử, 1965

Việt Nam, nơi chiến trường trắc nghiệm, 1966

Biện chứng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ, 1966

Biện chứng giải thoát trong giáo lý Trung Hoa, 1967

Nguyên tử hiện sinh và hư vô, 1969

Some notes from his contemporaries

“Chúng tôi là một nhóm anh em quen biết nhau từ lâu, tuy mỗi người là một quả núi nhưng có một quan điểm chung (loài người mang nặng bịnh tham, trong mọi xã hội thành phần trung lưu vì năng-lưu trên những nấc thang xã hội nên năng-động, tạo hạt nhân cho tiến hoá về mọi phương diện), chúng tôi ngồi lại cùng khai triển quan điểm đó, ôn hoà không cách mạng”, Mặc Đỗ trả lời Nguyễn Tà Cúc. 

“Rồi từ duyên này đến duyên khác vì lui tới luôn vùng Phát Diệm, tôi tìm được những liên lạc mới và khám phá ra rằng tôi có hai người bạn ở Đại Học cùng cảnh với tôi, nay đang sống ngay ở Phát Diệm. Hai anh bạn đó là Lê Quang Luật và Nghiêm Xuân Hồng. Anh Lê Quang Luật nhiều tuổi hơn tôi nhưng cùng với anh Nghiêm Xuân Hồng là người của Đại Việt Duy Dân, nên chúng tôi đã cùng hoạt động với nhau trong nhiều trường hợp ở Hà Nội lúc trước”, Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, 74.

“Trong thời gian ở trại chuyển tiếp Indiantown Gap, thuộc tiểu bang Pennsylvania, tháng 7 năm 1975, Nghiêm Xuân Hồng, Thanh Nam, Viên Linh mỗi buổi sáng đi từ lều này qua lều khác để tìm nhau. Cả ba, dưới trời sương buổi sáng khá lạnh, tuy là vào mùa Xuân đất khách, vẫn đi dạo trên những đồi cỏ, và thường thường hỏi nhau: “Bây giờ ta đi đâu?” Hỏi thì hỏi thế thôi, chứ khi ra khỏi căn trại gỗ, người nào cũng nghĩ: đi uống cà phê đi! Ông từng cho người viết bài này biết là sau một vụ hỏa hoạn, nhận thức của ông về cuộc đời đã thay đổi hoàn toàn.

Khi nói, họ Nghiêm không hùng biện, dù là một luật sư tốt nghiệp ở Hà Nội từ trước 1954, mà cách nói như một triết gia – người viết nghĩ thế – vì nghe ông nói, người nghe phải chú tâm lắm lắm mà chỉ hiểu mơ màng. Vả chăng, khuôn mặt ông lúc ấy như có một đám mây mờ bay qua, hay như một mảng khói xám tỏa xuống. Nên người nghe chỉ biết ghi nhận, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, vì nghĩ rằng hỏi lại, hay gặng hỏi, là điều không nên, và không thể được. Người nghe cố bắt lấy tâm điểm của lời kể, hình ảnh của chuyện kể, và tự mình hiểu được đến đâu thì hiểu. Chẳng hạn, hình ảnh là một chiếc giầy phụ nữ, và chiếc giầy đó là của vợ ông. Chiếc giầy nằm giữa lối đi. Và ông mới mở đầu câu chuyện: một vụ hỏa hoạn. ‘sau một vụ hỏa hoạn’, nhận thức của ông về cuộc đời thay đổi hoàn toàn. Người nghe không dám hỏi thêm. Nhưng hẳn nhiên, vụ hỏa hoạn làm cho nhận thức một đời người thay đổi, thì vụ hỏa hoạn ấy là một thảm kịch. Có một điều gì đó, nối kết đến đâu, người viết cũng không thể hiểu. Chỉ biết thế.”, Viên Linh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s