trường ca Việt Nam

truong-ca-hoi-trung-duong

‘Con đường cái quan’ của Phạm Duy

Phạm Duy đã có ý định viết Con đường cái quan từ năm 1954, khi ông đang đi du học ở Pháp về âm nhạc. Lúc đó, ông muốn viết một bản trường ca sử dụng những chất liệu âm nhạc hoàn toàn Việt Nam, từ quan họ đến vọng cổ. Nhưng khi về nước năm 1956, nguồn cảm hứng này của ông lại bị tắt trong hai năm. Mãi đến năm 1958, ông mới bắt đầu viết, và hoàn thành vào mùa xuân năm 1960.

Sau khi hoàn thành, ông đưa cho trường Quốc gia Âm nhạc Việt Nam. Lúc đó, có ông nhạc trưởng người Đức tên là Otto Söllner đã thành lập được một ban nhạc giao hưởng của Việt Nam. Khi nhận được bài Con đường cái quan, ông Otto Söllner rất thích thú và đã soạn hòa âm cho ban nhạc giao hưởng lẫn ban hợp xướng của đài phát thanh – mà trong đó có giọng của Thái Thanh, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà, Minh Trang, Mai Hương. Bài hát được trình diễn lần đầu tiên ở rạp Thống Nhất, hay nhà hát Norodom, nằm trên đường Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn.

Nội dung trường ca Con đường cái quan là hành trình của một người lữ khách trên con đường xuyên Việt, đi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đi từ ngày mới lập quốc cho đến khi đã hoàn thành xứ sở, đi trong lịch sử và lòng dân. Đi tới đâu cũng có tiếng dân chúng địa phương ca hát chúc tụng. Lữ khách đi nối liền được lòng người và đất nước.

Trường ca gồm 19 đoản ca, chia làm ba phần. Phần thứ nhất là Từ miền Bắc, mang tính chất hào hùng của miền quê cha đất tổ. Phần thứ hai là Qua miền Trung, với tình thương yêu chan chứa niềm xót xa. Và phần thứ ba là Vào miền Nam, tỏ sự vui mừng của con người cả thắng thiên nhiên để hoàn thành nước Việt.

Từ miền Bắc

Phần thứ nhất Từ miền Bắc mở đầu với tiếng hát của một thôn nữ miền Bắc:

Hỡi anh đi đường cái quan!
Dừng chân đứng lại
Cho em đây than đôi lời

Tiếp đó là giọng của một người trai tráng đáp lời: “Tôi đi từ ải Nam Quan”. Đây là đoản khúc được hát với giọng nam hùng hồn. Trong đoạn này, ta thấy nhắc đến chuyện người trai thời loạn phải “vẽ lối mòn gìn giữ quê hương ngăn đường giặc Hán” và chuyện nàng Tô Thị chờ chồng mà ta đã gặp trong trường ca Hòn vọng phu của Lê Thương. 

Bài hát lại chuyển sang lời nhắn gửi của người miền núi cho người miền xuôi, và ngược lại, tâm tình nhớ thương của người miền xuôi dành cho người miền núi. Theo dòng nước, người lữ khách gặp cô lái đò đưa anh về miền trung du vào đến đất thủ đô. Phần thứ nhất kết lại ở đây.

Qua miền Trung

Phần thứ hai Qua miền Trung bắt đầu với hình ảnh lũ trẻ chạy ra đón chào người lữ khách. Rồi có tiếng bà mẹ hát:

Ai vô xứ Huế thì vô
Chớ sợ Truông nhà Hồ, chớ sợ Phá Tam Giang à ơi

Tự dưng lại nhớ bài Chiều trên phá Tam Giang của Tô Thùy Yên. Sau mấy điệu hò của dân làng là đoạn hát của công chúa Huyền Trân. Huyền Trân công chúa là con gái của Trần Nhân Tông, được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu: châu Ô và châu Lý. Cuộc hôn nhân chính trị này đã là đề tài thường thấy trong thơ, nhạc và sân khấu của nước ta. Tôi vẫn nhớ bài hát Lý con sáoHương Thanh hát cũng có nội dung về Huyền Trân:

đêm qua mau
tiếng trống Tây lầu vừa sang canh
chỉ còn giây phút mong manh
rồi nước non ngàn dặm đăng trình
lìa xa sông núi quê mình

vì cơ đồ, vì bình yên chúng dân
Ô Lý ơi xin thế thay Huyền Trân
làm đẹp giàu yên vui ấm no
cho gấm hoa vang khúc thanh bình ca

Hiển nhiên đây là một sự kiện quan trọng liên quan đến công cuộc Nam tiến của nước ta, nên Phạm Duy đưa vào bài hát là điều hợp lý. Trong hình dung của Phạm Duy, công chúa Huyền Trân như muốn nhắn gửi với người lữ khách rằng: Con đường thiên lý dù sao cũng không dài bằng con đường đi vào lòng người, và nàng mong người lữ khách mau nối tiếp con đường đi để nối liền đất nước, để vào lòng người của nàng khi xưa.

Vào miền Nam

Rời sông Hương, chùa Thiên Mụ, rời quê nghèo, ruộng nghèo miền Trung, người lữ khách tiếp tục lên đường vào miền Nam. Vừa mới Vào miền Nam, người lữ khách đã nghe giọng hò của người con gái Nam Bộ:

Bớ anh đi đường vắng đường xa
Dừng chân đứng lại
Hò ơ ơ ớ ơ… hò
Nghe em đây ca đôi lời
Chiều về trên cánh Đồng Nai
Chờ người xây đắp ngày mai…

Sau đó là những đoạn tả cảnh tả người Nam Bộ, có hương sầu riêng ngọt ngon, có mái tóc xuề xoà, có khoé mắt thiệt thà:

Đôi môi xinh hàm răng xít xa
Có áo ngắn mặn mà, có tiếng nói đậm đà
Người yên lành như một giấc mơ

Người lữ khách “tình bén duyên thề” với người con gái Nam Bộ, thế là họ kết hôn. Và theo sóng Cửu Long, đôi vợ chồng son về miền Hậu Giang thành lập thôn ấp. 

Có thể thấy tâm trạng của người lữ khách trong trường ca Con đường cái quan khi đến miền Nam cũng giống với tâm trạng của những người Bắc di cư năm 1954. Mai Thảo, trong bài viết đầu tiên của số đầu tiên của tạp chí Sáng tạo, tháng 10-1956, đã xem Sài Gòn là thủ đô văn hóa Việt Nam. Những người như Mai Thảo tìm thấy ở miền Nam một quê hương thứ hai và một tương lai mà họ tin tưởng là sẽ tốt đẹp hơn.

Nhưng trong lòng họ, cũng như trong lòng của Phạm Đình Chương khi viết Hội trùng dương, hay của Phạm Duy khi viết Con đường cái quan luôn canh cánh ước vọng về một đất nước Việt Nam thống nhất, không còn chia cắt hai miền Nam Bắc:

Đường đi đã tới… Lòng dân đã nối…
Người tạm dừng bước chân vui người ơi
Người mơ ước tới… Đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài
Con đường thế giới xa xôi
Trong lòng dân chúng nơi nơi

Hai cấu cuối thật là đầy tính tiên tri, khi miền Nam không phải là cuối cùng của cuộc hành trình của người lữ khách, mà còn móc nối với “con đường thế giới xa xôi”. Ta biết rằng Phạm Duy năm 1975 thì ông cũng rời Việt Nam, và chỉ trở lại vào năm 2005, sau nghị quyết 36.

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s