Tùy bút kháng chiến, Tùy bút kháng chiến – hòa bình của Nguyễn Tuân – Văn Nghệ xuất bản 1955-1956

tuy-but-khang-chien-va-hoa-binh-nguyen-tuan

Bài viết được in trong mục “Đọc sách” của tuần báo Văn, số 5 (ngày 7-6-1957). Ba đoạn văn đầu bị mất chữ nên khi đánh máy, tôi lược bỏ. Tuy vậy, phần còn lại cũng cho ta thấy được nhận định của nhà phê bình Trương Chính về hai tập tùy bút viết sau 1946 của Nguyễn Tuân.

Có khi tôi nghĩ rằng, trong bọn chúng ta người được hưởng thụ nhiều nhất của kháng chiến, là Nguyễn Tuân. Ngày trước, ông quằn quại, đau khổ vì thiếu quê hương, thì nhờ kháng chiến, ông đã có quê hương, và được dịp tìm hiểu quê hương của mình rõ hơn lúc nào hết. Ngày trước, ông thèm đi đến nỗi nằm đu đưa trên võng trên nhà mà tưởng tượng đang nằm trong một khoang tàu nào để tiện mơ ước những bến bờ xa lạ, thì sau kháng chiến, ông đã được như sở nguyện. Ngày trước, ông mê nhịp đàn, nhịp phách, mê hoa đào, hoa cúc. Thì ngày nay ông vẫn cứ được mê nhịp đàn, nhịp phách, mê hoa đào, hoa cúc như thường. Nội dung có thay đổi, nhưng hình thức vẫn thế. Cũng chừng ấy tâm hình. Ngày trước trong chế độ cũ, ông phải sống héo hắt, gò bó, nên đâm ra khinh bạc, phóng túng hình hài một cách quá quắt. Ngày nay trong chế độ mới, ông được phát triển mọi khả năng của mình, ông sống đứng đắn thích thảng, nhẹ nhàng, tự do. Giọng nói của ông bây giờ ấm áp, thái độ của ông bây giờ đôn hậu. 

Một nhà văn có một đời sống bên trong dồi dào như Nguyễn Tuân, nhất định trong thời gian qua, và ngay bây giờ đây phải có nhiều chuyện nói. Cái gì ông cũng nói được thành chuyện. Và chuyện của ông lúc nào cũng có duyên. Cho nên, không phải chỉ có hai tập tùy bút này mà rồi đây tôi chắc còn được đọc nhiều tập tùy bút khác của ông cùng một cách điệu như thế. Ông là người yêu đời, ham sống, sống kỹ lưỡng, sống rộng rãi, không bao giờ chịu gò bó, cho nên nguồn văn của ông – mặc dù chỉ có một nguồn thôi – cũng không bao giờ cạn được.

Đừng tìm trong hai tập tùy bút ông vừa xuất bản hình ảnh to lớn, đầy đủ của cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của ta. Kể cũng tìm được. Nhưng chủ yếu ở đây là tâm tư của ông trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Có những nhà văn khách quan, có những nhà văn chủ quan, Nguyễn Tuân là một nhà văn chủ quan và chủ quan hạng nặng. Ông nhìn ngó, ghi chép lúc nào cũng qua cái màn sương tâm tình của mình. Về hiện thực bên ngoài, ông có chú ý chăng thì cũng là chú ý đến tâm tình của cảnh hay của người mà ông gặp. Có lần ông đã đưa phương châm sáng tác đó ra tưởng có thể làm một kinh nghiệm chung, ông nói:

“Tôi đã có được ít nhiều kinh nghiệm về việc lấy tài liệu sáng tác vào những dịp theo đơn vị đi nhổ các đồn. Cái chính không phải là đi ‘xem’ đánh đồn, và vào cái đồn cháy cho nó thỏa thích tính hiếu kỳ của mình. Cái quý giá nhất về tài liệu mỗi đồn đánh là ở chỗ không khí chuẩn bị trận đánh và sắc thái sinh hoạt của dân chúng quanh cứ điểm. Sau trận đánh, trước trận đánh, và nhất là cái phần phối hợp giữa quân và dân chính giữa lúc đánh. Nếu không nhận kỹ mấy điểm căn bản này thì theo đơn vị đi dự rất nhiều lần đánh, sự thu thập tài liệu cũng không tiến được mấy. Cái đồn cháy nào mà chẳng có súng nổ cả hai phía và bao giờ mà chẳng có khói lửa nghi ngút cùng tiếng reo hô.” Đúng mà cũng không đúng, nhưng ở đây không bàn. 

Nhà văn chủ quan ấy lại là một tài tử, một nghệ sĩ, một thi sĩ. Cho nên, lúc nào, ở trường hợp nào, Ông cũng không thể bỏ qua những cái kích thích giác quan của ông mà nhất là vị giác. Mùi thuốc súng ông thấy cay như mù tạt, cái bánh sắt ô tô oằn lên, ông thấy giống một cái bánh đa ướt. Ở rừng, ông chú ý đến nấm phan, nấm mối mọc lên sau mỗi kỳ mưa. Giữa chiến dịch, ông nói chuyện câu được một con giải to bằng cái nong, thịt giải ngon, ăn uống ròng rã ba ngày vui quá. Mùa xuân đến, ông nhớ đến chuyện bẻ lộc, ông bàn tán về hoa đào.v.v.. Ông lại thường gán cho người khác tâm tình của mình. Trong bài Sau đêm 19 tháng chạp có đoạn ông viết:

“Giăng tháng Chạp trong sáng như giăng đêm hè. Lặng lẽ bên chướng lũy, người chiến sĩ bồn chồn lấy cái lưỡi lê đâm vào mặt giăng in rõ nơi vũng nước đọng hầm đào”.

hoặc là 

“Rạp hát cải lương Hàng Bạc, đông người trốn nấp quá, đến nỗi có người ngồi nguyên ba ngày liền trên ghế dài mà nhìn như thế, nhìn trở vào một cái sân khấu vắng”.

Tôi nhớ, trong thời kháng chiến, có được đọc của Nguyễn Tuân một vài bài bút ký đàng đây đó. Tôi vốn là một người thích Nguyễn Tuân, nhưng không hiểu sao lúc bấy giờ, tôi thấy khó chịu. Sao mà còn kềnh càng đến thế! Bao nhiêu nỗi vui buồn trước mắt thiết thân hơn, sao không nói! Ai còn có thì giờ đâu mà đi sâu vào lòng mình mà ngồi chẻ sợi tóc làm tư! Nói đến cảnh gió Lào xứ Nghệ mà kéo bảy tám trang dòng, nhắc đến cúc đại đóa, hoa lay-dơn, giữa khi xung quanh ngút khói lửa và vang tiếng đại bác, cốt mìn. Thật là quá đáng! Cũng những bài đó, hôm nay giữa không khí hòa bình, đọc lại có thấy không sao cả. 

Tôi mới nghiệm ra rằng Nguyễn Tuân là người của thời bình, giọng văn Nguyễn Tuân là giọng văn thời bình. Và có được sống trong thời bình, ông mới được sống đầy đủ và tài năng của ông mới phát triển được toàn vẹn. Những bài Làng hoa, Bến hồ và Làng tranh, Cây tre bạn đường, Tiếng nói Việt Nam,.v.v.. càng đọc càng hiểu rõ Nguyễn Tuân hơn ngày trước. Đọc Những chiếc ấm đất, Thả thơ, Đánh thơ, Hương cuội, Chén trà trong sương sớm trong Vang bóng một thời, ta lầm tưởng, cũng như tác giả lầm tưởng, đó là những cái gì cố hữu nhất của người Việt Nam ta đã mất mát đi trước luồng gió văn minh Tây phương. Nhưng không phải, đó chỉ là những cái cố hữu của một lớp người, của một giai cấp chịu ảnh hưởng rất sâu của Khổng giáo và Lão giáo trong bao nhiêu thế kỷ chứ chưa phải là những cái cố hữu của toàn dân tộc, của những người lao động Việt Nam. Bây giờ, Nguyễn Tuân đã nhận được đúng hơn. Có thể xưa kia ông đã từng ngắm cảnh hoa đào ở Ngọc Hà, đã từng thích những tranh lợn gà, tranh tố nữ của làng Hồ, đã từng thưởng thức tiếng nói Việt Nam trong giọng ngân nga của các ả đào ở Khâm Thiên, nhưng bây giờ đây, ông biết chú ý cả đến người vun xới hoa đào, đến cụ thợ già in tranh, đến tiếng nói của dân tộc Việt Nam nói chung, chứ không riêng gì tiếng hò, tiếng hát. 

Đọc xong hai tập tùy bút của Nguyễn Tuân, tôi cảm thấy rằng sự “thoát xác” của ông thật ra chẳng có gì gian khổ cả. Những con người cũ trước của ông đều ít nhiều là giả tạo, nội tâm ngày trước của ông là nội tâm của kẻ bất đắc chí. Cho nên, không cần phải đốt, phải phá. Hoàn cảnh thay đổi, chế độ thay đổi, thì ông tìm được con người chân thật của ông. Đó là điều may mắn cho ông và cả cho ta nữa.

TRƯƠNG CHÍNH
6-1957.

Xem thêm:

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s