Chinh phụ ngâm khúc: loạn thời

chinh-phu-ngam-khuc-loan-thoi-1

1

天地風塵
紅顏多屯
悠悠彼蒼兮誰造因

Dịch âm:

Thiên địa phong trần,
hồng nhan đa truân,
du du bỉ thương
hề, thùy tạo nhân

Dịch nghĩa:

Trời đất gió bụi, má hồng nhiều truân-triên, thăm-thẳm ông xanh kia, vì ai gây dựng ra cái nguyên-nhân này.

Chú thích:

Phong là gió, trần là bụi. Gió bụi nghĩa là lúc có loạn. Bài thơ «Trong quân nghe ống địch» của ông Trương-Tuần có câu rằng: «Bất biện phong-trần sắc, an tri thiên địa tâm 不辨風塵色,安知天地心。» nghĩa là: không nhận cái vẻ gió bụi thì làm sao biết được cái lòng trời đất.

Đa là nhiều, truân là truân-triên, tức là gian-nan khổ-sở. Ông là Âu-dương-Tu, có câu rằng: «Hồng nhan thắng nhân đa bạc phận, mạc oán đông-phong đương tự ta 红颜胜人多薄命,莫怨东风当自嗟。», nghĩa là: má hồng hơn người thì phần nhiều hay phận bạc, chớ oán gió đông, nên tự thương nỗi mình.

Bỉ là kia, thương là xanh. Bỉ thương là ông xanh kia, tức là ông trời «Du du bỉ thương 悠悠彼蒼» nghĩa là thăm thẳm ông trời xanh kia.

Đoàn Thị Điểm dịch:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, 
Khách má hồng nhiều nỗi truân-triên,
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

2

鼓鼙聲動長城月
烽火影照甘泉雲
九重按劍起當席
半夜飛檄傳將軍

Dịch âm:

Cổ bề thanh động Trường-thành nguyệt,
phong hỏa ảnh chiếu Cam-toàn vân.
Cửu-trùng án kiếm khởi dương tịch,
bán dạ phi kịch truyền tướng quân.

Dịch nghĩa:

Tiếng trống trận vang động đến mặt trăng ở Trường-thành, bóng khói lửa chiếu rọi đến đám mây ở Cam-toàn. Chín lần tuốt gươm đứng dậy đương khi trong tiệc, nửa đêm phi tờ hịch truyền cho tướng-quân.

Chú thích:

Cổ là trống, bề là thứ trống lớn đeo trên mình ngựa để chủ tướng dùng làm hiệu lệnh trong khi ra trận. Bài Trường-hận-ca của ông Bạch-cư-Dị có câu rằng: «Ngư-dương bề cổ động địa lại 漁陽鼙鼓動地來» nghĩa là trống trận ở đất Ngư-dương bỗng vang động mặt đất mà kéo đến. 

Trường là dài, thành là cái thành, Vua Thủy-hoàng đời Tần đắp một cái thành dài 5.440 dặm để phòng-ngự giặc Hồ gọi là Trường-thành.

Phong là khói, hỏa là lửa. Đời xưa hay làm một cái đài cao, chứa sẵn cỏ khô ở đấy, phòng khi có giặc thì đốt khói lửa lên làm hiệu. 

Cam-toàn là tên đất.

Cửu là chín, trùng là lần. Chỗ điện vua ở thường xây chín bậc. Cửu-trùng (chín lần) tức là trỏ ông vua vậy. 

Phi là bay, hịch là tờ hịch. Phi hịch nghĩa là kíp truyền tờ hịch để sai đi đánh giặc.  

Đoàn Thị Điểm dịch:

Trống Tràng-thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam-toàn mờ-mịt thức mây
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh 

3

清平三百年天
從此戎衣屬武臣
使星天門催曉發
行人重法輕離別

Dịch âm:

Thanh-bình tam bách niên thiên-hạ,
tòng thử nhung-y thuộc vũ-thần.
Sứ-tinh thiên-môn thôi hiểu phát,
hành-nhân trọng pháp khinh ly-biệt.

Dịch nghĩa:

Thiên-hạ thanh-bình ba trăm năm, từ đó áo nhung thuộc hàng võ. Sứ tinh ở cửa trời sớm giục phải phát binh, người đi trọng phép công mà khinh sự ly-biệt.

Chú thích:

Thanh bình cũng tức như thái-bình.

Nhung là việc binh, y là áo. Nhung-y nghĩa là áo dùng về việc binh. 

Vũ-thần nghĩa là quan về hàng vũ.

Sứ-tinh tức là sứ trời. Sứ-giả truyền mệnh-lệnh của vua, cũng gọi là sứ-tinh. Vua Hòa-đế đời Hán sai hai sứ-giả đến Ích-châu dò thám Lý-Cáp mà không cho biết. Lý-Cáp hỏi rằng: «Triều-đình sai hai sứ-giả đến đây, các ngươi có biết không?» Hai người hỏi tại sao lại biết thì Lý-Cáp đáp rằng: «Vì thấy có hai sứ tinh ở trên trời đi về địa-phận Ích-châu».

Thiên là trời, môn là cửa. Thiên-môn nghĩa là cửa trời, tức là cửa nhà vua.

Hành là đi, nhân là người. Đây trỏ về người đi đánh giặc. 

Đoàn Thị Điểm dịch: 

Nước thanh-bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quan-vũ từ đây.
Sứ-trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng niềm tây sá nào.

4

弓箭兮在腰
妻孥兮別袂
獵獵旌旗兮出塞愁
喧喧簫鼓兮辭家怨
有怨兮分攜
有愁兮契闊

Dịch âm:

Cung tiến hề tại yêu, thê noa hề biệt khuyết.
Liệp-liệp tinh kỳ xuất tái sầu,

huyên-huyên tiêu cổ từ gia oán.

Hữu oán hề phân huề,
hữu sầu hề khế-khoát

Dịch nghĩa:

Cung tên kia đeo ở lưng, vợ con này phải rứt vạt áo mà từ biệt. Phấp phới cờ tinh cờ kỳ là cái cảnh sầu đi ra cửa ải, huyên-náo tiếng kêu tiếng trống là cái lòng oán phải từ-biệt nhà. Có oán mà phải chia tay nhau, có sầu mà phải dặn dò nhau. 

Chú thích:

Cung tiến nghĩa là cung tên.

Thê noa nghĩa là vợ con.

Tinh là cờ tinh, kỳ là cờ kỳ. Thứ cờ dùng trong khi ra trận. 

Xuất là ra. Tái là cửa ải. Đường thi có câu rằng: «Nhất địch văn suy xuất tái sầu » nghĩa là nghe tiếng ống địch thổi, nghĩ cái cảnh sầu trong khi đi ra cửa ải. 

Tiêu là ống tiêu, cổ là trống. Bài Thu-phong-từ của vua Vũ-phong-từ của vua Vũ-đế đời Hán có câu rằng: «Tiêu cổ minh hề phát trạo ca  簫鼓鳴兮發櫂歌» nghĩa là tiếng tiêu tiếng trống nổi lên thì hát mà mở mái chèo.

Từ gia nghĩa là từ-biệt nhà cửa.

Phân huề nghĩa là chia tay nhau mà ly-biệt.

Khế khoát nghĩa là gắn-bó dặn-dò nhau về sự sống chết. Kinh Thi có câu rằng: «Tử sinh khế-khoát, dữ tử thành thuyết» nghĩa là chết sống gắn bó nhau, cùng người có lời dặn-dò.

Đoàn Thị Điểm dịch: 

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiến,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

(to be continued)

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s