kỹ thuật drill

Thao tác lặp (repetition) xuất hiện rất nhiều trong hoạt động học tập, và luôn được xem như một chiến lược để học âm. Năm 1940, Harold Palmer, một tác giả có ảnh hưởng về phương pháp luận, trong The Teaching of Oral English (1940, 1970, Longman, p.11) đã viết: 

Có 3 giai đoạn học: (1) tiếp nhận, (2) cố định trong trí nhớ bằng cách lặp, (3) sử dụng trong thực hành.

Sau đó, phương pháp nghe nói (audiolingualism, or audio-lingual method) đã hệ thống hoá và phát triển thao tác lặp lên thành một hẳn một thực hành tinh vi hơn là kỹ thuật lặp drilling, or drills

Những tiếp cận ra đời sau tiếp cận hành vi, vốn là nền tảng của phương pháp nghe nói, tiếp tục cổ súy cho thao tác lặp, vì cũng như Palmer, những tiếp cận này tin rằng thao tác lặp sẽ giúp cố định ngôn ngữ trong trí nhớ. Những nhà nghiên cứu về trí nhớ cho rằng học vẹt là cách học không hiệu quả, trừ khi người ta nỗ lực một cách có ý thức trong việc tái tổ chức tài liệu được học, không thì có lặp bao nhiêu lần chăng nữa, một từ mới cũng sẽ không đi vào được trí nhớ dài hạn. Học từ mới đúng cách là phải tạo ra một mối liên kết cá nhân với nó, hoặc sử dụng nó trong ngữ cảnh, hoặc gán cho nó một hình dung tâm trí. Theo đó, chính cái cách mà một từ vựng được xử lý trong đầu mới quan trọng, chứ không phải số lần nó được lặp.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là thao tác lặp không có vai trò gì trong học tập. Lặp tiếp nhận (không phải lặp nói, như là trong kỹ thuật lặp drilling) ngày nay có vai trò quan trọng trong việc học từ vựng. Tiếp xúc càng nhiều với một từ, thì người học càng lưu giữ từ đó trong đầu lâu hơn. Khi gặp lại một từ, họ phải truy hồi nghĩa của từ từ trí nhớ dài hạn. Mỗi lần truy hồi là một lần củng cố con đường liên kết giữa hình thái của từ với nghĩa của từ. Lý tưởng nhất, những lần gặp lại đầu tiên nên gần với nhau, nhưng khoảng cách nên dãn ra dần; quá trình này gọi là truy hồi cách quãng (spaced retrieval). 

Gần đây nhất, những lý thuyết về đắc thụ dựa trên sử dụng (usage-based acquisition) cho rằng vốn ngữ pháp cũng như từ vựng chỉ đơn giản là kết quả của tần suất gặp lại. Những gặp lại này củng cố mối liên kết giữa những thành phần đồng hiện của ngôn ngữ, cho phép những kiểu mẫu được tiếp nhận, trích xuất, và lưu trữ trong bộ nhớ dài hạn. Lý thuyết này tìm thấy sự ủng hộ từ những nghiên cứu về thuyết liên kết, và cho rằng người học cần gặp lại các từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp nhiều lần, cộng với chỉ dẫn phù hợp để ghi nhớ một cách có ý thức.

Cuối cùng, lặp tác vụ (task repetition) được tìm thấy để tạo ra những kết quả khả quan về các phương diện độ chuẩn xác, độ trôi chảy, và độ phức tạp của đầu ra của người học. Yêu cầu người học làm một tác vụ theo nhóm, rồi trình bày lại nó trong những nhóm khác, là một cách thức hiệu quả để đưa thao tác lặp vào trong thực hành ở lớp học.

Kỹ thuật lặp hay kỹ thuật drill/drilling

Drill là một bài luyện nói bằng cách lặp lại một đơn vị ngôn ngữ, dù là âm, là từ, là ngữ đoạn, hay cấu trúc câu. Những bài drill có đối tượng là cấu trúc câu thì thường được gọi là pattern practice drills. Những bài drill tuân theo một chuỗi gợi – đáp, mà gợi đến từ giáo viên, còn đáp là học trò, hoặc hợp xướng, hoặc riêng lẻ từng cá nhân. Imitation drill là lặp lại gợi, chẳng hạn:

Giáo viên: “They have been watching TV.”

Học trò: “They have been watching TV.”

Còn substitution drill đòi hỏi học trò phải thay thế một phần của câu, chẳng hạn:

Giáo viên: “They have been watching TV.”

Học trò: “They have been watching TV.”

Giáo viên: “She…”

Học trò: “She has been watching TV.”

Giáo viên: “I…”

Học trò: “I have been watching TV.”

Variable substitution drill cũng tương tự, nhưng gợi thường không nằm ở một đơn vị ngôn ngữ duy nhất, chẳng hạn:

Giáo viên: “They have been watching TV.”

Học trò: “They have been watching TV.”

Giáo viên: “She…”

Học trò: “She has been watching TV.”

Giáo viên: “radio”

Học trò: “She has been listening to the radio.”

Giáo viên: “We…”

Học trò: “We have been listening to the radio.”

Drill là đặc điểm định danh của phương pháp nghe nói, và được thiết kế để củng cố những thói quen ngôn ngữ tốt. Với sự suy tàn của phương pháp nghe nói, drilling không còn được ưa chuộng nữa. Tuy nhiên, nhiều giáo viên, ngay cả những người trung thành với tiếp cận giao tiếp (communicative approach) cũng cảm thấy cần có một số dạng luyện tập bằng thao tác lặp của kỹ thuật drill nhằm nâng cao độ chuẩn xác, hoặc như một hình thức luyện tập tính trôi chảy để phát triển tính tự động (automaticity). Từ đó, cái gọi là communicative drills được ra đời. Communicative drill về cơ bản vẫn có thao tác lặp và vẫn tập trung vào một cấu trúc hay mẫu câu cụ thể, nhưng nó có một khoảng trống thông tin (information gap) cần người học tự mình điền vào. Người học có thể thực hành drill theo cặp, hoặc đi quanh và khảo sát (milling activity) để họ có thể tham dự vào việc nghe lẫn việc nói như nhau. Một milling activity phổ biến là Find someone who… Học trò được yêu cầu một tác vụ tìm những học sinh khác trong lớp mà có thể cưỡi ngựa, nói tiếng Pháp, chơi guitar, chẳng hạn. Họ đi xung quanh, gặp gỡ nhiều bạn học khác nhau và hỏi Can you…? rồi thu thập và báo cáo kết quả khảo sát.

Kỹ thuật drill xưa và nay

Dường như ngày càng ít giáo viên áp dụng nó. Có một cái gì đó nhạt nhẽo và lạc hậu ở drilling. Nhưng thời trước, theo Thornbury, drilling là tinh hoa của luyện nói trong lớp. Tuân theo lời giáo huấn của những nhà ngôn ngữ học cấu trúc và những nhà tâm lý học hành vi, câu châm ngôn “để học một ngôn ngữ mới, người ta phải thiết lập bằng lời nói những mẩu câu của ngôn ngữ đó như một thói quen vô thức” (Lado & Fries, 1943, 1979) được xem như mặc định đúng. Cũng như một nhà sư phạm từng nói: “Những mẫu câu cơ bản này kiến tạo nên tác vụ của người học. Chỉ cần lặp lại, lặp lại, và lặp lại nhiều hơn nữa, cũng như chỉ cần một lượng từ vựng vừa đủ là có thể drilling” (Hockett, 1959, cited in Richards and Rodgers 1986). Theo đó, dạy luyện nói cần mình phải minh hoạ được năng lực trình bày một lượng lớn bài drills – imitation drills, chorus drills, substitution drills, variable substitution drills, transformation drills, conversion drills, vân vân. 

Tuy nhiên, cái phương pháp elicit-and-drill này có khuyết điểm của nó. Về mặt cố định những cấu trúc câu vào trí nhớ, drilling làm rất tốt trong chừng mực ngắn hạn của một buổi học. Nhưng ở mức dài hạn, thì drilling khiến việc nói trở nên một thực hành cứng nhắc, khắc khổ và kiến thức sẽ bay hơi hết. 

Cuối thập niên 70, nền tảng lý thuyết của phương pháp nghe nói không còn được tin tưởng nữa. Wilga Rivers viết Teaching Foreign Language Skills (1968) dành hẳn nhiều chương để bàn về drills, nhưng thế hệ sau này hiếm khi nhắc đến nó nữa. Hoặc nếu có thì cũng luôn đi kèm những cảnh báo về việc sử dụng. Harmer trong cuốn The Practice of English Language Teaching (1991) đã khuyên: “Drills không nên tốn quá nhiều thời gian và cũng không nên dùng quá thường xuyên” (p.92). Hay Brown, trong Teaching by Principles; An Interactive Approach to Language Pedagogy (1994) cũng nói: “May là ngày nay chứng ta đã phát triển những thực hành giảng dạy khiến cho drilling trở nên thứ yếu hoặc hiệu quả hơn” (p. 138).

Vậy bây giờ, drilling có còn không? Và nếu áp dụng nó, thì làm sao cho hiệu quả?

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s