On Foucault’s L’Histoire de la sexualité (1976)

Cuốn The Routledge guidebook to Foucault’s The History of Sexuality (2016) của Chloe Taylor,
tháng 4 năm 2020

Năm 1950, và sau đó một lần nữa vào năm 1951, Michel Foucault tham dự agrégation de philosophie, kỳ sát hạch mà David Macey từng mô tả trong hồi ký là một kỳ thi quy mô quốc gia cạnh tranh khốc liệt và là một trong những hình thức kiểm tra trí thức khắc nghiệt nhất được sinh ra ở Pháp (Macey, 1993, p.43). Kỳ thi này là một yêu cầu bắt buộc để được giảng dạy triết học ở Pháp tại lycée và các bậc đại học, bao gồm bài luận hoàn thành trong 3 ngày. Nếu một thí sinh đỗ bài thi viết – thường tỷ lệ là một trên bốn – anh ta hoặc cô ta sẽ tiếp tục với hai bài thi nói. Vào thập niên 60, bài thi nói đầu tiên là về một đề tài mà thí sinh bốc được từ một cái giỏ, bài thi thứ hai bao gồm một bài giảng về một chủ đề cụ thể và ba bài bình giảng về những văn bản tiếng Pháp, tiếng Latin và cả tiếng Hy Lạp hoặc một ngôn ngữ hiện đại. Lần đầu tham dự agrégation, Foucault bị loại ở bài thi nói đầu tiên về chủ đề ‘hypotheses’. Lần thứ hai tham dự agrégation, sau bài luận về trải nghiệm, lý thuyết, Bergson và Spinoza, đề tài Foucault bốc được từ giỏ là ‘sexuality’. Theo Macey, bài nói rất trôi chảy của Foucault về các khía cạnh tự nhiên, lịch sử và văn hóa của tình dục đã thuyết phục những giám khảo về năng lực của ông, và ông được xếp hạng thứ ba ex aequo ở agrégation de philosophie (Macey, 1993, p. 45).

Mặc dù đậu kỳ thi, Foucault rất giận dữ; theo ý của ông, tình dục không phải là một đề tài phù hợp cho agrégation. Chính Canguilhem đã đề xuất đề tài này, mặc cho những phản bác từ Davy, với lý do những đề tài của agrég chẳng thay đổi gì kể từ khi ông ấy thi năm 1927 và đã đến lúc phải thử cái mới. Ngoài ra, Canguilhem cũng biện luận rằng, toàn bộ những thí sinh tham dự agrégation đều đã từng đọc Freud, và họ đều nói về tình dục. Foucault có cùng quan điểm bảo thủ với Davy, và phản đối Canguilhem. (Macey, 1993, p. 45)

Vào thời điểm này, những mối bận tâm học thuật của Foucault là triết học của Hegel, Husserl, và Heidegger, và ông cảm thấy rằng đề tài ‘sexuality’ không cho ông một cơ hội nghiêm túc hoặc phù hợp để thể hiện năng lực trí tuệ của mình với một số ít những học giả hàng đầu của Pháp.

Nhưng làm sao mà Foucault, từ một người bảo thủ xem ‘sexuality’ là một đề tài không phù hợp trong lĩnh vực khoa bảng lại trở thành một triết gia cấp tiến và tiêu biểu ở Pháp đã dành ba cuốn sách cuối đời của mình để viết về ‘lịch sử tình dục’? Chẳng phải chúng ta đang chứng kiến ở đây một sự chuyển biến kịch tính từ một Foucault trẻ, người miễn cưỡng nói về tình dục, thành một Foucault già, người viết nhiều sách về đề tài nói trên? Một cách lý giải chuyển biến này là, năm 1951, Foucault vẫn còn bị áp chế về mặt tính dục nhưng vào thời điểm ông viết L’Histoire de la sexualité, tức thập niên 70 và đầu thập niên 80, ông đã trải qua phong trào giải phóng tình dục và đã công khai mình là người đồng tính, do đó có thể viết về đề tài cấm kỵ nói trên. Tuy nhiên, sự chuyển biến này dựa trên một lịch sử chung về cấm đoán và giải phóng tình dục mà quyển 1 của L’Histoire de la sexualité đã khuyến cáo chúng ta chống lại. Một cách diễn giải thứ hai cho sự giận dữ của Foucault về việc bị buộc phải nói về đề tài tình dục trong kỳ thi năm 1951 là nó gợi lại sự vấn đề hóa việc sản xuất những định ngôn về tình dục trong thời hiện đại mà ông đã trình bày trong quyển 1 của L’Histoire de la sexualité. Là một người đồng tính, đã chịu đựng trị liệu tâm lý trong một xã hội kỳ thị đồng tính vào thời điểm làm bài thi, Foucault cảm thấy bị ép buộc phải nói về tình dục và nói về nó với những học giả có thẩm quyền một cách liên tục, với phần nào hé lộ về sự tự do của ông. Quyển 1 của L’Histoire de la sexualité đã hỏi: Tại sao chúng ta phải xem tính dục là thứ gì đó quan trọng với danh tính con người mình? Tại sao nó lại trở thành một đề tài của định ngôn học thuật? Những định ngôn này đã buộc chúng ta phải nói về tình dục như thế nào, và những tác động quyền lực nào mà những hành vi ngôn hành này tạo ra? Trong quyển 1 của L’Histoire de la sexualité, Foucault cho thấy sự thảo luận mang tính bắt buộc và liên tục của chúng ta về tình dục mỉa mai thay lại chống lại các thuyết về áp chế và giải phóng ẩn tàng trong luận giải đầu tiên của mình ở agrégation và việc thảo luận này do đó không nên được hiểu là một hành vi giải phóng mà là một hành vi trói buộc chúng ta vào mạng lưới quyền lực đã thiết lập nên những loại chủ thể mà chúng ta là và củng cố những khía cạnh trong cuộc sống này.

Cách diễn giải thứ hai này về chuyển biến của Foucault liên quan đến agrégation đã cho thấy ‘lịch sử tình dục’ của Foucault không phải là một tự sự về các hành vi tình dục hay khoái cảm tình dục. Nó là một phân tích về cách mà tình dục trở thành một nguồn sản xuất tri thức và quyền lực. Cụ thể là, Foucault không thấy những ý nghĩa được phát triển và những sản xuất thảo luận xoay quanh tình dục là một dấu hiệu cho thấy chúng ta khám phá ra tầm quan trọng của tình dục cũng như không phải dấu hiệu của việc xã hội trở nên tự do hơn. Trái lại, Foucault diễn giải rằng những hiện tượng này là dấu hiệu của một dạng thức quyền lực mới – ông gọi là “quyền lực sinh học” – nhằm kiểm soát cuộc sống của loài người cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ dân số. Cụ thể hơn nữa, là một người sinh trưởng ở Pháp dưới thời Quốc xã, Foucault quan tâm đến việc lý giải sự xuất hiện của một tương giao hỗn tạp giữa tình dục và quyền lực gắn liền với thuyết ưu sinh, đã ra đời trong thế kỷ 19 và chạm đến điển hình đẫm máu của nó dưới thời Quốc xã.

Vào thế kỷ 19, châu Âu và Bắc Mỹ phải đối mặt với những tác động của đô thị hóa gia tăng, bao gồm cả sự mở rộng dần của các khu ổ chuột, nơi sinh sống của tầng lớp thấp những người nghèo, lao động tình dục và trộm cắp, nhiều người thuộc tầng lớp này, trong cách nghĩ của tầng lớp trung lưu, thuộc dạng lười nhác và vô đạo một cách đáng tởm. Tỷ lệ phạm tội, bệnh tật, các vấn đề về tâm thần, tình trạng nghiện rượu, lang chạ và mại dâm rất khủng khiếp trong phân khúc dân số này, vậy mà họ lại sinh đẻ còn nhanh hơn cả giai cấp trung lưu. Kết quả là một nỗi sợ dấy lên ở giai cấp tư sản rằng những “ung nhọt” của xã hội này rồi sẽ lấn lướt cả họ. Giai cấp trung lưu ở các nước phương Tây bắt đầu nghi ngờ rằng giống loài của họ đang suy thoái không chỉ vì họ sinh để không đủ nhanh mà còn vì những tầng lớp thấp đang sinh đẻ quá nhanh. Những nỗi sợ này trở nên trầm trọng hơn ở các quốc gia như Anh, khi những nghiên cứu về chiều cao, cân nặng và sức khỏe của binh lính vào thế kỷ 19 cho thấy một ‘sự thoái hóa giống về mặt sinh lý ngày càng gia tăng’ (Dr Henry Rumsey, cited in Childs, 2001, p. 1). Việc châu Âu khám phá ra các quốc gia ngoài châu Âu đã buộc người châu Âu đối mặt với những chủng tộc mà họ cho là thấp kém hơn, nhưng bởi vì họ tin rằng thế giới có cùng một tổ tiên là Adam và Eve, nên đã nghĩ rằng đó là hệ quả của thoái hóa giống qua thời gian, rơi khỏi sự cao quý ban đầu (Childs, 2001, p. 1). Nguy cơ về sự thoái hóa giống toàn quốc được xướng lên, và người ta ngày càng lo rằng người châu Âu cũng như người Bắc Mỹ sẽ bị hạ thấp xuống cấp bậc của những chủng tộc thấp kém nếu như việc sinh đẻ không có kế hoạch cứ diễn ra.

Đáp lại những nỗi sợ này, thuyết ưu sinh ra đời vào cuối thế kỷ 19 ở Anh, với những tác phẩm của Francis Galton, và lên đến đỉnh vào nửa đầu thế kỷ 20 ở Âu châu. Galton dựa trên thuyết chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin để biện luận rằng xã hội loài người đang ngăn chặn chọn lọc tự nhiên và “survival of the fittest” bằng cách bảo bọc cho những kẻ nghèo, bệnh và yếu đuối bằng các chương trình phúc lợi, từ thiện và y tế. Ông ta đề xuất khái niệm “thuyết ưu sinh” từ gốc tiếng Hy Lạp eu (tốt, khỏe) và genes (sinh đẻ) và mô tả khoa học này là bộ môn nghiên cứu toàn bộ các tác nhân dưới sự kiểm soát của con người nhằm cải thiện và sửa chữa chất lượng giống của những thế hệ tương lai (dẫn từ Black 2004, p. 18). Những người theo thuyết Darwin về mặt xã hội cho rằng “survival of the fittest” chỉ đạt được một cách tự nhiên nếu hệ thống phúc lợi bị bãi bỏ: mặc dù người nghèo sẽ tiếp tục có nhiều con hơn người trung lưu, nhưng nhờ chính sách này mà tỉ lệ chết của nhóm này sẽ cao hơn, vì nghèo đói và thiếu chăm sóc y tế. Herbert Spencer, một trong những người theo thuyết Darwin xã hội, giải thích:

It seems hard that an unskilfulness… these harsh fatalities are seen to be full of beneficence.
(cited in Childs, 2001, pp. 2-3)

Spencer, theo đó, cho rằng phải để tự nhiên làm chủ, loại bỏ những cá thể yếu đuối của giống loài. Những người như Spencer phản bác luận thuyết cho rằng cải thiện môi trường sống của người nghèo sẽ làm giảm tỷ lệ các vấn đề tâm thần, bệnh truyền nhiễm, thói nghiện rượu, sự lang chạ và tội phạm. Trong khi những người ủng hộ cải tổ môi trường sống chủ trương cải thiện giáo dục và y tế cho người nghèo, những người theo chủ thuyết của Darwin bác bỏ những phương pháp đó, cho rằng việc giúp duy trì phân khúc dân số này chỉ làm vấn đề tệ hơn.

Mặc dù phương pháp của Spencer để cho người nghèo và người yếu đuối chết mà không can thiệp, những ưu sinh thuyết gia khác cổ xúy cho các kế hoạch chủ động hơn. Các kế hoạch này có thể chia thành hai nhóm “tiêu cực” và “tích cực”. Những thuyết gia ưu sinh tiêu cực, điển hình là F. C. S. Schiller, cho rằng “kiểm tra sự suy thoái mà loài người đối mặt, mắc nợ sự sinh trưởng nhanh chóng của cái mà chúng ta gọi là cỏ dại người” (cited in Childs, 2001, p. 3). Chiến lược này bao gồm việc ngăn chặn những cá nhân và những nhóm bị xem là ‘thoái hóa’ sinh sản bằng cách triệt sản, giam cầm (như là định chế hóa – institutionalizing – những người có vấn đề về tâm thần và khuyết tật trong những định chế cách ly tình dục – sex-segregated institutions), an tử hoặc trong trường hợp của Đức Quốc xã, là diệt chủng. Những kế hoạch ưu sinh tiêu cực này được cho là vẫn tiếp tục đến ngày nay thông qua những thực hành như giam cầm những nhóm dân số bị đánh dấu chủng tộc trong những nhà tù cách ly tình dục và quan sát đều đặn những phôi thai với áp lực y tế nhằm tiêu diệt những bào thai có thể dẫn đến trẻ khuyết tật (Guenther, 2016). Từ một góc độ ưu sinh, những kế hoạch tiêu cực này chỉ có thể ngăn sự thoái hóa đi xa hơn, tuy nhiên, chúng không thể chủ động cải thiện vốn gen và những chiến lược của ưu sinh tích cực được đồng thời triển khai. Ưu sinh tích cực bao gồm việc khuyến khích hoặc ép buộc những “bông hoa người” với sư ưu trội về gen được sinh ra ở những gia đình lớn. Việc nạo phá thai của những phụ nữ khỏe mạnh bị xem là phạm pháp dưới thời Đức Quốc xã, và phụ nữ trung lưu cố gắng bước chân vào lực lượng lao động sẽ bị ngăn cảm vì những công việc ngoài gia đình bị cho là những công việc hủy hoại giống loài. Những phương pháp của ưu sinh tích cực vẫn tiếp diễn đến hôm nay, bao gồm sự khuyến khích về mặt tài chính hoặc chính trị khi sinh con đẻ cái và sử dụng công nghệ y tế như thụ tinh trong ống nghiệp, mang thai hộ, chẩn đoán gene trước khi thụ tinh, cấy trứng và nhân bản.

Thuyết ưu sinh do đó hướng đến việc cải thiện vốn gen; Tuy nhiên, cái được gọi là “cải thiện” buộc phải được định nghĩa về mặt văn hóa xã hội và luôn gắn liền với sự phân biệt giai cấp, phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử với người khuyết tật (Snyder and Mitchell, 2006). Những thuyết gia ưu sinh bận tâm về sự phát triển trí tuệ của dân số, nhưng mối bận tâm này hướng đến việc khuyến khích sinh đẻ ở tầng lớp trung lưu, mà lại ngăn chặn ở tầng lớp lao động, cũng như củng cố những định kiến về khuyết tật nhận thức, như là ‘simple-minded farmhand, Charles Jouy sẽ nói rõ hơn ở chương 1. Những thuyết gia ưu sinh chống lại hôn nhân khác chủng tộc, trộn lẫn những lập luận khoa học với những giả định của thuyết da trắng thượng đẳng. Với Đạo luật Nhập cư năm 1924 của nước Mỹ, những thuyết gia ưu sinh thành công trong việc chống lại những nguồn gen thấp kém từ phương Nam hoặc Đông Âu du nhập vào Mỹ. Luật pháp được ban hành vào cuối thể kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã ngăn chặn những người có vấn đề về tâm thần kết hôn, và cho phép họ tự triệt sản ở các định chế tâm thần. Những đạo luật này được duy trì bởi Hội đồng Tối cao Hoa Kỳ năm 1927 và mãi đến giữa thế kỷ 20 mới bị bãi bỏ. Kết quả là, trong khoảng từ 1907 đến 1974, hơn 65,000 người Mỹ bị xem là có vấn đề về tâm thần bị triệt sản với những chương trình ưu sinh do nhà nước tổ chức nhằm ngăn họ lan truyền gene. Lisa Guenther ghi nhận, những con số này tính ra vẫn mờ nhạt so với tác động của chính sách phúc lợi xã hội hướng đến người nghèo và người da màu. Năm 1980, có khoảng 700,000 người bị triệt sản với những chính sách như vậy (Guenther, 2016, p. 221). Sự phân biệt chủng tộc của những cuộc phẫu thuật này rất rõ ràng, khi vào năm 1968, Mỹ đã triệt sản một phần ba phụ nữ Puerto Rico ở độ tuổi sinh nở, và cuối thập niên 70, hơn một phần tư người phụ nữ bản địa Mỹ bị cắt buồng trứng (Guenther, 2016, p. 221). Ở Canada, Đạo luật Triệt sản được thông qua ở hai vùng, dẫn đến 3,000 ca triệt sản ở Alberta và hàng trăm cả ở British Colombia trong khoảng từ thập niên 1920s đến 1970s. Cũng như ở Mỹ, những chương trình ưu sinh của Canada hướng đến đối tượng là những người khuyết tật về thể chất hoặc tâm thần, cũng như những người da màu, cụ thể là những người bản địa và người Métis, và người nhập cư (Malacrida, 2015). Cả ở Mỹ lẫn Canada, phụ nữ bị chẩn đoán là có vấn đề về tâm thần và hạn chế về nhận thức nhiều hơn nam giới cũng như người nghèo so với người trung lưu, người nhập cư so với người có quốc tịch, và người da màu so với người da trắng.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, có một xu hướng áp chế thực tế rằng những quốc gia ngoài Đức có một lịch sử của thuyết ưu sinh – những lịch sử đã bị bịt miệng vẫn tiếp tục kéo dài rất lâu sau sự thất bại của Quốc xã. Tuy nhiên, những học giả quan trọng về chủng tộc và khuyết tật không chỉ truy tìm lịch sử mở rộng của thuyết ưu sinh ở thế giới phương Tây mà còn cho rằng những phong trào ủng hộ hôn nhân và hình thái gia đình truyền thống gần đây ở các nước như Mỹ và Canada là một sự tái thiết và nối dài của phong trào ưu sinh (McWhorter, 2009). Khoa học dựa trên thuyết ưu sinh vẫn tiếp tục ở những ca thiết kế trẻ em, tư vấn di truyền, hiển thị bào thai và nạo phá thai cũng như sự thiết lập ‘ngân hàng tinh trùng thiên tài’. Những ví dụ này bao gồm việc sử dụng một công nghệ khoa học mới nhằm cải thiện gen của từng đứa trẻ và của toàn dân số, những đứa bé bị xem là không khỏe mạnh sẽ bị ngăn chặn không cho chào đời. Những thực hành này theo đó đã nối dài những định kiến của một xã hội phân biệt giai cấp, thượng đẳng da trắng, phân biệt khuyết tật, trong khi tiếp tục những mục tiêu của thuyết ưu sinh.

Quyển 1 của L’Histoire de la sexualité phát triển một phân tích về loại quyền lực đã bảo trợ cho thuyết ưu sinh, khi nó tồn tại vào thế kỷ 19 và thế kỷ 20, và nó tiếp tục phát triển trong những dạng thức mới ngày hôm nay. Theo cách này, quyển 1 cung cấp cho chúng ta những công cụ quan trọng nhằm hiểu và ngăn chặn những dạng thức phân biệt giới tính, phân biệt heterosexist, phân biệt khuyết tật và phân biệt chủng tộc đã thúc đẩy và nối dài bởi lý luận và thực hành ưu sinh. Vì lý do này, quyển 1 của L’Histoire de la sexualité trở nên rất linh động trong lĩnh vực nghiên cứu về nữ quyền, queer, người khuyết tật và chủng tộc, một số trường hợp còn có chức năng như một văn bản kinh điển.

Trong khi từ chương 1 đến chương 4 của cuốn sách này cung cấp một lời giải thích chi tiết và những ví dụ của quan điểm Foucault ở quyển 1 của L’Histoire de la sexualité, chương 5 và 6 sẽ bàn về cách mà quyển này được sử dụng trong những phong trào giải phong và những lý thuyết công bằng xã hội. Cụ thể hơn, chương 5 sẽ bàn về ảnh hưởng của L’Histoire de la sexualité theo thuyết về nữ quyền, và chương 6 sẽ xem xét vị trí nền tảng của quyển này trong queer theory. Bởi vì chương 1 của L’Histoire de la sexualité được viết ra như một lời giới thiệu sơ bộ về toàn cảnh của năm quyển tiếp theo mà Foucault định viết , nên nó đóng vai trò tóm lược, cung cấp những ví dụ hoặc dẫn chiếu cho quan điểm của ông và chủ trương những lập luật theo một dạng thức tổng hợp, nên bốn chương đầu của cuốn sách này tôi tập trung bàn về những bài giảng của Foucault trong những năm ông viết và xuất bản cuốn L’Histoire de la sexualité, cũng như những tác phẩm của các nhà khoa học về tình dục (như Richard von Kraff-Ebing và Sigmund Freud) những người mà Foucault đã chịu ảnh hưởng khi viết quyển này. Theo cách này, tôi sẽ làm rõ những điểm chỉ được ghi rất vắn tắt trong L’Histoire de la sexualité. Thêm vào đó, thông qua những chương này tôi sẽ cung cấp những hướng ứng dụng và những ví dụ của quan điểm Foucault cho thấy sự liên quan của nó với bối cảnh ngày nay, 40 năm sau cuốn này được xuất bản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s