Hà Nội mùa chim làm tổ (1978)

Sau chiến tranh và bước vào thời kỳ xây dựng các vùng kinh tế mới, trong lòng Hà Nội nảy sinh mâu thuẫn giữa vì tương lai đất nước hay là vì sự dễ chịu của bản thân, giữa lợi ích chung và lợi ích riêng.

Ở đó có những ông tướng về hưu như ông Trọng, bố của Khánh. Ông Trọng không chấp nhận việc xin cho con dâu tương lai là Nguyệt một việc làm ở Hà Nội, để được gần nhà, mà ông muốn con cái trong nhà ai cũng phải làm theo chỉ thị của nhà nước. Điều đi vùng nào thì đi vùng đó, không có xin xỏ chạy chọt gì hết. Khánh cũng đồng tình với quan niệm của ông:

“cái trò chạy chọt xin xỏ, bản thân nó đã là một sự lố bịch”

Nhưng bà Thời, mẹ của Nguyệt thì lại không nghĩ như vậy. Bà cho là cái thời buổi này mà không “lách luật” thì chẳng thể nào sung sướng hơn được. 

“Mẹ có biết người ta nói gì về gia đình mình không?”

“Chị không phải dạy khôn tôi. Muốn sạch sẽ thơm tho thì cứ đi khỏi cái nhà này”

Nhưng bây giờ, sau 42 năm kể từ khi bộ phim công chiếu, nếu ai còn bàn chuyện chạy chọt xin xỏ là đáng lên án hay không đáng lên án thì người đó sẽ trở thành một trò hề. Vì về cơ bản, trong 42 năm qua, việc đó đã ngấm ngầm trở nên một chuyện thường ngày ở huyện. Nó chứng tỏ một điều, con người của lý tưởng, tuy đẹp đẽ, nhưng đã thất bại trước thực tế cuộc sống. Chỉ có thằng ngu mới tưởng điều ngược lại.

Cái thế giới hoàn hảo trong óc những người như ông Trọng và Khánh rốt cuộc sau 42 năm đã thành hiện thực hay chưa? Hay rồi cũng chỉ như “những thiên đường mù”?

Nếu đúng là vậy thì vấn đề của những người như ông Trọng là gì? Ông Trọng sống độc lập, tự lực, có tự trọng và có kỷ luật. Điều đó đáng quý. Nhưng cái ngu xuẩn của ông Trọng là ông nghĩ rằng trên đời này cái gì mình chịu đựng được thì người khác cũng chịu đựng được, cái mức mình thấy khuây khỏa thì cũng là cái mức người khác thấy khuây khỏa. Ông không bao giờ chịu hiểu tâm tư của thằng Lực con ông, cũng không bao giờ thử đặt mình vào vị trí của bà Thời mẹ Nguyệt để hiểu vì sao họ lại hành động như vậy. Cơ bản là, họ đâu có giống ông? Những ông tướng về hưu như ông Trọng, bám quá chặt vào lý tưởng, khi bước vào thời bình tất sẽ than thở như Nguyễn Đình Chính: “tấm bảng hiệu giẫm đạp lên đôi mắt người lính già”. Nhưng lính già rồi thì làm gì còn hiểu được thực tế cuộc sống mới? No country for old men (2007).

Trên đời, có loài chim sống trên cành cất tiếng hót thanh tao, thì cũng sẽ có loài giun bò dưới bùn lầy tanh bẩn. Và tất cả đều có lẽ sống của chúng. Nếu chúng ta muốn nước trong, thì phải chấp nhận triệt đường sống của những loài cá chỉ có thể sống ở vùng nước đục bẩn. Hitler cũng làm vậy, vì ông ta tin rằng đó là một phương pháp để nước Đức trở nên tiến bộ.

Hegel, rồi sau đó là Marx, Lenin và Stalin đều quá tự tin vào sự tồn tại của tiến bộ. Một người tuân thủ kỷ luật hơn, nhưng cũng trở nên trầm uất hơn thì đó có là tiến bộ? Một xã hội giàu có hơn nhưng ít bình đẳng hơn thì đó có là tiến bộ? Ngay cả khi tiến bộ có thực, thì liệu có được phép dùng dialectics để biện minh cho những thực hành bạo lực? 

Khá liên quan: nhìn những nghĩa trang đều tăm tắp của Mỹ, tôi mới ấn tượng với sự phóng khoáng của người Pháp. Tôi từng xem video về nghĩa trang Père Lachaise. Ở đó bày ra đủ mọi kiểu dáng mồ mả. Quy hoạch nghĩa trang, tuy mang lại sự trật tự, nhưng lại làm biến mất sự đa dạng, thủ tiêu sự khác biệt, nghèo nàn cá tính.

Thời bình khác rất nhiều so với thời chiến. Điển hình nhất là chấm dứt việc nhìn nhận mọi thứ theo kiểu bên này và bên kia, mà sẽ trở nên đan cài nhiều giá trị khác nhau. Nhưng các nhân vật trong Hà Nội mùa chim làm tổ bị nhàu nặn để trở thành những hình tượng tốt, xấu đơn điệu, nhằm phục vụ cho việc trình bày thông điệp tuyên huấn tuyên giáo. Tại sao Đức Râu lại phải là một thằng ma cà bông? Tại sao bà Thời lại phải hiện ra với vẻ đẩy đưa chua ngoa? Sự rạch ròi giữa bên này và bên kia, sự chết cứng một kiểu nhân vật thiện hay ác, nó là cái ngây thơ đáng chết của cổ tích.

Hà Nội mùa chim làm tổ còn giống cổ tích ở chỗ nó vẽ ra một hậu quả cho hành động của nhân vật để tuyên huấn. Nó khép tội cho sự lưỡng lự, bị động của Nguyệt: tội yếu đuối và ích kỷ. Nhưng những con người như Nguyệt trên thực tế có chịu một cái kết buồn bã như vậy? Và những con người như Khánh có thực sự rồi sẽ nhận được cái kết viên mãn?

Mà một gã như Khánh có gì đáng khen ngợi đâu? Chưa rạch ròi nói chia tay với Nguyệt mà đã dan díu với Hà, bạn thân của Nguyệt, anh ta có thể làm nghiên cứu giỏi nhưng anh ta cũng đâu phải là người biết lý lẽ? Mà tại sao chuyện tình yêu đôi lứa bây giờ lại phải lệ thuộc vào cả chính sách, nghị định, thông tư?

Nguyệt và bà Thời đúng là đã làm sai nguyên tắc. Điều đó đáng trách. Nhưng một thứ định ngôn cho rằng con người cá nhân phải xả kỷ vị nhân, phải chối bỏ sự sung sướng của mình để vì một tập thể, dù cái tập thể đó chưa làm được gì cho mình hết, là một thứ định ngôn phi nhân tính, vì nó không xem con người như một thực thể có tâm lý phức tạp, mà chỉ là những cỗ máy làm theo guồng quay của hệ thống.

Đưa toàn bộ credits lên đầu và phút cuối chỉ có duy nhất một chữ “hết” (конец фильма), Hà Nội mùa chim làm tổ (1978) cho thấy nó chịu ảnh hưởng từ điện ảnh Soviet. Và cũng như các bộ phim Soviet, nó phụng sự cho hiện thực xã hội chủ nghĩa, vẽ ra một xã hội của lẽ ra phải là. Socialist realism là khoảnh nối dài của văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí

Giữa thời buổi mà cái riêng bị khuất lấp bởi lý tưởng chung, việc khắc họa tâm tư nữ chính, Nguyệt, mang lại khả năng cho sự ra đời một tác phẩm lớn. Nhưng đáng tiếc, Hà Nội mùa chim làm tổ, nói theo chữ dùng của Phan Ngọc, là một bộ phim “giải thích chính sách”.

Tuy vậy, tôi khá thích bài Hoa sữa của nhạc sĩ Hồng Đăng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s