nho-ben-da-giang

Nhớ bến Đà giang

Trong bài viết Tình yêu và khát vọng nơi ranh giới: những ca khúc ở hai bờ vĩ tuyến 17, Jason Gibbs có lập ra một danh sánh sơ bộ những ca khúc của người tập kết từ Nam ra Bắc và của người di cư từ Bắc vào Nam, sau hiệp định Geneva 1954. Tuy nhiên, Jason Gibbs bỏ sót mất một ca khúc của người di cư mà cá nhân mình thấy là một trong những bài hay nhất, đó là bài Nhớ bến Đà giang của nhạc sĩ Văn Phụng.

Trên trang Một thời Hà Nội hát của anh Trương Quý, có thông tin ca khúc này được Văn Phụng sáng tác trong khoảng 1958. Thực ra mình vẫn chưa hiểu từ đâu mà anh có cái mốc này, vì theo nhiều nguồn khác thì Văn Phụng đã vào Nam từ khoảng 54 rồi. Tại sao bài hát này không ra đời sớm hơn, vào khoảng 55 hay 56?

Có lẽ anh dựa trên thông tin ghi trên các tập nhạc sau chăng?

Ca khúc này đã từng được nhiều ca sĩ trình bày, nổi bật là Thái Thanh, Hoàng Oanh và Phương Hồng Quế, và mỗi người đều có cách hát riêng. Nhưng mình rất thích cách hát câu đầu tiên của Hoàng Oanh và Thái Thanh.

Cái cảm giác hoài hương của người xa xứ trong Nhớ bến Đà giang dường như lặp lại rất nhiều lần trong văn chương và âm nhạc của xứ sở này:

Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi nhờ đem hộ lá thư?
(Văn Cao, Ai về Kinh Bắc, 1941)

Nghe Nhớ bến Đà giang của Văn Phụng và Chiêu Tranh, cũng như nghe Mưa trên phố Huế của Minh Kỳ và Tôn Nữ Thụy Khương, mình muốn một hôm nào đó còn sức khỏe và thừa tiền bạc, sẽ một lần được đi thuyền trên những dòng sông quê hương. Sẽ theo dòng Đà giang mà trôi qua các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, đi bắt cá ngần trắng như tuyết, đi xem người ta bán côn trùng ở chợ quê Hòa Bình và ăn thử cái món đặc sản cá Ốt đồ của người Mường. Qua nửa đời phiêu dạt, cũng phải có lúc về úp mặt vào sông quê chứ, phải không?

Chao ôi trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.
(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà)

Không biết chờ đến khi mình có thể thực hiện cái việc ấy, thì Đà giang có còn nước biết hay không, hay đã bị cái bọn tham quan ô lại đầu độc cho đen thui rồi.

Hẳn xúc động lắm khi đứng ở đầu mũi thuyền trôi giữa hai bờ là những khối núi đá vôi bị phong hóa của cảnh quan Karst, mà nhìn cảnh nắng xuống trời lên sâu chót vót, để nối lại một niềm thân mật với người xưa. Tự nhắc mình rằng, ở khúc sông này đã từng có ông Nguyễn Tuân, có ông Văn Phụng đi qua.

Đó chẳng phải là một thứ biểu hiện rõ ràng nhất của “yêu Tổ Quốc yêu đồng bào” hay sao?

Shen Yun

When it comes to China-related political issues, everything seems to be polarized. Searching for some information about Shen Yun, the Chinese performing arts show tour, we will inevitably reach both acclamation and denouncement, and it’s pretty easy to see that the denouncement comes mainly from mainland China.

But probably we do not need more talks on the political motives in the backstage. It’s definitely better just to appreciate the beauty of Shen Yun and also of its dancers.

As someone has said, dancing has its own language that comprises 5 elements: movement, formation, turn, physique and emotion. With Shen Yun, these 5 elements meet all the possible expectations.

To be a good dancer, I think one must be born with some talent; and at the same time, it requires tons of training and practice. Adventurousness and creativity are also needed. Watching the video What it takes to be a Shen Yun dancer, albeit a little too PR content directed of a video, I could see how hard a Shen Yun dancer must try to deliver the performances at such level of unbelievable precision.

And, yeah, male dancers in general, with their slim fit body type and elegant curves, are simply beautiful creatures.

19-thang-8

19 tháng 8

Tình hình một số tờ báo trước và sau 19-8 của 75 năm trước

Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe ra số cuối, số 120, vào ngày 11-8-1945.

Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới của Tự Lực Văn Đoàn, lúc này giữ chức chủ nhiệm đang là Nguyễn Tường Bách, ra số cuối, số 16, ngày 18-8-1945.

Tờ Tri Tân, nơi hoạt động của Nguyễn Văn Tố, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Tường Phượng, Chu Thiên Hoàng Minh Giám, Bảo Vân Bùi Văn Bảo, Ngô Văn Triện, Đào Duy Anh, Ngô Tất Tố và cả Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh vẫn sống sót qua ngày 19-8. Trong các số ra ngày 11-8, 23-8 và 30-8 có những bài viết đốc thúc tinh thần yêu nước và luận bàn về vấn đề tự trị. Nhưng đến 22-11-1945 thì ra số cuối (trong đó có 1 phiên bản Tiến quân ca, tên là Kháng chiến ca, với phần lời khác với phần lời ta vẫn biết) vì bị chỉ trích là “nệ cổ” và “cản trở sự tiến hóa của dân tộc” (tuy năm 1946 sẽ trở lại với 2 số nữa nhưng rồi thôi ngay).

Ngoài ra còn có tờ Bình Minh (mà theo Vũ Bằng là có dính dáng nhiều đến người Nhật) với yếu nhân là Khái Hưng, và tất nhiên có nhiều tờ báo do tư nhân chủ trương cùng hoạt động tự do, với các khuynh hướng chính trị khác nhau.

Ảnh dưới đây là tờ Saigon của Nguyễn Đức Nhuận, ở miền Nam, nơi có dấu vết của “Đế quốc Việt Nam” ngắn ngủi, và câu chuyện về cuộc biểu tình của 200 ngàn người ngày 21-8 ủng hộ “mặt trận Thống nhứt quốc gia”.

Nhưng “mặt trận Thống nhứt quốc gia” là gì? Có phải Việt Minh không?

Trong một diễn biến khác, nhân tiện, đang đọc lại Tạ Tỵ:

Trước ngày 19-8-1945 là ngày Việt-Minh cướp chính quyền, Lê quốc Lộc đến tìm tôi nói về tình hình chính trị:

– Chúng mình không thể ngồi chờ được nữa, phải hành động!

Tôi hỏi:

– Hành động cái gì?

Anh nhìn thẳng vào mắt tôi như dò xét:

– Tôi nói hành động tức là phải tham gia cách mạng.

– Cách mạng nào?

Lộc trả lời với một giọng dắn chắc:

– Tôi nói thực với cậu, tôi đang hoạt động cho Mặt Trận Việt Minh; tình thế đã chín mùi rồi. Nếu cậu bằng lòng, tôi mời cậu tham gia Mặt Trận.

Tôi đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Lộc nói tiếp:

– Công tác cũng nằm trong khả năng của tụi mình thôi, nghiã là chuyên môn.

Tôi ậm ừ trả lời:

– Nếu cậu làm được tôi cũng làm được.

Lộc cười, cặp mắt một mí của anh hơi nheo trông giống như hai sợi chỉ kéo thẳng:

– Vậy chúng ta bắt tay vào việc nhé! Lát nữa tôi sẽ mang đến vải và sơn; cậu viết cho mấy khẩu hiệu. Công việc hơi vội đấy; sáng mai tôi sẽ lại lấy.

(…) Chừng nửa giờ sau, Lộc mang vải, sơn đến với một tờ giấy nhỏ: “Cậu viết giùm mấy khẩu hiệu này”. Nói xong Lộc đi ngay. Tôi mở tờ giấy ra coi, thấy mấy tiếng: “Hoan hô Mặt Trận Việt Minh. Chào mừng Cách Mạng thành công”.

(…) Sáng sớm hôm sau Lộc đến nhà tôi thật sớm. Hai tấm khẩu hiệu, Lộc cho vào chiếc bao bột mì, buộc gọn vào yên xe rồi ngồi lên trên, đạp nhanh như có chuyện gì gấp lắm.

Ngay buổi chiều hôm đó, nhân có cuộc mít tinh của công chức và dân chúng, Mặt Trận Việt Minh lợi dụng ngay dịp đó, bắn mấy phát súng chỉ thiên và trương cờ đỏ sao vàng cùng khẩu hiệu. Thế là xong! Trang sử Việt Nam đã lật, nhưng nước Việt Nam còn phải kinh qua nhiều giai đoạn nhục nhằn ở mỗi hoàn cảnh đấu tranh để làm nên lịch sử!

(Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Tạ Tỵ)

van-cao

Văn Cao

“Nhưng, giả sử Văn Cao vẫn sáng tác, thì bây giờ liệu các ca khúc hệt như Trương Chi, Thiên thai, Suối mơ ngày xưa có còn ai nghe? Tôi nghĩ là không, vì không có sự đổi mới. Mà nghệ thuật, nghệ sĩ là phải đổi mới không ngừng!” 

Phạm Duy nói đúng, Văn Cao đã không còn relevant nữa. Ngày nay, không còn giấc mộng lên tiên như Lưu Thần và Nguyễn Triệu trong Thiên thai (1941), không còn những chàng ngọng nghịu lời yêu như Trương Chi (1945), chỉ biết gửi tấc lòng qua lời ca tiếng đàn, cũng không còn người phụ nữ ngồi đan áo trông ngóng bóng tình quân lướt đi ngoài sương gió như trong Buồn tàn thu (1939) nữa.

Ngập tràn những cung đàn, tơ đồng, sóng nước, hoa đào, tiếng phách, điệu múa, tiên nữ, đào nguyên, các tình khúc của Văn Cao tuy đã tiếp nhận và phát huy đến bậc cao toàn bộ âm hưởng lãng mạn của thi ca tiền chiến, và cả những điệu buồn chậm rãi truyền kiếp phảng phất trong buổi phôi thai của tân nhạc Việt Nam, nhưng giờ đây đó chỉ còn là một thời vang bóng.

Dẫu vậy, chúng ta có thể kỳ vọng về sự tươi mới trong sáng tạo ở Văn Cao, bởi ông tâm niệm con đường lớn nhất của văn nghệ là “tập trung tất cả những giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp” (Một vài ý nghĩ về thơ, 1957).

Và Văn Cao đã làm được điều đó, ở ngay quãng chuyển tiếp giữa tiền chiến và kháng chiến, như một dấu gạch nối sáng giá. Thoát khỏi cái điệu buồn của tân nhạc thời kỳ đầu, và cả lối đặt lời nhiều ước lệ, khuôn sáo, Văn Cao, khởi sự đổi mới với Tiến quân ca (1944), và sau đó là Làng tôi (1947), với dáng điệu khỏe khoắn như nước triều mới. Rồi trong cùng một năm, nhạc sĩ đạt đến đỉnh cao với Sông Lô (1947), mà Phạm Duy đã đánh giá là “đại diện cho sự trưởng thành của tân nhạc”, còn nhạc sĩ Lê Hoàng Long nhận thấy “cấu trúc có sự hoàn chỉnh tương ứng với bản valse nổi tiếng Bên dòng Danube xinh đẹp của Johann Strauss II”.

Mũi nhọn khai phá của Văn Cao không dừng ở đó. Sau 1950, Văn Cao viết nhiều bài thơ chứa đựng những ẩn dụ khác hẳn thơ tiền chiến, là những cánh cửa, khuôn mặt, mùa xuân, xen với những kết hợp từ trừu tượng như buổi sáng có trong sự thật, dĩ vãng giữ trong tôi như một mùi cỏ… như phó sản của một sự tiếp nhận những chất liệu suy tư mới. 

Lẽ ra chúng ta đã có thể thấy một Văn Cao của trọn vẹn một con đường sáng tác với bề dày trong cả ba lĩnh vực thơ, nhạc, họa. Nhưng tiếc là, con người tài hoa ấy đã phải im lặng suốt 30 năm. Văn Cao từ 1958 chỉ còn “những ngày buồn không nói được”.

Có lúc
một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ
có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được
(Có lúc, 1-1963)

Một Văn Cao nhút nhát trước các cô gái chỉ biết gửi lời yêu trong âm nhạc, và một Văn Cao từng cầm súng bắn Đỗ Đức Phin rất dứt khoát, nhanh gọn; một Văn Cao từng sôi nổi tiếng đàn hát, và một Văn Cao thu mình trong im lặng. Người nhạc sĩ ấy chứa đựng trong mình những nghịch lý lớn của cả một thời kỳ. Đó là một Văn Cao của “nhiều im-lặng-biết-nói, và nhiều câu nói không-nói-gì” (chữ dùng của Trần Dần trong Đêm núm sen). 

Phải xem phim tài liệu Buổi sáng có trong sự thật do hãng phim Trẻ & hãng phim Giải Phóng làm năm 1995 để thấy được cách Văn Cao chơi dương cầm. Cái âm thanh dội lên khi ông nắm hai bàn tay lại thành nắm đấm và đập liên tiếp vào những phím đàn được ông gọi là “những nốt nhạc làm tan đi nỗi cô đơn”. Đó là catharsis của Văn Cao.

Những năm câm lặng ấy đã đổ bóng dài trên nửa đời còn lại của Văn Cao:

Tôi đi trên phố
bỗng nhiên mọi người nhìn tôi
một ai đó kêu lên: thằng ăn cắp
tôi chạy
tôi chạy

tại sao tôi chạy?
tôi không hiểu tôi
cả phố đuổi theo tôi
xe cộ đuổi theo tôi
tôi chạy bạt mạng

gần hết đời
tới chỗ chỉ còn gục xuống
tỉnh dậy mồ hôi chảy
tôi lại thấy tôi là người chưa phạm tội.

(Ba biến khúc tuổi 65, 9-1988)

Tạ Tỵ từng kể về cái đêm nghe Văn Cao đọc Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc. Ông nói Văn Cao có một cái giọng đọc ghê lạnh lắm.

“Dù sao, Văn Cao vẫn hiện diện trong tôi với hình dáng của một tinh cầu giá lạnh, với cô đơn dằng dặc ở cuối khung trời ngăn cách”
(Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ)

million-dollar-baby-2004

Million Dollar Baby (2004)

I thought of Million Dollar Baby earlier today, after a brief chat with a friend. We talked about the inequality of human condition: Why is it that some people are born in prosperity and some others in adversity; Some own a great fortune with no sweat, and some others have to work their ass off to make a living; And what attitude should we have towards such reality? Should we whine or should we fight?

If there is anyone who should feel that this life is unfair, that must be Maggie Fitzgerald, the heroine of Million Dollar Baby. She grew up knowing one thing: She was trash, and she wasn’t never going to be looked at anyway else. Her brother’s in prison, her sister cheats on welfare by pretending one of her babies is still alive, her daddy’s dead and her mom weighs over three hundred and twelve pounds. She was so poor that she had to secretly take home the leftover meal in the restaurant where she works for dinner. On her thirty three birthday, Maggie believed she was celebrating the fact that she would spend another year scraping in dishes and waitressing, what she’d been doing since thirteen. 

The only thing that brings joy to Maggie is boxing, which is why she wanted Frankie Dunn, a well known boxing coach, to train her, so that she could throw a decent punch before getting thirty seven. But even that is not easy at all. 

In the world of boxing, a woman like Maggie is an outcast. Or in a more relevant word: Maggie is figuratively “disabled”, not only because of her gender, her age but also her living condition and her background.

However, Maggie never whined, never asked for favors, nor did she let anybody looking at her out of pity. Maggie refused to be deemed disabled, she chose to go against such disability, to earn respect from other people and take control of her life. Maggie is totally different from her family members who are so dependent on other people’s mercy. 

Maggie did not beg Dunn to be her trainer. She fought for it. She tried to show up stubbornly until Dunn giving in. Maggie fought to have Dunn as a trainer, and she kept on fighting to get into the world championship of female boxing, and when Maggie broke down, ended up living with long-term immobility, watching each part of her body cut off, she still keep fighting to die.

Why did she want to die so badly?

Maggie once told Frankie about her dog, Axel, a German shepherd. Axel’s hindquarters were disabled he had to drag himself room to room by his front legs. And one morning, Maggie’s father carried Axel and went into the woods, singing and howling. Later that day, her father came home alone, with a shovel.

Living such disabled life is exactly what Maggie hates, which is why she asked Dunn to did what her father did to Axel. For Maggie, life is about fighting for what we want, and if we stop fighting, it’s time to stop breathing.

One of the most common misconceptions about Million Dollar Baby is that it is a sad movie depicting a poor lady’s tragedy. Well, it’s not. It’s a movie about the victory of a fighter who keeps fighting till her last breath for a dream that nobody sees but herself.