truong-tuu-mot-quan-niem-ve-van-chuong

Trương Tửu, Một quan niệm về văn chương

Từ cuốn Trương Tửu – Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam 1900-1945 – Nxb Văn học, 1997, tr.420.

Chúng tôi tôn thờ sự sống, mãnh liệt và đầy đủ, sự sống bản chất ở sức mạnh, phát triển ở tranh đấu, cứu cánh ở tiến bộ, sự sống mà hình thức biểu thị tốt nhất, cao nhất, thuần túy nhất là xã hội loài người.

Chỉ có xã hội loài người là đáng phụng sự.

Chỉ có tiến bộ là đáng tín ngưỡng.

Chỉ có tranh đấu là đáng sùng mộ.

Chỉ có sức mạnh là đáng ca ngợi.

Vì chỉ có sự sống là đáng yêu, đáng quý, đáng vun xới, đáng khuếch xung, đáng tôn thờ. Sự sống thiết thực của loài người trên địa cầu, không bận rộn về lẽ huyền bí của vô tận, không dính dáng đến thế giới siêu hình; sự sống tự nó là một vinh quang, một toàn thắng.

Văn chương phải lấy sự sống ấy làm nguồn, phải tắm gội trong hào quang rực rỡ của nó, phải giúp nó chiếu thẳng đến tim óc mọi người, phải phụng sự nó không rụt rè, không nhu nhược.

Tóm lại, văn chương phải mô tả sự sống để đánh dấu nó trên con đường phát triển vô cùng tận, qua các biến thiên của thế kỷ.

Không phải mô tả sự sống vụn vặt như mọi nghệ sĩ thiển cận thường nhìn và sao chép. Phải mô tả sự sống tổng hợp, trong các giai đoạn thành lập, biến hóa và đi tới của nó. Phải mô tả nó từ lúc chia phân ra các nguyên tố biệt lập đến lúc tập trung vào một đại thể duy nhất, theo sức chi phối của luật biện chứng duy vật đời đời.

Sự sống này là cái khuôn và cái đích của tất cả những công trình phá hoại và kiến thiết trong lịch sử mà chiến sĩ là NGƯỜI, mặt trận là XÃ HỘI.


Chiều theo cái đà tiến bộ không ngừng của sự sống, người và xã hội luôn luôn hô hấp trong không khí cải thiện. Nói khác đi, người và xã hội luôn luôn tranh đấu để biến đổi, biến đổi để phát triển, phát triển để đi tới.

Mỗi lần trong xã hội, cái “hạt giống biến đổi” đến thì giờ nảy nở, lập tức bao nhiêu tổ chức đang thông dụng bị phá hoại để nhường chỗ cho những tổ chức mới, thích hợp với hoàn cảnh mới gây ra sự phát sinh của những điều kiện kinh tế mới.

Liền đó, cá nhân sống trong xã hội ấy, bị luật ảnh hưởng lôi cuốn, thay đổi hết các tình cảm, tư tưởng, tín ngưỡng đang có.

Và cũng liền đó, cá nhân có thêm những cần dùng mới, nguyện vọng mới. Nếu tổ chức mới của xã hội đủ thỏa mãn nó thì đoàn thể được sống điều hòa cho đến thời kỳ biến đổi khác. Nếu tổ chức mới của xã hội không đủ thỏa mãn nó thì ngọn lửa tranh đấu trong đoàn thể không thể nào dập tắt được.

Đó là nguyên tắc và pháp luật thiết yếu của các cuộc cách mạng trong lịch sử. Mà nó cũng là điều kiện và hình thức độc nhất của tiến bộ.


Không có gì giúp người cần bút đủ tự hào để phấn đấu, đủ can đảm để thắng, đủ an ủi để ngã, bằng nhận thấy rằng trong các công trình phá hoại và kiến thiết vinh quang nhất của xã hội loài người, bao giờ nhà văn cũng mạnh dạn đứng vào hàng ngũ tiên phong. Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên lính cảm tử phất cao ngọn cờ tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới và đẹp trên con đường gay go của hạnh phúc.

Mỗi khi hai lực lượng thuận và phản tiến bộ xung đột nhau, báo tin những giông tố hãi hùng, nhà văn, nhờ một linh khiếu – một trực giác – đặc biệt lập tức dẫn đạo tư tưởng của đoàn thể đi vào cuộc tranh đấu và không bao giờ quên ủng hộ mặt trận nào hy sinh để làm toàn thắng lý tưởng và hạnh phúc. Giờ phút ấy nhà văn hòa vận mạng mình vào vận mạng của xã hội tương lai, viết bằng chữ máu vào trang giấy sáng của thế kỷ một lời tiên tri, loài người sắp đi thêm được một bước.

Nhà văn chính là tâm thức của thời đại, sứ giả của tiến bộ. Nhà văn là vinh dự của loài người.

Phận sự của nhà văn thiêng liêng như vậy, nên không thể coi văn chương là một món trò giải trí lúc trà dư tửu hậu. Văn chương phải là khí cụ phát biểu và lưu hành tư tưởng, tình cảm mạnh và đẹp. Văn chương, phải có tinh thần tranh đấu và lý tưởng.

Không đủ những tính cách ấy, văn chương tự truất địa vị mình, tự hoại giá trị mình và trở nên một sức phản tiến bộ đáng bài trừ. Mà nhà văn nào phụ họa vào nó sẽ bị coi như kẻ thù của xã hội.


Đó là đại cương những quan niệm của chúng tôi về nhân sinh, về văn chương, về sứ mệnh của nhà văn. Căn cứ vào những quan niệm ấy, chúng tôi nghiên cứu và phê bình văn chương hiện đại.

Từ năm 1932 đến bây giờ, chúng ta thường được nghe những tiếng “văn học phục hưng, văn nghệ phồn thịnh” dùng để mệnh danh cái đà phát triển của văn chương hiện đại. Những danh từ ấy một vài người nông nổi ném ra, rồi một vài người nông nổi a-dua nhắc lại, om sòm trên báo chí. Sự ồn ào trống rỗng này đã làm nhiều người cạn nghĩ tin rằng văn chương Việt Nam hiện thời là mẫu mực tuyệt mỹ tuyệt hảo rồi. Người ta nhắm mắt vỗ tay hoan nghênh những văn phẩm chỉ có độc một đặc điểm là làm điếm nhục nghệ thuật và bại hoại đạo lý. Người ta ca tụng một cách mù quáng những văn sĩ, thi sĩ mà đáng lẽ người ta phải cảnh cáo để họ đi vào con đường thuận tiến bộ.

Phải phá đổ sự tin nhầm ấy. Phải đem các tác phẩm được hoan ngênh sàng lại theo phương pháp phê bình khách quan và quan niệm tranh đấu về văn chương. Phải soát lại ngôi thứ các nhà văn. Phải chỉnh đốn dư luận.

Chúng tôi, vì tương lai của văn chương Việt Nam, tình nguyện lĩnh cái nhiệm vụ gai góc ấy, không ngại ngùng những lời chê bai của kẻ hèn, không ngừng bước trước sự mai mỉa của kẻ yếu, không nản chí trước sức phản động của kẻ nghịch.

Chúng tôi sẽ lần lượt bài trừ một cách vô tư, nhưng tàn nhẫn tất cả những ngọn cỏ tai hại trong khu ruộng văn chương để những nhà văn tâm huyết có đất gieo những hạt giống tốt, thuận với mưa, nắng của thế kỷ hai mươi, gây một mùa màng đẹp cho đất nước.

Những cỏ tai hại ấy không phải ít. Theo chúng tôi thấy, chúng có thể chia làm bốn loại:

  1. Văn chương phóng đãng
  2. Văn chương ủy mị
  3. Văn chương bi quan
  4. Văn chương xu nịnh

Bốn thứ này họp lại thành một ung độc trong văn chương và xã hội Việt Nam. Chúng phản tiến bộ.

Phải diệt chúng đi. Diệt chúng như diệt những trùng độc. Có thế văn chương Việt Nam mới phát triển theo nguyên tắc tranh đấu được. Có thế sức tiến thủ của dân tộc Việt Nam mới bùng được.

Lúc này chính là lúc mạnh được yếu thua. Không được phép mơ màng, hoài nghi, nô đùa, bi quan, chán nản. Phải khỏe. Thân khỏe, hồn khỏe mới không bị nghiến nát trong guồng máy cạnh tranh.

Tất cả những phần tử trẻ trung thông minh tâm huyết của nòi giống Việt Nam phải cố công luyện lấy một tinh thần tranh đấu thật cứng cỏi để bảo vệ, để chống họa diệt vong nó đang đón chờ những dân yếu hèn ở các ngã ba lịch sử.

Không muốn bị diệt vong, chúng ta phải mạnh. Ngày nào tất cả người Việt Nam biết lấy sức mạnh làm tôn giáo, lấy tranh đấu làm luân lý, lấy hy sinh làm vinh dự; ngày nào cha dạy con, vợ dạy chồng, anh dạy em nên gắng gỏi làm người cho ra người, làm dân cho ra dân; ngày ấy, chúng ta mới có quyền sống những phút vinh quang, hạnh phúc.

Văn chương Việt Nam phải nhận mệnh nhào nặn cái ngày quý báu đó. Trong giờ phút nghiêm trọng này nhà văn lương tâm không có can đảm ngồi mơ mộng, ca hát những cái phù phiếm, tán tụng những cái xa xỉ.

Nhà văn Việt Nam của thế kỷ hai mươi phải đảm lĩnh cái trọng nhiệm xây dựng tư tưởng Việt Nam trên những nền tảng mới, vun trồng văn chương Việt Nam theo những nguyên lý mới, dìu dắt dân tộc Việt Nam đến một vận mệnh mới.

Những nhà văn nào làm trái trọng nhiệm ấy, ta phải đánh đổ. Những tác phẩm nào phản khuynh hướng ấy, ta phải thiêu đốt. Những dư luận nào ngược tư trào ấy, ta phải đả đảo.

Làm như vậy tức là làm trọn nghĩ vụ một người thờ sức mạnh, một công dân thờ Tổ quốc, một nhà văn thờ nghệ thuật.


Photo: Liberty Leading the People (1830), by Eugène Delacroix

duong-nghiem-mau-viet-ve-vu-trong-phung-1966

Dương Nghiễm Mậu, viết về Vũ Trọng Phụng (1966)

Bài trên tập san Văn số 67, Sài Gòn, ngày 1-10-1966

Để nhìn lại khuôn mặt của giai đoạn lịch sử, để tìm lại đời sống thực của xã hội đã qua, để hiểu biết những nguyên nhân sâu xa của mọi biến chuyển trọng đại nào đó chúng ta có thể tìm tới đó những tài liệu lịch sử xã hội chính xác, những bản tường trình, những đạo luật, những bút ký, nhật ký… và tất nhiên không thể bỏ qua những công trình nghệ thuật, văn chương bởi vì văn chương nghệ thuật của bất cứ thời nào cũng không ít thì nhiều phản ảnh đời sống của một giai đoạn lịch sử đã qua. Không những thế, những tác phẩm văn chương thường là những nhân chứng giá trị hơn hết, trung thực hơn hết. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn nói với chúng ta tinh thần một thời tao loạn, chán ghét chiến tranh… Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du phơi bày một xã hội tranh tối tranh sáng của ma quái và sự thực của những bất công xã hội, những bải hoải suy vong… Những tác phẩm ấy đã soi chiếu cho chúng ta đời sống, tâm tư con người, hoàn cảnh xã hội của một giai đoạn lịch sử. Nhưng nói như thế không có nghĩa rằng nó chỉ phản ảnh cho sự thực của một thời mà nhiều khi nó là gương soi của con người trong nhiều thời. Để nhìn lại thực trạng xã hội Việt Nam trước năm 1945, để tìm hiểu nguyên nhân của cuộc giải phóng dân tộc, để biết những nguyên cớ sâu xa nào đã ảnh hưởng đến thời đại chúng ta hiện nay, chắc chắn chúng ta có thể tìm thấy một phần nào những câu trả lời nơi những tác phẩm văn chương tiền chiến, những trả lời ngay thẳng giá trị…

Sau những thất bại của phong trào Văn Thân, những nổi dậy chống trả của Hoàng Hoa Thám, Tán Thuật, Nguyễn Trung Trực… chỉ còn là những ngọn lửa cháy không ngừng trong lòng người dân Việt, chế độ của thực dân Pháp đã vững trên đất nước ta, thì xã hội ta đã bước sang một giai đoạn mới. Trên phương diện chính trị chúng ta đã mất chủ quyền, đất nước bị chia làm ba miền với ba chế độ cai trị khác nhau, nghĩa là chúng ta chỉ còn là một nước bị đô hộ. Không những thế chúng ta không phải chỉ bị đô hộ bởi một nước cùng một nền văn minh là nước Tàu mà chúng ta còn phải chịu sự đô hộ của một nước khác với một nền văn minh khác hẳn. Chúng ta không những chỉ chịu một nền cai trị mới mà tất cả những giá trị tinh thần, nền tảng giáo dục, cơ cấu tổ chức xã hội cũng bị thay đổi, làm xáo trộn hẳn. Trên phương diện văn chương, chúng ta có thể tìm thấy những bằng cớ, những sự thật trong cuộc thay đổi lớn lao này. Không cần viện ra nhiều, chỉ cần nói đến những tác phẩm lớn, những tác giả tiêu biểu cho những khuynh hướng khác nhau chúng ta đã có thể thấy xã hội đang thay đổi, nghĩa là chúng ta có thể thấy khuôn mặt của xã hội ta trước năm 1945 ra sao.

Nhìn lại văn chương tiền chiến chúng ta thấy những tranh chấp mới cũ, những đập phá hình thức, những kêu đòi tự do cá nhân trong hầu hết những tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn, nó phản ảnh đời sống, tinh thần của một lớp người mới trong xã hội ta. Chúng ta còn thấy những lạc hậu, nghèo đói khổ ải, những tráo trở biến động, những thét gào trong những tác phẩm Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Đoàn Phú Tứ… Trong văn chương tiền chiến đời sống của xã hội ta đã được ghi lại một cách phong phú. Nhưng để lại cho chúng ta một bức họa sâu sắc, đầy đủ hơn hết tình trạng xã hội ấy thì phải nói đến những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Có người nói rằng trong khi còn ở Pháp, Tạ Thu Thâu đã nói muốn biết xã hội Việt Nam ra sao thì chỉ cần đọc Vũ Trọng Phụng thì biết. Nếu thế thì quả Tạ Thu Thâu đã có một con mắt tinh đời.

Nhân dịp tưởng niệm Vũ Trọng Phụng tôi ghi lại dưới đây những ý kiến vụn vặt của tôi, những cảm nghĩ của đời sống sau ông những biến cố trùm lấp, điều tôi muốn nói đến nhiều nhất là thử căn cứ vào hai tác phẩm chính của Vũ Trọng Phụng là Số đỏ Giông tố phác họa lại thực trạng xã hội Việt Nam thời nô lệ. Một thực trạng đang kêu đòi giải phóng, cách mạng…

* * *

Vũ Trọng Phụng sinh năm 1911 (1) và mất năm 1939 – đúng vào khoảng thời gian nền đô hộ của người Pháp ở Việt Nam đã vững vàng.

Cuốn Số đỏ của Vũ Trọng Phụng nhằm mô tả một lớp người đặc biệt của thành thị, bọn người học đòi Tây phương. Họ cho rằng dân ta hủ lậu, phản văn minh tiến bộ. Họ cổ động cải cách y phục, hô hào cho giới bình dân, cổ võ thể thao. Sang đến cuốn Giông tố – Vũ Trọng Phụng phóng con mắt bao quát hơn mô tả một gia đình quan lại – đó là gia đình Tạ Đình Hách, từ một tên trọc phú trở thành nghị viên – một kẻ đã dùng tất cả thế lực tiền tài để đàn áp đám dân nghèo, phơi bày mọi hình vi bẩn thỉu. Một gia đình thối nát, vợ ngủ với cung văn, chồng hiếp dâm, con ma cô và đồng thời liên can đến một gia đình thôn quê – gia đình ông đồ Uẩn – một ông đồ thất thế, bạc nhược. Với hai tác phẩm đó, Vũ Trọng Phụng đã mô tả một đời sống thành thị nhầy nhụa với gái điếm, thuốc phiện, tiền bạc, rượu lậu, với những kẻ lăn mình vào đời sống nặng vật chất, chuộng hư danh – và một đời sống thôn quê tối tăm thất học, tinh thần hương đảng xôi thịt khiếp sợ dưới quyền cai trị của bọn quan lại. Trong cái sân khấu tranh tối tranh sáng đó những nhân vật thời đại đã được Vũ Trọng Phụng vẽ ra.

Trước hết ta hãy nói đến một hạng người mà Xuân Tóc Đỏ là tiêu biểu, đó là hạng “chó nhảy bàn độc”. Từ một tên ma cà bông trèo sấu, đã lĩnh công hai hào một ngày để ngồi trên mũi ô tô mà thổi loa, mà gào những chữ di tinh, mộng tinh cho “vua thuốc lậu” Nam Kỳ, chạy cờ hiệu, đi nhặt banh sân quần, bị đuổi vì nhòm đầm thay quần; nhưng hoàn cảnh giả dối đưa hắn thành một người khai hóa xã hội:

– Ông, ông là ai?

Xuân Tóc Đỏ ưỡn ngực lên, giấu cái chổi lông gà sau lưng, nghiêm trang:

– Tôi? …là một người dự một phần trong việc Âu hóa.

– À!

– Một người cải cách xã hội… có trách nhiệm quốc dân văn minh hay là dã man.

Một nhà Âu hóa chưa đủ, hắn còn trở thành một sinh viên trường thuốc, một ông đốc luận bàn về y học, trở thành một nhà thể thao ái quốc, bạn của nhà báo, bác sĩ, của sư mô, bàn việc phục hưng đạo Phật quanh miếng thịt chó, đã giải phóng phụ nữ bằng phương pháp làm hại đời một người con gái, giữ kiên trinh cho bà góa phụ bằng cưỡng bức… Từ xã hội hạ lưu hắn đã chen chân góp mặt với giới thượng lưu: Xuân Tóc Đỏ cảm thấy thời cuộc đã mở rộng con đường công danh… Nó đã có một địa vị to tát trong đám những bậc thượng lưu. Rồi hắn lớn tiếng: “… Quần chúng nông nổi ơi, mi đã biết đâu cái lòng hy sinh cao thượng vô cùng nó khiến ta chối từ danh vọng…” Hắn đã gọi đám quần chúng là mi, hắn đương nhiên nhận mình là kẻ hy sinh, duy trì hòa bình, cứu nạn can qua. Cả một đám người đã hoan hô nó, đã ca ngợi nó, người cai trị đã phong chức nó, cả đến người đại diện cho hội Khai trí Tiến đức, đại diện cho trí thức xã hội cũng phải: “Lại đây với cái nguyện vọng được yết kiến quan tài tử Xuân, bậc vĩ nhân của xã hội”.

Cùng với trường hợp của Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ, nhân vật chính của Giông tố là Tạ Đình Hách cũng có những nét tương tự, nhưng Xuân Tóc Đỏ dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cố ý đưa đẩy hắn như một sự tình cờ, không do tâm địa của Xuân mà do hoàn cảnh xã hội gian trá, lừa bịp sản xuất ra hắn; càng mang bộ mặt ngờ nghệch, ngu muội bao nhiêu càng để lộ cái sự thật về nếp sống thượng lưu của thành thị, nó là cái cớ để lộ chân tướng những Văn Minh, cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, Typhn, Tuyết, Joseph Thiết… Nhân vật Tạ Đình Hách khác hẳn, Nghị Hách đã được giới thiệu và trình bày là một con người tâm địa độc ác, cướp vợ bạn, dâm đãng, thủ đoạn:

– Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?

– Phải

– Cái thằng cha bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và, chỉ bởi một thủ đoạn ấy, đã tậu được ba trăm mẫu ruộng đất rẻ tiền ấy à?

– Chính thế.

— Cái thằng cha độc ác đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống giếng mà khai người ta tự tử ấy à?

– Nó đấy.

– … Đây này nhé: lão nghị ấy có năm trăm đồn điền trên tỉnh này, một cái mỏ than Quảng Yên này, ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng, bạc nhà nó cứ gọi là gà ăn không hết.

Đó chỉ mới là những điều được dân chúng biết, còn bao điều khác trong bóng tối. Cái con người đã dám thốt ra: “Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu, đã tin ở cái quyền năng của tiền bạc, thế lực, chức tước là Bắc kỳ nhân dân đại biểu, giao du với những ông tuần, quan công sứ, quan tổng đốc. Nghị Hách có thể làm bất cứ việc gì như mua lòng một ông quan, rải truyền đơn, làm đại biểu nhân dân, vu cho nhân dân làm phiến loạn, đổi đen ra trắng như lật bàn tay. Con người như Nghị Hách đủ làm một biểu tượng cho bất cứ một xã hội nào, cái xã hội mà trong đó tiền bạc nắm quyền sinh sát con người. Với tiền bạc do thủ đoạn tạo ra, Nghị Hách có con đi Tây học về mở trường, có một Tiểu vạn trường thành, có hàng bao nhiêu cung tần mỹ nữ, kẻ hầu người hạ, mua được cả trinh tiết gái tân. Từ trong cái nhầy nhụa đó, Nghị Hách lại vung tiền ra mua danh vọng, phát chẩn cho dân nghèo (mà chính hắn đã bóc lột) và nghiễm nhiên là một nhân dân đại biểu, rồi từ đó cũng có thể nhận là một nhà ái quốc, cách mạng tranh đấu giúp đỡ dân nghèo, thật là mỉa mai. Ngoài hai hạng người đặc biệt nói trên, chúng ta có thể xếp chung quanh đó những hạng người khác đã là bộ mặt xã hội cho thời nô lệ.

Hạng nho sĩ thất thế: người đại diện là ông đồ Uẩn ở Quỳnh thôn, người mà Tú Anh – con Nghị Hách, một người Tây học, cho rằng: Cũng là một nhà nho hẳn hoi, mà một nhà nho thì vẫn khí khái lắm – nhưng ông đã khí khái thế nào? Ông khúm núm trước cửa quan nhận cho Nghị Hách cưới con, lên mặt với làng, từ bỏ nếp sống cũ để “khi đi qua chợ Đồng Xuân, Long đã thoáng thấy ông đồ Uẩn ngồi vắt vẻo trên chiếc xe nhà mà Tú Anh đã tậu cho Mịch – trông mặt bố vợ hụt lúc ấy có vẻ dương dương tự đắc quá, có vẻ ngạo mạn quá…”

Vũ Trọng Phụng đi từ nhân vật đồ Uẩn đã đưa ra nhận xét về ảnh hưởng của Nho học thời ấy “cái nền học thuật ấy vẫn chế tạo ra những hạng người cực đoan, hay thì hay vô cùng, hoặc dở thì cũng dở vô cùng. Cho nên cái tiết tháo của nhà nho hoặc cái đê tiện của nhà nho đều cùng đứng về hai thái cực cả. Ông đồ Uẩn chính là hạng thuộc về cái thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh lôi cuốn đến không giữ được nhân cách… với một hạng hào thứ hai nữa đã thành thực đi theo đạo Cần Vương cũng như đã thành thực quay về kinh thờ một ông công sứ đến nỗi sì sụp bốn lễ bốn vái mà không thấy ngượng, có thể cho xích tay cả gia đình bạn đồng chí cũ đã cứu mình thoát chết để dâng công mà không hói hận mảy may… người cao khiết quá, giữ tiết tháo một cách nghiệt ngã thì thành ra gàn dở vô dụng cho đời, mà người trung dung quá thiên về chủ nghĩa gia đình quá thì thường vì bốn chữ vinh thân phì gia mà mất hết lương tâm”.

Hạng Tây học: trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói đến bọn Tây học nhiều, nhưng riêng hạng này có thể chia làm nhiều hạng khác nhau:

– Bắt chước cái rởm của Tây phương, tự cho là Âu hóa, cải cách, nhân vật điển hình là Văn Minh. Hắn sang Tây để học ăn chơi, về nước lo cải cách y phục nhố nhăng, moa toa với cả bố. 

– Học Tây đỗ đạt, có tinh thần tiến bộ nhưng chỉ nghĩ tới mình như Tú Anh. Hoặc vẫn nhờ cậy trông chờ ở một thế lực khác như ông huyện Cúc Lâm.

– Theo Tây đến tưởng mình là Tây, như Typhn, Joseph Thiết, Trực Ngôn – đặc biệt là Joseph Thiết, dân An nam vào làng Tây chưa đủ lại còn ở trong đảng Bảo hoàng, “không phải làm việc cho triều Huế, nhưng cho dòng họ Orléans bên Pháp và Léon Daudet”.

Tất cả bọn này tự coi như giới thượng lưu, nói tiếng Pháp, nhảy đầm, chơi quần vợt, ăn uống ở những nơi sang trọng riêng biệt.

Hạng con đẻ của đời sống vật chất: có thể nói tất cả những nhân vật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng do đời sống vật chất mà ra – nhưng có một hạng người đặc biệt hư hỏng, dâm đãng, nhất là đàn bà là do cái đời sống xa hoa, phè phỡn mà tạo ra. Đó là bà Phó Đoan, hai đời chồng, đa dâm, nuôi chó như nuôi chồng, mồm nói kiên trinh, bụng mong bị hiếp – có thể nói đây là một loại đĩ – đĩ có tàn có tán, đĩ có hương án thờ vua, bởi vì chính bà Phó Đoan đã được ban tiết hạnh khả phong. Sau đó đến Thị Mịch. Từ một cô gái quê ngây thơ chất phác trở thành dâm đãng, lãng mạn, xảo quyệt. Rồi cô Tuyết, rồi vợ Nghị Hách… tất cả là nạn nhân của đời sống xã hội.

Hạng học đòi hợm hĩnh: Có thể nói đến cụ cố Hồng, bố của Văn Minh – người đã làm bộ như có con làm quan nói đi nói lại: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi để tỏ ra mình già cả, là cố… moa toa với con, ham danh hão; vừa nghe nói đến Hồng lô tự khanh, đã vội kêu: “Bay đâu bày hương án”. Bên cạnh đó là bà đồ Uẩn, ông Typhn, vợ Văn Minh.

Hạng đầu cơ thời thế: người tiêu biểu là Victor Ban, làm nghề cỡi ngựa thi, làm thuốc lậu, mở nhà chứa, mở khách sạn trở thành giàu có. Cùng với sư cụ báo Gõ Mõ, lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để mưu lợi.

Những điều tôi trình bày ở trên chỉ mới được phác lược chưa đi sâu vào từng chi tiết, nhưng nó đã khá rõ để cho chúng ta hiểu một phần nào xã hội Việt Nam thời nô lệ Pháp. Một xã hội đã thay đổi hoàn toàn trên căn bản do sự du nhập nền văn minh Tây phương. Ở đây do người Pháp đại diện. Một sự thay đổi không phải với tinh thần cách mạng. Chính bản chất của xã hội Việt Nam không phải tiến đến sự thay đổi đó – mà đây là một sự du nhập miễn cưỡng, xã hội bị thay đổi không tự nó.

…Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đứng riêng ra với vẻ cười cười chua chát nhưng đầy căm phẫn trước một xã hội mục nát, bẩn thỉu, cái xã hội chẳng riêng cho thời nô lệ mà cho bất cứ xã hội nào khi ở đó vật chất được đề cao, tiền bạc nắm quyền sinh sát, bọn trí thức thượng lưu ăn chơi cờ bạc, đĩ điếm, bọn cai trị hà hiếp cướp bóc, nơi đời sống bị đè nén, không công bằng, không tự do.

Người ta có thể gán cho tác phẩm của Vũ Trọng Phụng màu sắc bi quan, bất mãn, thiếu xây dựng – đó là một sự lầm lẫn – Vũ Trọng Phụng phải là người can đảm tin tưởng hơn hết, và xây dựng hơn hết mới có đủ sức để viết ra như vậy – xã hội như thế phải bị thanh toán – và Vũ Trọng Phụng viết ra đó cho mọi người phải nhìn thấy con đường và nhiệm vụ phải làm – con đường và nhiệm vụ mà chưa biết đến bao giờ con người mới có thể hoàn tất được. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như một bức thông điệp nhân đạo gửi cho nhân loại với tất cả yêu thương và tin tưởng của một người đã sống và chết đi trong đau khổ, đói rét, bệnh tật – chắc Vũ Trọng Phụng không muốn loài người phải như thế nữa.

Qua những tác phẩm, Vũ Trọng Phụng trình bày xã hội theo con mắt của mình, đó là con mắt của một thiên tài, và với ý thức của một chiến sĩ cách mạng – thiên tài vì nghệ thuật chụp bắt nhân vật và sự kiện, chiến sĩ cách mạng vì Vũ Trọng Phụng đã nắm được căn bản ý thức đời sống con người mà viết nó ra – từ thực tại đó nhân vật sự việc đã vượt ra để trở thành điển hình bất tử

* * *

Đọc trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, nhân khi nói về trường hợp Vũ Ngọc Phan tìm đọc cuốn Giông tố từ khi nó còn được đăng báo cho tới khi in thành sách, tôi mới biết rằng những sách của Vũ Trọng Phụng thuở đương thời đã bị đả kích không ít. Tôi không được biết đã có những ai thời đó lên tiếng trên báo để kết án những sách của Vũ Trọng Phụng là đồi trụy, ngoại lai, sa đọa hay không nhưng chắc chắn là trong xã hội đã có những kẻ dè bỉu kết án nó. Không có bằng có về những kết án lố bịch đó, nhưng tôi nghĩ chắc chắn người ta sẽ dẫn chứng những đoạn nghị hách hiếp dâm Thị Mịch trên xe hơi; Long ngủ với Tuyết trong khách sạn; cảnh Nghị Hách sau khi cưới Thị Mịch về ngồi sờ mó người vợ lẽ có mang, hôn hít, ôm ấp rồi vỗ cái bụng chửa đánh bốp một cái mà kêu: “thế này còn nước mẹ gì nữa!” cảnh Nghị Hách chiếu phim con heo; cảnh Xuân Tóc Đỏ khám ngực cô Tuyết; Xuân Tóc Đỏ nhòm đầm thay quần; cảnh bà Phó Đoan tắm khan vỗ bì bạch vào bụng; Xuân Tóc Đỏ hiếp bà Phó Đoan… và không biết bao nhiêu điều khác để kết án, nhưng có điều chắc chắn tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không phải chỉ thành công, chỉ được dựng thành bởi toàn những điều ấy. Trong phần kết cuốn Giông tố trong cảnh ăn chơi ở một nhà chứa, Vũ Trọng Phụng đã phác họa một bức tranh khá linh động, trong bức tranh đó diễn tả cảnh đồi trụy, cảnh thú vật của người ăn chơi “khách có đến ba chục người… toàn là những thiếu niên tri thức, cử nhân tú tài, giáo sư của Đại Việt học hiệu… Đời là một cuộc chiến đấu. Đời là một cuộc chiến đấu… Một ông giáo khác kêu như hóa dại, như sắp cởi cả quần áo để chạy ra đường – Nàng không yêu ta, ta phải hiếp… nàng. Một ông cử nhân khác gọi: Hỡi khổ chủ. Hỡi khổ chủ, vào hộ một tay mau lên. Một chị em thất thanh kêu lên: Ông giáo gì mà đểu thế. Lúc nãy thì sao đứng đắn thế..”. Đọc lại đoạn đó tôi không hiểu thời đó những nhà giáo – những nhà giáo còn nhiều nề nếp đạo đức cũ, còn phong độ những nho sĩ còn có một đời sống đẹp sáng – có lấy làm khó chịu hay không? Tôi nghĩ chắc những vị giáo sư thực sự là những bậc thầy thì sẽ chỉ buồn lòng ngao ngán cho một thực trạng xã hội, buồn lòng vì trong giới có những người không xứng đáng, các vị ấy hiểu rõ ràng những sự kiện trong một tác phẩm văn chương không phải là một sự bịa đặt hoàn toàn và ở trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng những sự kiện đó được viết ra không ngoài mục đích nói lên tha thiết. Nhưng có lẽ những kẻ đồi trụy hơn ai hết lại lớn miệng hơn ai hết lên tiếng cho rằng nhà văn đã bôi nhọ nhà giáo, đã làm mất uy tín nhà giáo, đã làm cho xã hội đồi trụy, làm những mầm non hư hỏng. 

Người ta có thể, có quyền đứng trên những vị trí cá biệt để lên tiếng trước bất cứ một vấn đề gì liên quan đến đời sống cộng đồng. Để phê phán một tác phẩm văn chương người ta cũng có thể đứng trên những quan niệm đạo đức, luân lý, xã hội nào đó để phê phán, nhìn tác phẩm với con mắt và quan điểm riêng.

Nhưng đồng thời phải nhớ người viết cũng có quan điểm, con mắt riêng của họ. Một tác phẩm văn chương không thể là một cuốn sách dạy luân lý. Và khi lên tiếng phê phán, một người phê bình đứng đắn phải nhìn thấy. Nhưng để nhìn thấy tất nhiên không phải là những con mắt chột, những thành kiến hẹp hòi thiển cận phát sinh từ những tâm hồn vấy bùn, những kẻ chỉ nhìn thấy văn chương mỗi một khía cạnh hạn hẹp là sự ích lợi. Tôi nghĩ, nếu Vũ Trọng Phụng còn sống đến ngày nay, còn tiếp tục viết thì chắc chắn Vũ Trọng Phụng sẽ nhiều lần khóc dở mếu dở trước những hạch hỏi hỗn láo tại sao thế này, tại sao thế kia, xã hội ta đâu có thế này, đâu có thế kia, tại sao không thế này, thế kia, không lành mạnh xây dựng, bệnh hoạn đồi trụy, nguy hại cho tinh thần thanh thiếu niên… Mà trong khi đó có khi chính Vũ Trọng Phụng, hay bất cứ những người viết nào khác lại là những người lo xây dựng, lo lành mạnh cho đời sống hơn ai hết. Tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã minh chứng điều đó với chúng ta. Có tiếng gào thét đòi cách mạng, đòi được sống tốt đẹp hơn nào mạnh bằng tinh thần những tác phẩm mà Vũ Trọng Phụng đã viết?

Văn chương của bất cứ thời nào cũng không thể thoát ra khỏi xã hội của nó, xã hội mà tác giả đã sống ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Nói như thế không có nghĩa rằng người viết chạy theo thời đại, chạy theo xã hội, coi văn chương chỉ là một phương tiện hành động. Văn chương trước nhất phải là văn chương đã, sau đó là những gì tác giả nó viết ra. Những gì viết ra đó là phần nào suy nghĩ, phần nào đời sống, phần nào quan điểm của một người, mà người đó sống trong một thời đại, một xã hội nào đó. Dù muốn dù không không thể chối cãi được điều này. Nó có đó chứ không phải là đặt ra, khoác vào, trùm lên. Chắc chắn Vũ Trọng Phụng cũng không đặt ra những điều ông định nói nhưng là ông thấy phải nói, nếu nói thì nói thế không thể nói khác, viết là phải viết thế chứ không phải là bây giờ phải viết thế này, viết thế khác cho hợp thời, cho ăn khách. Nghĩa là nhà văn viết những gì của nhà văn tự nó. Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là tất cả thời đại ông sống, trong văn chương tiền chiến khuôn mặt thời đại không phải chỉ có trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó có mặt trong rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả nhưng nó kết tinh, nó điển hình nhất trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó điển hình đến độ vượt thoát ra khỏi chính thời đại nó. Đó là bằng cớ minh chứng tài năng của Vũ Trọng Phụng. Nó cũng minh chứng rằng một tác phẩm bám sát lấy thời đại, cuộc sống của một xã hội nào đó không có nghĩa chỉ sống trong một thời, một hoàn cảnh mà nó vượt thoát ra, vẫn thành công…

8-1966
Tập san Văn số 67
Sài Gòn ngày 1-10-1966


  1. Thực tế, Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912

Photo: 33 Devant le Grand Marché
Ville de Hanoi : [album de photographies]
Date: 1916
Couverture temporelle: 1910-1916 ?
Couverture spatiale: Hanoi (Vietnam)
Format: Tirage argentique collé sur carton
Cote: PH04-33
Description: Vue d’un marché à ciel ouvert de Hanoi.

duong-nghiem-mau-nhan-nghi-ve-khai-hung-1964

Dương Nghiễm Mậu, nhân nghĩ về Khái Hưng (1964)

Bài của Dương Nghiễm Mậu,
đăng trên tạp chí Văn, số 22, ngày 15-11-1964.

Khái-Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái-Hưng, đọc tác-phẩm của Khái-Hưng, tôi lại nghĩ đến điều đó và cùng lúc tôi vẫn muốn biết Khái-Hưng, cùng Tự-lực văn-đoàn, cũng như tất cả những người ở thế hệ Khái-Hưng đã làm cách mạng như thế nào, họ đã nghĩ gì, làm gì. Họ đã hoạt động trong giai đoạn kháng chiến giải phóng dân tộc ra sao?

Tại sao Cộng sản thủ tiêu Khái-Hưng? tôi nhớ câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền. Khái-Hưng đã bị thủ tiêu, điều ấy đã chắc. Hồi còn nhỏ ở Hà-nội, đọc một tờ tuần báo vào khoảng năm 1950 gì đó tôi có được thấy trong một thiên hồi ký, tôi không nhớ tên tác giả, không nhớ rõ tên thiên hồi ký, tôi chỉ nhớ thiên hồi ký mô tả lại những ngày tù tội của các chiến sĩ quốc gia bị V.M. bắt giam, trong thiên hồi ký có một đoạn tác giả cho biết đã gặp Khái-Hưng trong một trại giam ở Việt-Bắc, tác giả cho biết lúc đó Khái-Hưng ốm yếu, bị đi kiết vì bị hành hạ và cuộc sống đày ải của nhà tù, rồi Khái-Hưng chết ở đây, những chiến sĩ quốc gia, những bạn của Khái-Hưng đã đẵn tre làm phên quấn xác Khái-Hưng thay quan tài và an táng trong một khu rừng ở Đại-từ, những điều này tôi nhớ mơ hồ lắm và cùng đó hình như tác giả còn nói ngày Khái-Hưng chết là 17-11, năm 1947. Tôi không nhớ rõ, nhưng trí óc tôi còn mường tượng nên viết ra, nó không nhằm cung cấp chính xác một tài liệu, mà tôi chỉ muốn ghi lại những điều mà trong tâm tưởng tôi hai chữ Khái-Hưng vẫn có lúc nhớ đến.

Trong thời gian làm tờ Văn-Nghệ tại nhà in ở đường Cô Bắc tình cờ tôi được nghe truyện về Khái-Hưng. Người nói chuyện giới thiệu là một người cháu về đằng bà Khái-Hưng, người này nói chính ông đã gặp Khái-Hưng lần cuối vào ngay buổi chiều cán bộ V.M. bắt Khái-Hưng dẫn đi, bọn cán bộ này là một thứ du kích tự vệ xã, Khái-Hưng mặc quần áo thường, mang theo một chiếc chăn dạ màu cứt ngựa, người kể truyện gặp Khái-Hưng ở đầu làng, Khái-Hưng có nét mặt rầu rầu buồn bã mỉm cười và dơ tay chào. Sau đó, người nói chuyện bảo dù rất kín mấy tên du kích đã lộ ra rằng họ bỏ Khái-Hưng vào bao bố đâm chết rồi quăng xuống sông.

Không hiểu ngoài những điều mơ hồ, không có gì làm bằng chứng kia, còn có những điều nào khác được kể về cái chết của Khái-Hưng? Có điều Khái-Hưng đã chết. Khái-Hưng đã chết thực và tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng – theo như ghi chép – để lại cho chúng ta là tác phẩm Băn khoăn, trước khi Khái-Hưng bước vào đoạn đường tranh đấu cách mạng cùng các bạn, cùng toàn dân để giải phóng dân tộc và Khái-Hưng đã chết trong cuộc tranh đấu đó.

Nghĩ về cái chết của Khái-Hưng, cùng lúc tôi nghĩ đến những cái chết khác của các chiến sĩ quốc gia kéo theo sự thất bại của những người quốc gia trong lúc đối đầu với Cộng-sản, tôi muốn tìm hiểu và rút ra từ đó những nguyên nhân đưa đến hoàn cảnh lịch sử đương thời mà với chúng tôi buộc phải có trách nhiệm. Trở về khung cảnh, những hoạt động của sau năm 1901 khi Đông-Kinh Nghĩa-thục phải ngưng hoạt động, sau năm 1924 chiến khu Yên-Thế của Hoàng Hoa Thám bị tan, sau năm 1930 Nguyễn Thái Học chết ở Yên-báy, Tự-lực văn-đoàn với Nhất-Linh, Hoàng-Đạo, Khái-Hưng, Thế-Lữ, Thạch-Lam, Tú-Mỡ… hoạt động trên mặt trận báo chí, văn chương không phải chỉ là để làm báo, làm văn chương, mà những công việc của nhóm đã chứng minh rõ, họ chỉ dùng văn chương báo chí để hoạt động cách mạng, hay nói khác đi, nhẹ hơn, đúng hơn dùng văn chương báo chí cho một cuộc vận động cải cách xã hội theo tinh thần Tây-phương. Những gì đã được viết ra trên báo Phong-hóa, báo Ngày-nay, cùng các tác phẩm đã minh chứng điều này. Sau bao nhiêu năm bế môn tỏa cảng, người Tây-học, người trí thức mới của thế hệ 1930 đã nhận thấy sức mạnh của Tây-phương, cụ thể là nền đô hộ của người Pháp, người trí thức mới nhận ra sự bại trận, nô lệ của mình: xã hội ta lạc hậu, tinh thần Nho-giáo suy đồi, hủ lậu, dân ta cực khổ thất học, với quá nhiều tệ đoan, mê tín. Họ thấy rõ muốn thoát cảnh lệ thuộc trước hết phải nâng cao dân trí, cải cách xã hội. Và họ đã làm. Các tác phẩm văn chương của Tự-Lực Văn-đoàn đã đóng một vai trò lớn trong công việc này: mô tả tranh chấp mới cũ, đề cao đời sống mới. Trên căn bản chấp nhận tinh thần tự do, dân quyền của những nhà tư tưởng đã làm thành cuộc cách mạng tư sản 1789 của Pháp. Lý thuyết gia chỉ đạo của T.L.V.Đ là Hoàng-Đạo đã viết: Mười điều tâm niệm, Nhất-Linh đã viết Đoạn tuyệt, Khái-Hưng đã viết Nửa chừng xuân. Trên phương diện xã hội đã đưa ra phong trào Ánh Sáng. Sau cùng Tự-Lực văn-đoàn thành đảng Hưng Việt hoạt động cách mạng, kéo liền theo đó, Khái-Hưng chết, Nhất-Linh bỏ ghế bộ trưởng chạy sang Tầu, Hoàng-Đạo chết ở Tầu, Tú Mỡ, Thế Lữ ở lại với Cộng-sản, còn một mình Nhất-Linh bơ vơ, lạc lõng ở miền Nam đề cao văn chương vượt thời gian, và với chính bản thân chọn cái chết chống lại chế độ ngô Đình Diệm.

Suốt một lịch sử kéo dài ba mươi năm, trong đó liên tiếp 20 năm chiến tranh trên quê hương chúng ta, nếu đổ tội cho cái vận nước mình khốn khổ, khốn nạn thì không nói làm gì nữa, nhưng nếu nói đến trách nhiệm của những ai tự nhận như một chiến sỹ quốc gia thì chúng ta phải nhận chúng ta đã thua, chúng ta phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc với hiện tình, và từ đó phải nhận định: từ những vận động của thế hệ 1930, qua cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đến nay, cuộc cách mạng phải có của chúng ta vẫn chưa chấm dứt, vì chúng ta vẫn chưa có một mẫu người mới, một xã hội mới được xây dựng trên một ý thức hệ việt mới. Có phải tôi đã nói lông bông lang bang, vì tôi đang viết những gì về Khái-Hưng không? có thể phải, mà cũng có thể không vì tôi đã nghĩ đến nó khi nhớ lại những điều Khái-Hưng đã viết, và cái chết của Khái-Hưng để lại cho tôi. Và vì tôi, chính tôi, đang có những vấn đề đặt ra: văn chương với xã hội, văn chương với cách mạng, sự liên hệ người cầm bút với xã hội, quê hương và nhất nữa khi đặt mình là nhà văn tôi phải làm gì? có văn chương nghệ thuật thuần túy không?

Trong số các tác phẩm của Khái-Hưng, cuốn được ghi cuối cùng là Băn khoăn, cuốn sách hình như đã được viết ngay vào lúc đầu những hoạt động cách mạng của tác giả cùng lúc với Nhất-Linh viết cuốn Bướm-trắng. Tôi vẫn tự hỏi: tại sao giữa tác phẩm và đời sống tác giả lại không có một chút liên hệ nào như vậy. Tại sao Nhất-Linh và Khái-Hưng lại viết được hai tác phẩm thuần túy như thế vào giữa lúc họ bắt đầu hoạt động cách mạng. Có thực Băn khoăn Bướm trắng đã được viết lúc ấy hay đã viết từ trước mà mãi lúc đó mới in ra?

Hơn nữa Nhất-Linh đã viết Đôi Bạn, và tôi nhớ có đọc được một vài số báo nào đó Khái-Hưng viết truyện Xiềng xích rõ ràng là những tác phẩm liên can mật thiết đến tư tưởng và đời sống tác giả trong xã hội đương thời ấy.

Có hai tác phẩm của Khái-Hưng tôi lưu giữ mà với chủ quan tôi cho là quan trọng và giá trị là Tiêu-sơn tráng-sĩBăn khoăn. Cuốn trên tôi thích có lẽ một phần vì nhân vật Phạm Thái, một nhân vật vừa là chiến sĩ, vừa là tu sĩ, vừa là nghệ sĩ mà Khái-Hưng đã làm sống lại được, còn cuốn sau, tôi cho đó là một tiểu thuyết rất mới của thời đó, và cho đến bây giờ nữa về nội dung đã cho tôi một phần nào lý do sự thất bại của những trí thức mới trong giai đoạn lịch sử vừa qua.

Băn khoăn của Khái-Hưng muốn nói là “băn khoăn” của ai? của Cảnh chăng? cậu sinh viên trường luật học giỏi đã hai mươi nhăm tuổi đang yên ổn học hành… nhưng sang năm thứ ba một hôm chợt lởn vởn trong đầu chàng câu hỏi: “Học để làm gì? và đỗ để làm gì?” Rồi câu hỏi trở thành ám ảnh dòng dã hàng tháng, ám ảnh kỳ cho tới khi nẩy ra câu trả lời mới thôi. Câu trả lời ấy là: “Học để chẳng làm gì ráo. Đỗ cũng chẳng ích lợi gì cho chàng, cho tương lai của chàng.” Rồi chàng lý luận ầm ỹ trong thâm tâm để tìm ra nguyên tắc, quan niệm, ý nghĩa của sự sống, của đời mình. Luận lý cho tới lúc đến một kết cục chán nản, đau đớn. Sống không mục đích, đời là vô vị (1) Cảnh không học nữa, và bắt đầu một cuộc phiêu lưu, dấn mình vào đời sống chơi bời. “Muốn thì được” Cảnh thường nói. Mà khi người ta giàu như Cảnh thì người ta lại càng dễ được cái người ta muốn. Vì thế mà ngay đêm hôm ấy Cảnh đã trở nên tình nhân người yêu của bạn. Khi đã phạm tội, hai người ngỏ với nhau những ý riêng của mình rồi ôm nhau cười ngất.

Liên bảo Cảnh:

– Đối với bọn chúng ta chả còn cái gì chúng ta cho là thiêng liêng nữa.

Cảnh lạnh lùng:

– Rõ em khéo nói kiểu cách!… Và ở cái thời khoa học này, đến thần thánh cũng đã mất hết thiêng liêng đối với lòng tín ngưỡng thành kính của người đời, thì còn cái gì đáng gọi là thiêng liêng nữa. Họa chăng chỉ có cái tính xác thịt, cái thú vui hiện tại đáng gọi là thiêng liêng cho một cái gì” (2) Rồi Cảnh yêu Lan Hương rồi yêu Hảo, ăn chơi, đánh bạc, bán cả nhà của bố cho, sau chót bỏ đi, đi đâu, phải chăng đó là cái “băn khoăn” Khái-Hưng muốn nói?

Hay cái “băn khoăn” đó là cái “băn khoăn của ông Thanh Đức, xuất thân từ một gia đình buôn bán, cai thầu, kinh doanh, và ông đi theo con đường ấy, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, đến mỏ, đến đồn điền, cho ngay tới khi đang đánh bạc với một người tình mà ông say đắm theo đuổi nghe nói đến cơ hội làm giàu cũng rủ áo đứng lên ngay. Hoằng, người đang ngồi cùng chiếu bạc đã phê phán: “Kim tiền! Trời ơi! Kim tiền! Kim tiền làm cho người ta quên hết ghét, yêu, thù, tức để chỉ nghĩ đến nó, chỉ nhớ đến nó, chỉ chạy theo một nó. Kim tiền vạn tuế!… Sống mãi trong cái xã hội này, thì một ngày kia tôi điên thật.” (3) Chừng như với ông Thanh Đức tiền có thể mua được tất, mua người này một đêm, mua người khác một đêm, mua nhà, mua mỏ, mua nhân nghĩa danh vọng. Như vậy, ông Thanh-Đức “băn khoăn” cái gì, “băn khoăn” vì không lấy được Hảo chăng?

Hay cái “băn khoăn” đó là “băn khoăn” của Hảo, con gái độc nhất của bà án, giàu có, trẻ đẹp, 20 tuổi, sống một cuộc đời nhung lụa với bên cạnh vô số bậc thượng lưu trí thức, vô số thanh niên tân học tán tỉnh, một người mà bố con Thanh Đức cùng yêu, cùng muốn chiếm đoạt mà cuối cùng lại lấy một người khác. Phải chăng “băn khoăn” bày tỏ tâm trạng lưỡng lự khi lựa chọn trước vô số người trước mặt mình của Hảo?

Ba nhân vật Cảnh, ông Thanh Đức, cô Hảo là chính trong câu chuyện “băn khoăn” của Khái-Hưng. Thời gian của tác phẩm ngắn ngủi, khởi đầu từ lúc có tin ông Thanh-Đức muốn tục huyền cho tới khi cô Hảo, người con gái mà ông Thanh-Đức theo đuổi, báo tin lấy ông huyện Tô thì chấm dứt.

Khung cảnh xã hội “một đời nhiễu loạn, vô gia đình giáo dục, vô gia đình luân lý” (4), đưa thanh niên đến nhận định “sinh ra ở đời để mà sung sướng, để mà thỏa mãn, chớ không phải để khổ sở, để than phiền, hay để theo đuổi một mục đích viển vông nào” (5). Khung cảnh của một xã hội thượng lưu với rượu, với cà phê rum ngây ngất, với những canh bạc không nghĩ đến ăn thua, với một phút quyết định đã đủ phương tiện để rời Hà-nội đi Sầm-sơn tắm biển, rồi từ Sầm-sơn đi Hải-phòng coi chớp bóng, ngủ với gái, với sinh viên luật thấy chẳng cần phải thi đỗ, với bác sĩ có bịnh viện giao cho người phụ trông nom, với những cô gái mà tất cả các bạn đều là tình nhân chung chăn chung gối, chán người này đổi người khác, một xã hội, mà ngay trong đó đã có người phán xét… “thấy đám thanh niên sống không mục đích, hay với mục đích độc nhất là sự chơi bời phóng đãng thì em ghê sợ… cho họ quá, và tiếc cho họ nữa… Những bực thanh niên trí thức như anh Đoan em mà chịu làm việc, làm việc với lòng tín ngưỡng thì… hay biết bao, có ích cho đồng bào biết bao?” (6)

Những nhà luân lý đã từng nói đến những truyện của Sagan thời hậu chiến vô luân, mà có ai nhớ đến rằng, chính đời sống vô luân, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh đề cao thú vui xác thịt đã có trong tác phẩm Khái-Hưng từ thời tiền chiến, ở Việt-Nam.

Trình bày câu truyện Băn khoăn của Khái-Hưng tới đây, tôi ngưng lại để trở về nhận định tôi đã đưa ra: vì sao người trí thức Tây-học đã thất bại trong giai đoạn vừa qua khi lãnh đạo tranh đấu.

Lớp trí thức mới sinh ra sau khi tinh thần Văn-Thân khởi nghĩa đã hết, sau khi lớp trí thức Nho-học đã tàn, và người Pháp đã mang văn hóa Tây-phương vào đào tạo một lớp người mới. Từ tình thế lụn bại của tinh thần quốc gia đó, người trí thức Tây-học chạy theo ngay, hạ bệ cái cũ một cách tàn tệ, kịch liệt, và cái mới chói lòa trước mắt làm họ không nhìn thấy gì nữa. Họ du nhập đơn phương, không lựa lọc, không nhìn chính vào mình. Họ lên án nhà Nho câu nệ khuôn bó theo Khổng-học, thì chính họ lại bước theo con đường đó để đến với Tây học, và tạo ra một lớp trí thức mất gốc, rơi vào cái thực trạng mà cuốn Băn khoăn của Khái-Hưng đã phản ảnh. Với lớp người như thế, với tư tưởng như thế, họ làm sao không thất bại, phải chăng, đó chính là điều “băn khoăn” của Khái-Hưng?

Lỗi lầm của lớp trí thức Tây-học từ ngay lúc đầu đã gây ra, đưa đến hiện trạng này, và ngày nay, lớp thanh niên mới, với bài học cũ của lịch sử, đã nhận ra chưa trách nhiệm của mình, công việc của mình từ ngay trên căn bản tư tưởng trong cuộc dấn thân mà họ phải thực hiện. Hay họ đang tiếp tục đi trên con đường mòn nối dài khi xưa mà họ cố tình làm ngơ như không biết?

Nhưng tôi vẫn tự hỏi: vì sao giữa lúc bước chân vào cuộc tranh đấu cách mạng mà Khái-Hưng lại viết được Băn khoăn? Không hề có ảnh hưởng giữa đời sống và tư tưởng tác giả với tác phẩm sao?

Dương Nghiễm Mậu
11-1964


  1. Băn khoăn, Khái-Hưng, bản in lần thứ ba, Phượng-Giang, Sài-gòn, 1958, trang 16.
  2. Sách đã dẫn, trang 44 
  3. Sách đã dẫn, trang 268.
  4. Sách đã dẫn, trang 13
  5. Sách đã dẫn, trang 50
  6. Sách đã dẫn, trang 86
bang-ba-lan-ve-nguyen-vy

Bàng Bá Lân về Nguyễn Vỹ

Trích từ cuốn Vài kỷ niệm về mấy văn, thi-sĩ hiện đại (ký ức – phê bình),
Xây Dựng xuất bản và phát hành năm 1962 tại Sàigòn.

Sinh năm 1912 tại làng Tân-phong (trước gọi là Tân-hội, sau năm 1945 lại đổi là Phổ-phong) huyện Đức-phổ, tỉnh Quảng-ngãi, trong một gia đình cách mạng (thân phụ là Nguyễn-Thống, bác ruột là ông Tú Nguyễn-Tuyên, anh họ là Nguyễn-Nghiêm, đều bị tù tội vì hoạt động chính trị).

Có lẽ cũng vì chịu ảnh hưởng cha anh, nên Nguyễn Vỹ cũng nhiều lần ra tù vào khám:

Năm 1927, đang học năm thứ ba trường Trung-học Pháp-Việt Quy-nhơn, thì bị đuổi vì tham gia phong trào bãi khóa.

Sau đó, ra Hà-nội theo học ban Tú-tài. Dạy học một thời-gian tại trường Thăng-Long. Viết giúp nhiều báo Pháp-ngữ và Việt-ngữ như: La Patrie Annamite, L’Ami du Peuple Indochinois, Văn-học tạp-chí, Đông-Tây tuần-báo, Phụ-nữ tuần-báo, Tiểu-thuyết thứ năm, Nguyễn-Vỹ ở trong nhóm các nhà văn chống Tự-Lực văn-đoàn.

Năm 1937, Nguyễn Vỹ chủ trương tờ báo song ngữ Pháp Việt Bạch-ngaLe Cygne cùng với Trương-Tửu. Le Cygne là cơ-quan văn-nghệ và chính-trị có tính cách quá khích nên bị các báo Pháp phê bình: “Le Cygne est un coq de combat” (Bạch-nga là một con gà chọi). Báo Le Cygne bị phủ Thống-sứ Bắc-kỳ và chính phủ Nam-triều kiện tại tòa án Hà-nội về tội “phá rối cuộc trị an, xui dân làm loạn để đánh đổ chính-phủ quân chủ”. Nguyễn-Vỹ bị 6 tháng tù và 3.000 quan tiền phạt.

Năm 1940, Nguyễn-Vỹ viết hai quyển sách chống Nhật và Pháp, bị ở tù lần thứ hai tại Trà-khê (cao-nguyên Trung-Việt), từ 1941 đến 1945.

Tháng tám 1945, một nhóm chiến-sĩ quốc-gia cho ra tờ báo Tổ-Quốc ở Sàigòn do Nguyễn-Vỹ làm chủ bút; nhưng được 6 số thì bị đóng cửa.

Năm 1948, Nguyễn-Vỹ mở một nhà in nhỏ ở Đà Lạt và xuất bản tuần-báo Dân-Chủ, nhưng bị chính-phủ Nam-kỳ đóng cửa năm 1950.

Năm 1952, xuất bản nhật báo Dân Ta tại Sàigòn, nhưng rồi tờ báo này cũng bị thu hồi giấy phép (1954).

Từ năm 1958, Nguyễn-Vỹ chủ trương tạp-chí Phổ Thông, chuyên phổ biến văn-hóa, không tham gia chính-trị.

Đã xuất bản: Tập thơ đầu – Premières Poésies (thơ Việt và Pháp – Hà-nội, 1934); Grandeurs et Servitudes de Nguyễn-văn-Nguyên (1937); Đứa con hoang (tiểu-thuyết, 1937); Kẻ thù là Nhật-bản; Cái họa Nhật-bản; Devant le Draine franco-Vietnamien (Trước thảm kịch Pháp Việt, 1947); Chiếc áo cưới màu hồng (tiểu-thuyết, 1955); Giây bí rợ (tiểu-thuyết, 1956); Hai Thiêng-Liêng (tiểu-thuyết); Hoang-vu (thơ, 1962).


Cuối năm 1934, tôi thấy bầy bán – tại mấy tiệm sách ở Hà-nội một tập thơ mới xuất bản mang nhan-đề là Tập thơ đầu (Premières Poésies) của Nguyễn-Vỹ.

Tôi chưa kịp mua đọc tập thơ nửa Việt nữa Pháp ấy, thì bỗng được coi bài phê-bình trong tuần-báo Phong-Hóa do Lê-Ta (tức Thế-Lữ) viết. Những lời đả kích nặng nề viết bằng một giọng châm biếm nửa nạc nửa mỡ đặc biệt của Lê-Ta dễ làm cho độc-giả hồi ấy yên trí tin theo.

Chính tôi cũng bị những lời phê-bình bất lợi cho Nguyễn-Vỹ ấy lôi cuốn theo. Nhất là những câu thơ mà Lê-Ta đã trích ra càng làm tôi mạnh tin vào lời ông phê phán:

Ta hãy truyền một thi-hứng mới cho thế-kỷ hai mươi,
Ta hãy ký thác trong vần thơ những tình sâu ý hiểm.

Tả “ông tượng đồng đen” ở bến “Quan Thánh” (Hà-nội), Nguyễn-Vỹ viết:

Da thịt ngài đều bằng đồng, ngài trạc năm sáu mươi tuổi.

Về hình thức, Nguyễn-Vỹ đã phỏng theo thơ alexandrin, lối thơ mười hai chân (12 pieds) của Pháp. Còn về giá-trị văn-chương thì những câu thơ đó thực rườm-rà và ý tưởng chẳng có gì mới lạ!

Vì vậy, tôi đã bỏ qua không đọc Tập thơ đầu của Nguyễn-quân.

Mãi đến năm 1942, nhận được cuốn Thi-nhân Việt-nam của Hoài Thanh và Hoài Chân gửi tặng, tôi lại thấy có bài nói về Nguyễn-Vỹ. Nhưng lần này tôi chú ý đến họ Nguyễn nhiều hơn, vì tôi nhận thấy ở nhà thơ này một cái gì đáng kể, mặc dầu đoạn đầu bài phê-bình trong Thi-nhân Việt-nam, cũng như trong Phong-Hóa trước kia – không có lợi cho Nguyễn-Vỹ:

Mở đầu bài phê-bình, Hoài-Thanh viết:

“Nguyễn-Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng, trống, xập-xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng-hửng trở vào, vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu-bộ lố-lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì.

Táo bạo thì táo bạo thực, nhưng trong văn thơ táo bạo không đủ đưa người ta ra khỏi cái tầm thường.”

Rồi nhà phê-bình trích thơ của Nguyễn-Vỹ để chứng-minh và kết luận là họ Nguyễn “quả đã muốn lòe” đời! Và ông viết tiếp: “Thực ra, chúng ta cũng dễ bị lòe. Nhưng ở chỗ nào khác kia. Chứ trong văn-chương thì hơi khó”

Nhận xét này – theo tôi – có phần quá đáng. Tôi không tin là Nguyễn-Vỹ định “lòe” ai! Giữa lúc phong-trào Thơ Mới đang bành trướng mạnh, các nhà làm thơ mới đua nhau đi tìm những “chân trời mới”, những ý tưởng lạ, những hình thức phô diễn tân kỳ. Nhưng phần đông đều chịu ảnh-hưởng nặng-nề của văn-chương Pháp, nên người ta – dù muốn dù không – đã mượn nhiều ở cách cảm nghĩ và diễn tả của các nhà thơ Tây. Có người còn dịch phăng cả ý và lời của thơ Pháp như Xuân-Diệu. Như vậy thì, trong lúc xô bồ đua nhau chạy theo cái “mới” ấy, Nguyễn-Vỹ có bắt chước thơ alexandrin cũng là thường, không đáng chỉ trích. Điều đáng nói và cần nói là Nguyễn-quân có thành công hay không? Thế thôi!

Và tôi phải thành thực nhận rằng nhà thơ này đã không thành công trong Tập thơ đầu cũng như trong thể thơ mười hai chân rềnh-ràng chậm chạp. Nhưng Nguyễn-Vỹ đã thành công ở chỗ khác. Hoài-Thanh – trong Thi-nhân Việt-Nam – đã cho ta thưởng thức hai bài thơ rất hay của Nguyễn-Vỹ: Bài Sương rơiGửi Trương Tửu (1) với những lời phê-bình khen ngợi mà tôi xin trích in nguyên văn sau đây để biểu đồng tình:

“Tôi tin rằng linh-hồn chung của một lớp người đủ phức tạp để cảm thông với hầu hết những thơ văn có giá-trị. Một bài như bài Sương rơi được rất nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn-Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc-điệu riêng để tả một cái gì đang rơi. Cái gì đó có thể là những giọt sương, cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đều chậm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn-vơ buồn ta đứng một mình trong lặng-lẽ.

Nhưng Sương rơi còn có vẻ một bài văn. Gửi Trương Tửu mới thực là kiệt tác của Nguyễn-Vỹ. Trong lúc say, Nguyễn-Vỹ đã quên được cái tật cố hữu của người, cái tật lòe đời. Người đã quên những câu thơ hai chữ và những câu thơ mười hai chữ. Người dùng một lối thơ rất bình-dị, rất xưa, lối thất ngôn tràng thiên liên vận và liên châu. Lời thơ thống thiết, uất ức, đủ giãi nỗi bi phẫn cho cả một hạng người. Một hạng người nếu có tội với xã-hội thì cũng có chút công, một hạng người đã đau khổ nhiều lắm, hạng sống bằng nghề văn. Hãy cho đi là họ không có gì xuất chúng, thì ít nhất họ cũng đã nuôi những giấc mộng to lớn khác thường. Nhưng đời không chiều họ; dụng vào sự thực những giấc mộng của họ đều tan tành và lần lượt họ bỏ thây ở giọc đường hay trong một căn phòng bố thí.

Nguyễn-Vỹ đã làm bài thơ này trong một lúc vô cùng buồn giận vì cái nghiệp văn-chương. Những ai cùng một cảnh huống, xem thơ tưởng có thể khóc lên được. Trong lời văn còn chút nghênh ngang từ đời xưa lưu lại. Nhưng ta đã xa lắm rồi cái kiêu ngạo phi thường của Lý Thái Bạch, chỉ biết có văn-chương, còn khinh hết thẩy:

Khuất-bình từ phú huyền nhật nguyệt,
Sở-vương đài tạ không sơn khâu.
Hứng hàm lạc bút giao ngũ nhạc,
Thi thành tiếu ngạo lăng thương châu.

Với Nguyễn-Vỹ, chúng ta đã mất hẳn cái cười kiêu-ngạo ấy và ngơ-ngác thấy săp cùng hàng với… chó.

Cái lối sắp hàng kỳ quái ấy đã làm phật ý Tản-Đà. Một hôm say rượu, Tản-Đà trách Nguyễn-Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?” Nguyễn-Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?”


Trên đây là tất cả những điều tôi được biết và cảm nghĩ về Nguyễn-Vỹ từ trước năm 1945, những điều còn lờ-mờ và thiếu sót. Và có lẽ tôi sẽ không bao giờ được biết thêm về anh để hôm nay ngồi viết những dòng kỷ-niệm và giới-thiệu này, nếu một buổi sáng kia – cách đây ba năm, tôi không nhận được bức thư sau đây:

Sàigòn, ngày 9 tháng 10 năm 1959.

Kính gửi Anh Bàng Bá-Lân
Tòa soạn Tân-Phong
Sàigòn.

Xin anh vui lòng viết cho chúng tôi một bài trả lời cuộc phỏng vấn của Ngày Mới để đăng trong báo, cùng với các bài trả lời của các bạn văn-nghệ-sĩ khác.

Anh có thể trả lời những câu nào anh thích và bỏ qua những câu hỏi mà anh không thấy cần thiết lắm.

Giữa bạn đồng nghiệp với nhau, xin thưa riêng cùng anh rằng Ngày Mới sẽ tặng anh tiền nhuận bút về bài ấy, sau khi nhận được bài.

Thành-thật cám ơn anh và thân kính chào anh.

Giám-đốc Chủ bút
Tuần-san NGÀY MỚI

Nguyễn-Vỹ
(Ký tên và đóng dấu)

Kèm theo bức thư là mấy số báo gửi tặng với chín câu hỏi. (2) Tôi đã trả lời bài phỏng vấn ấy. Và tôi quen Nguyễn-Vỹ từ đó, nhưng vẫn chưa có dịp gặp anh.

Bẵng đi một thời gian. Đến năm 1960, thể theo lời yêu cầu của một nhà xuất bản ở Sài-gòn, tôi nhận viết một bộ sách giáo-khoa về Việt-văn cho các lớp trung-học đệ nhất và nhị cấp. Quyển đầu là quyển Giảng Văn Đệ Tứ phát hành vào tháng 10 năm 1960. Tôi có gửi tặng Nguyễn-Vỹ một cuốn và liền nhận được thư anh trả lời (thư đề ngày 31-10-1960).

PHần chính nội-dung bức thư như sau:

“Nhân xem quyển Giảng Văn Đệ Tứ của anh (mà tôi sẽ giới-thiệu trong Phổ-Thông), tôi xin mời anh vui lòng viết cho Phổ-Thông tạp-chí, đặc biệt phụ trách thường xuyên mục “Những áng thơ hay”…

Mong anh nhận lời, và xin thành-thật cám ơn anh”

Tôi nhận lời. Thế là từ đó tôi khoác áo nhà phê-bình và được tự do khen chê thơ của thiên hạ. Cũng may là những nhận xét nông cạn và lời văn vô duyên của tôi lại lọt tai độc-giả và được nhiều người ưa mến, nên không đến nỗi phụ lòng tri kỷ…

Nhưng cũng lại chính vì thế mà tôi làm phiền Nguyễn-quân không ít! Bài của tôi chuyên đưa chậm, thỉnh thoảng không viết kiệp lại tự ý nghỉ “ngang xương” một hai kỳ, khiến độc giả bực mình! Nhiều người viết thư về tòa soạn thúc giục và yêu cầu bài ra đúng kỳ. Lúc đầu, tôi còn cố gắng viết; nhưng sau – vì ôm đồm nhiều việc, bận quá – tôi đâm ỳ ra, khiến Nguyễn-quân cứ phải kiếm cớ khất quanh với độc-giả! Có một điều tôi tưởng cũng nên ghi lại là các văn-nghệ-sĩ thường thích phóng túng: lối sống hay bừa bãi, việc làm thường thiếu tổ chức. Tôi chưa được rõ lối sống của Nguyễn-Vỹ thế nào; nhưng về việc làm báo của anh thì phải nhận là có tổ-chức chặt chẽ và đứng đắn. Báo ra đúng kỳ hạn, bài vở đều đặn, nhất là những mục do anh phụ trách (mà anh giữ rất nhiều mục với nhiều bút hiệu khác nhau) thì chẳng bao giờ chậm trễ, thiếu sót. Một điều đáng kể nữa là sổ sách rất đàng hoàng, tiền nhuận bút của các ký-giả và văn-hữu viết giúp được trả rất sòng phẳng, mau chóng. Đó là điều mà đa số các chủ báo khác không mấy lưu tâm! Có lẽ tại thế mà tạp-chí Phổ-Thông của Nguyễn-Vỹ đã sống được khá lâu, và có vẻ càng ngày càng tiến triển.

Tuy viết giúp thường xuyên cho tạp-chí Phổ Thông, tôi vẫn chưa có dịp gặp Nguyễn-Vỹ, mặc dầu đã nhiều lần anh nhắn trong thư ngỏ ý muốn gặp tôi ở tòa soạn. Chỉ vì tôi bận dạy học, lại thêm việc soạn sách giáo khoa, không còn hở thì giờ đi đâu được, dù là từ Phú-nhuận xuống đường Gia-Long! Bài vở, tôi đều gửi nhà bưu-điện chuyển, hoặc do nhân-viên nhà báo đến lấy. Cho đến giữa năm 1961, tôi mới có dịp ghé thăm tòa soạn Phổ-Thông (số 283, đường Gia-Long, Sàigòn) và lần ấy tôi gặp Nguyễn-Vỹ là lần thứ nhất.

Nguyễn-quân thân hình thấp lùn nhưng hơi mập, đi đứng vững-vàng chứ không có dáng loắt-choắt như phần nhiều những người thân hình thấp bé khác. Anh nói nhỏ, nhưng khá rõ. Giọng đều đều, hơi lạnh-lùng, ít thiện cảm. Vì vậy, câu chuyện giữa tôi với anh, hôm ấy, cũng không mấy thân-mật và không có gì đáng ghi nhớ. Chừng hút tàn điếu thuốc lá Minh-ty (3), tôi cáo từ ra về và nhận thấy Nguyễn-Vỹ thật khác xa Nguyễn-Vỹ mà tôi tưởng-tượng qua những bức thư anh gửi cho tôi. Nhưng đó chỉ là cảm-tưởng ban đầu; sau này có nhiều dịp gặp lại Nguyễn-quân, tôi hiểu anh hơn, mới thấy rằng trong cái vẻ ngoài ít niềm-nở ấy có chứa đựng những tình-cảm khá chân thành.


Hôm nay, lần giở bản thảo tập thơ Hoang-vu (mà Nguyễn-quân có nhã ý cho tôi mượn và cho biết sẽ xuất bản trong năm nay), tôi nhận thấy thơ anh gồm đủ các thể – cũ có, mới có – nhưng tuyệt nhiên không có bài nào làm theo lối “mười hai chân” nữa. Có lẽ Nguyễn-quân cũng đã nhận thấy rằng thơ hay không cần chú trọng lắm đến hình-thức trình bày… Tuy nhiên, anh không phải là người dễ bằng lòng với những cái có sẵn và luôn luôn muốn sáng tạo, tìm tòi…

Trong thi-phẩm Hoang-Vu, có mấy bài được trình bày khá lạ, như những bài Mưa ràoHoàng hôn trích in sau đây:

MƯA RÀO

Mưa
Lưa thưa
Vài ba giọt…
Như rót rã-rời
Giọt lệ tình đau xót,
Như mây mịt-mù gió đưa,
Cây lá rung xào-xạc giữa trưa,
Mưa đổ xuống ào-ạt, mưa, mưa, mưa!
Thời-gian trôi tan-tác theo tiếng mưa cười;
Không-gian tan nát dập vùi theo thác mưa trôi.
Đàn em thơ nhào ra đường, giỡn hớt chạy dầm mưa.
Cỏ hoa mừng nên vận hội ngả nghiêng tắm gội say sưa,
Nhưng ta không vui không mừng lòng không ca hát!
Ta đưa tay ra trời, xin dòng mưa thấm mát,
Tưới vết thương còn héo-hắt tự năm xưa!
Nhưng ô kìa! Mưa rụng chóng tàn chưa!
Trời xanh xanh, mây bay tan-tác.
Ai còn ươm hạt mưa đào
Lóng-lánh trong tim hoa?
Ai ươm mơ sầu.
Ôi mong-manh,
Trong tim
Ta!

(Sàigòn, một chiều hè 1959)

Tác-giả muốn diễn tả những cơn mưa đặc biệt của miền Nam: bắt đầu lác-đác vài ba giọt, rồi mưa mau, rồi ào ào trong chốc lát, rồi thưa dần, cuối cùng còn lại lác-đác vài ba giọt và tạnh hẳn. Vì vậy, anh đã chọn cái hình-thức trình bày rất thích hợp là lối thơ “hình quả trám” (losange). Lối thơ này, đối với ta, tuy có vẻ mới lạ, nhưng nhiều thi-sĩ tây-phương đã làm từ lâu.

Với bài Hoàng-hôn, tác giả muốn cho người đọc thấy rõ hình ảnh một đàn cò trắng đang vội-vã bay về tổ ở phương trời xa, trong ánh chiều vàng sắp tắt nên anh đã trình bày bài thơ của mình theo hình chữ V:

HOÀNG HÔN

Một đàn
Cò con
Trắng nõn
Trắng non
Bay về
Sườn non
Gió giục,
Mây dồn
Tiếng gọi
Hoàng hôn
Buồn bã
Nỉ non.

Từ giã
Cô thôn…
Còn con
Trắng non
Nào kia
Lạc bầy
Lại bay
Vào mây
Ô kìa!

Tôi trích in hai bài thơ này, không phải vì giá-trị tư-tưởng hay văn-chương vì thực ra cũng không có gì đặc sắc, mà chỉ cốt chứng minh sự cố gắng tìm tòi những hình thức diễn tả mới lạ của Nguyễn-Vỹ, một nhà thơ không thích nằm yên trong sáo cũ khuôn mòn.

Qua những bài thơ khác của anh, trong Hoang-vu, tôi nhận thấy anh ít thành công ở những tình-cảm thông thường như: yêu, buồn, thương, nhớ… Với những loại bài này anh thường mắc phải những lỗi: sáo, rườm-rà, hoặc quá dễ dãi trong cách đặt câu dùng chữ. Thí-dụ:

… Rồi bay, bay mất đi thôi!
Bay đừng ai biết tăm hơi chỗ nào!
Mênh-mông đất rộng trời cao,
Bay! Bay! Tìm cảm tiêu-dao, thoát lồng!
……..
Buồn ôi! Vắng-vẻ lâm-ly!
Buồn ôi! Tan-tác sầu-bi u hoài!…
(Ra đi)

Buồn lắm, ai ơi! Chỉ muốn đi!
Đi! Đi! Mù-mịt bước lưu ly!
Ly bôi sầu tửu cô tâm lụy,
Lụy khổ tài hoa vạn cổ bi!
Bi hận đồng bào tình thảm xót;
Xót xa tổ-quốc cảnh tàn suy!
Suy đi nghĩ lại, lòng tơ vướng,
Vướng nợ duyên gì, hỡi Hóa-nhi?
(Mộng thoát-ly)

Tôi là người của gió sương,
Mải-mê đeo đuổi kiếp sầu thương
………
Còn thiết-tha chi cuộc hí trường?
Ham chi huyền-ảo giữa tang thương!
……..
Chết luôn dưới nấm mồ thu thủy,
Gió lịm điêu tàn, bóng tịch dương!
(Gửi cô Bích Tiên)

Em buồn, đứng tựa cửa phòng thu
Trông bước lên đường khách lãng-du
Sương gió đìu-hiu vương nửa kiếp,
Tài-hoa mang lụy, hận thiên thu!
Cảm-kích bi sầu, lệ chứa chan,
Em trao tặng khách trái tim vàng…
(Chiếc ảnh ngày xưa)

Ngoài những khuyết điểm trên, đôi khi tác-giả Hoang-Vu còn tỏ ra ít thận trọng trong việc gieo vần. Thí-dụ:

Bỗng văng vẳng tiếng kêu, tiếng khóc
Những u buồn tang tóc bi ai,
Rì-rầm trong gió trong mây,
Vang ra khắp chốn trần ai ta bà…
(Giấc mơ bom nguyên-tử)

…Buồn ôi! Tan-tác sầu-bi u-hoài!
Hết ngày rồi lại hết ngày…
(Ra đi)

Hoặc cảm-xúc hời-hợt thêu dệt nên những cảnh tượng giả tạo:

Bỗng hiện lên từ thâm cung rộn-rã,
Thướt-tha nàng Vệ-nữ nõn-nà duyên.
Nàng lướt sóng, diễm-kiều và ẻo-lả,
Đưa hai tay mừng đón khách tân niên.

Nàng bỗng chốc biến mình trong ngân thủy,
Ta lặn tìm, gọi khắp: “Mỹ-nhân ơi!”
Nàng lại hiện ra dáng hình tuyệt mỹ,
Nét ngọc ngà uốn lượn giữa chơi-vơi.

Tiếng cười dội cả khu trời rực-rỡ,
Nàng sa chân, vấp một mảnh sao rơi.
Ta cũng ngã bên thân hình Ngọc-nữ,
Nàng với ta ôm xiết chặt đôi môi…

(Đêm giao thừa tắm biển)

Nhưng Nguyễn-Vỹ đã thành công trong những bài thơ diễn tả nỗi buồn giận vô cùng chua xót mà anh đã từng trải, như bài Gửi Trương-Tửu và nhất là những bài làm trong chuỗi ngày bị giam cầm.

Những lúc đó, lời thơ anh toát ra rất tự-nhiên, giản-dị và thành-thực, vì từ thơ như tràn ngập trong mạch máu, chất chứa sẵn trong đầu.

Lời thơ lúc thì thản-nhiên như coi thường cảnh ngục tù giam hãm:

Rượu uống thầm trong tối,
Thơ chép thầm trong mơ…

Đêm khuya thơ réo-rắt
Muốn thoát ngục ra liền.
Tim tôi không còng sắt,
Thơ tôi không bị xiềng.

Bạn tù ngủ thiêm-thiếp,
Nàng thơ dậy nao-nao…

(Con chim trong tù)

Cũng vì giữ được vẻ thản-nhiên, nên anh mới có những nhận xét khách quan để mà ghi được những nét phác họa tả rất rõ và đúng cảnh lao tù:

Trăng khó vào ngục thất,
Gió thoảng ngoài xà-lim.
Bốn vách tường cao ngất;
Mù-mịt trong thâm nghiêm.

Có lúc lời thơ anh lại rất chua chát. Những khi đó anh thường nghĩ đến… chó, hay nói đến… chó! Ta có thể nói Nguyễn-Vỹ là nhà thơ Việt-nam có cảm-tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào trong thơ cũng đều xúc cảm được người đọc.

Xin mời độc-giả thưởng thức mấy vần “thơ chó” (4) trong bài Hai đứa chó trích trong thi phẩm Hoang-vu:

Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó,
Bốn thằng bơ-vơ như bốn chó!
Chẳng được nói năng, chẳng được cười,
Hai chân chồm hổm ngồi co ró.
….
Thằng tôi chờ chết ngồi co ró,
Làm thơ âm-thầm vần con chó.
Bỗng một chó Nhật vừa đi qua,
Đứng ngoài song sắt trố mắt ngó.

Nó nhìn thằng tôi, tôi nhìn nó:
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!
Bỗng dưng tôi cười: ha ! ha! ha!
Nó cũng vẫy đuôi cười: hó! hó!

Tên lính Nhật-hoàng la xí-xố
Đạp giầy lên lưng xua đuổi nó,
Rồi quật roi da lên đầu tôi,
Ào-ào, ạt-ạt như thần gió!

Chó Nhật ẳng-ẳng chạy gần đó,
Quay lại vẫy đuôi đứng lấp-ló.
Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!

Hà-nội đón mùa xuân Nhâm-ngọ,
Pháo nổ tưng bừng đèn sáng tỏ.
Chó Nhật vẫy đuôi chờ tôi ngâm
Dăm chục câu thơ mừng kiếp chó!

Ôi tôi ôi, tôi ôi là tôi!
Ôi chó ôi, chó ôi là chó! (5)

Một lần khác, bị giam cầm trong ngục Trà-Khê, Nguyễn-Vỹ nhìn qua lưới sắt ra ngoài: Một đêm thu đẹp, dưới ánh trăng thanh dăng tơ và dệt mộng, một “con chó trắng dễ thương và ngoan ngoãn” đang “giỡn với trăng” và “nhảy tới, nhảy lui, đùa với bóng”…

Nhà thơ của chúng ta bỗng bồi hồi cảm xúc và làm bài thơ Trăng, chó, tù so sánh ba hoàn-cảnh với nhau và thèm khát sự tự do của trăng và của chó:

… Bỗng dưng đôi mắt lệ hoen mờ,
Tôi gục xuống sàn tre, nằm thổn-thức…
Trăng với chó tự-do ngoài sân ngục,
Tôi bị giam sau bốn bức tường cao!
Ôi Tự-Do! Mi quý biết nhường bao!
Mi là cả trăng, sao, trời thơ mộng.
Mi là những nụ cười vui để sống,
Mi là dòng huyết thống của Thiêng-liêng.
Có Tự-Do là có cả thần tiên
Không có nó, trần-gian là ngục thẳm!

Và lần này thi sĩ đã không chống lại nỗi buồn giận uất ức bằng những lời mỉa mai chua chát hoặc vẻ bình thản hiên ngang như trong phần nhiều bài thơ khác mà để cho buồn tủi xâm chiếm trọn tâm-hồn và đã khóc rất nhiều, khóc thật sự, khóc thâu đêm:

Tù Trà-Khê say mê trong giấc đắm
Trên giường tù ai lệ đẫm thâu đêm!

Khóc vì bị mất tự-do thì trong chúng ta nhiều người từng hơn một lần đã khóc. Bởi vậy, những vần thơ trên đây của Nguyễn-Vỹ chắc hẳn được nhiều bạn đọc cảm thông.

Đến đây, tôi chợt nhớ tới một câu của nhà văn Pháp La Bruyère: “Il faut exprimer le vrai pour écrire naturellement, fortement, délicatement” (Phải diễn tả sự thực thì văn viết mới tự nhiên, hùng hồn, tế nhị). Và một lần nữa tôi phải chấp nhận là xác đáng.

Nguyễn-Vỹ còn một bài thơ nhan-đề là “Hết chơi” họa nguyên-vận bài “Còn chơi” của Tản-Đà. Qua bài thơ họa này, ta hiểu rõ thêm về nhân-sinh quan của Nguyễn-Vỹ, nó chống hẳn lại cái nhân sinh quan yếm thế và hưởng lạc, chủ trương “chơi là lãi” của Nguyễn Khắc Hiếu. Xin trích ít câu tiêu-biểu của hai bài đối chiếu nhau để bạn đọc tiện so sánh:

Làng văn chỉ thiếu khách đua chơi!
Dan-díu như ai, tớ với đời!
Tớ đã với đời dan-díu mãi,
Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi!

Đời đương dan-díu, chửa cho thôi,
Tớ dám xa xôi để phụ đời.
Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ,
Nhớ đời nên tớ vội ra chơi.

Tớ hãy chơi cho quá nửa đời,
Đời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.
Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,
Buồn cả cho đời vắng bạn chơi!…

Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời.
Nghĩ đời như thế, dám nào thôi!
Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi,
Chơi mãi cho đời có bạn chơi!

Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi.
Viết thêm câu nữa, hỏi đơi chơi:
“Lộng-hoàn” này điệu từ đâu trước?
Họa được hay không? Tớ đố đời!

(Còn Chơi)

Đua nhau hoa nguyệt, gọi là chơi?
Không hổ tài thơ giữa cõi đời?
Đời sống mênh-mông trong khổ lụy,
Ông còn chơi mãi, vẫn chưa thôi?

Ham chơi, chơi mãi chẳng buồn thôi,
Lại nói ba-hoa đổ tội đời!
Đời chẳng phụ ông, ông lại phụ:
Bởi đời đâu phải chỗ ông chơi!

Ông đã say sưa chẳng thiết đời,
Chỉ thơ với rượu mãi không thôi!
Cả đời ông cứ chơi chơi mãi,
Đời chán chơi rồi, ông cứ chơi!

Nghĩ lại như ông uổng một đời!
Một đời thơ thẩn để chơi thôi!
Dăm câu thơ vụn gò chơi mãi,
Để lại cho đời chỉ món chơi!

Dù muốn còn chơi, cũng hết thôi!
Chơi bời đã chán, có ai chơi!
Mấy câu “lộng bút”, đời chơi chán
Muốn họa mà chơi, chán mớ đời!

(Hết chơi)

Thơ họa như thế mà người họa không ngần ngại trao đến Tản-Đà thì kể cũng là một điểm khá đặc biệt ở Nguyễn-Vỹ. Cho nên “câu chuyện… chó” trao đổi giữa Tản-Đà và Nguyễn-Vỹ mà tôi đã thuật lại trên kia theo Hoài-Thanh, tưởng cũng không có gì đáng lấy làm lạ vậy.

Ngoài thơ, Nguyễn-Vỹ còn viết rất nhiều loại văn: luận-thuyết, biên-khảo, phê-bình, hồi-ký, truyện ngắn, truyện dài… Mà loại nào anh viết cũng được. Những hồi-ký như Tuấn, chàng trai nước Việt (dẫn chứng lịch-sử xã-hội hiện đại 1910-1960) và các truyện dài của anh đã xuất bản hoặc đăng trong tạp chí Phổ Thông đều có ưu điểm là thích hợp với mọi từng lớp (trí thức cũng như bình dân) và khá hấp dẫn. Tuy nhiên, tiểu thuyết của Nguyễn-Vỹ còn thiếu một cái gì để đưa tác-giả lên hàng danh-sĩ. Cái gì ấy là dấu hiệu của thiên tài. Nó là chiếc đũa thần của nhà ảo-thuật, có thể gõ đá hóa vàng, làm nên một-cái-gì bằng những cái không là gì cả (faire quelque chose de rien). Cho nên mặc dầu tiểu-thuyết của Nguyễn-quân không thiếu vẻ hoạt động, hấp dẫn (tình-tiết khá ly kỳ, tâm-lý nhân-vật được xây dựng khá vững, văn gọn và trơn…) ta vẫn chưa thể đặt anh vào hàng những tiểu-thuyết gia danh tiếng. Nhưng ta phải công nhận anh là một nhà báo có tài.


Hỏi Nguyễn-Vỹ về tác phẩm nào, bài thơ nào tương đối anh ưng ý nhất, tôi được anh trả lời như sau:

“Anh hỏi tôi: Tác-phẩm nào, bài thơ nào của anh, anh ưng ý nhất? Không khác nào anh hỏi một người cha: Đứa con nào của anh, anh thương nhất? Tôi chắc người cha ấy sẽ trả lời: Đứa con nào của tôi cũng là huyết mạch của tôi, thịt da của tôi; đứa nào tôi cũng thương cả! Tôi cũng thế anh ạ. Tôi không thương đứa nào hơn, đứa nào kém. Nhưng ngộ nhỡ có tác phẩm nào do tim và hồn tôi đã phôi thai trong hoàn-cảnh thiếu thốn, để nó ra đời không được hoàn toàn, có một vài bệnh tật, thì chính nó được tôi thương hơn. Vậy anh không cần hỏi. Anh cứ xem trong các tác-phẩm của tôi quyển nào mà anh thấy có nhiều khuyết điểm nhất, bài thơ nào anh thấy có tật, què một chân hay câm một chữ, thì anh cứ tin rằng quyển sách đó, bài thơ đó được tôi yêu nhất.

Tôi không tin rằng mọi người cha đều trả lời như thế khi bày tỏ tình cảm về những đứa con của mình, dù là con tinh-thần hay vật-chất! Vì ca-dao ta đã có câu:

Cũng thì con mẹ con cha,
Con thì chín rưỡi, con ba mươi đồng!

Đó là tâm-lý chung của hầu hết chúng ta. Nhưng nếu lời tuyên bố trên kia của Nguyễn-quân là những lời thành-thực thì âu cũng là một điểm đặc biệt nữa của Nguyễn-Vỹ vậy.

(Tháng tám 1962)


(1) Hai bài này có trích in trong mục Thi tuyển ở dưới [không trích ở thread này].

(2) Dưới đây là 9 câu hỏi của báo Ngày Mới mà tôi tưởng cũng nên ghi lại cho được đầy đủ tài-liệu:

– Xin bạn cho biết bạn đã xuất bản năm nào, hoặc chừng nào xuất bản, những tác-phẩm gì?
– Hiện nay bạn đang viết sách gì, về loại gì, hoặc viết cho những báo nào, về những đề-mục nào?
– Ngoài ra, bạn còn hoạt động trong ngành nào khác nữa không, và công việc được tiến triển không?
– Riêng về nghề viết văn hay viết báo có tạo cho bạn một đời sống đầy đủ không, về vật-chất, về tinh thần?
– Gia-đình của bạn có đông không? Bạn có mấy người con, bao nhiêu tuổi, làm gì?
– Sau những công việc hàng ngày, bạn thích giải trí cách nào?
– Bạn nhận xét như thế nào về đại đa số độc-giả các sách, báo hiện nay?
– Ý kiến của bạn về tình hình văn-nghệ nói riêng, và văn-hóa nói chung của nước ta hiện nay như thế nào?
– Nguyện vọng thiết-tha của bạn: về đời sống cá nhân của bạn, về tương-lai văn-nghệ của nước Việt-Nam?

Tôi đã trả lời những câu phỏng vấn trên đây trong báo Ngày Mới (bộ mới) số 6, ra ngày 5-11-1959.

(3) Nguyễn Vỹ ưa hút thuốc lá bạc-hà nhãn-hiệu Minh-ty giá 15 đồng một gói (20 điếu)

(4) Thoạt đầu tác giả lấy nhan-đề bài thơ như vậy, sau mới đổi lại là “Hai đứa chó”

(5) Hà-nội 1942. Chàng viết sách chính-trị chủ trương chống Nhật, bị Nhật bắt giam chiều 30 Tết trong hầm kín của Karapotai, cùng với bốn người Việt khác. Bài thơ này làm trong ngục tử hình, đêm giao-thừa Nhâm-ngọ (Lời chú của Nguyễn-Vỹ).


Đây là một cái nhìn về Nguyễn Vỹ không nhuốm màu thành kiến như của Hoài Thanh và Thế Lữ. Đánh giá của Bàng Bá Lân về Nguyễn Vỹ, trong từng tư cách nhà thơ, nhà văn và nhà báo rất chính xác.

Người ta biết đến Nguyễn Vỹ với tư cách nhà thơ là phần nhiều, nhưng thơ Nguyễn Vỹ không có sự đột phá, cũng không gây tiếng vang lớn. Phải chăng vì ông quá chặt chẽ quy củ trong hoạt động sáng tác và quá chững chạc trong thái độ với cuộc đời?

Nguyễn Vỹ với tư cách nhà văn thì vô cùng duyên dáng, có cách viết trong sáng, hồn hậu, mang nhiều nét hoạt kê. Tôi đã phải cười khi đọc chi tiết cậu Bốn tìm cách tán cô Ba Hợi trong Tuấn, chàng trai nước Việt. Còn trong Văn thi sĩ tiền chiến, tôi vẫn nhớ chi tiết ông mô tả Nguyễn Văn Vĩnh lái chiếc mô tô sơn đỏ kềnh càng nhả khói như đang cỡi một con cá chép bay trong mây. Nhưng Bàng Bá Lân nói đúng, văn Nguyễn Vỹ “còn thiếu một cái gì để đưa tác-giả lên hàng danh-sĩ. Cái gì ấy là dấu hiệu của thiên tài. Nó là chiếc đũa thần của nhà ảo-thuật, có thể gõ đá hóa vàng, làm nên một-cái-gì bằng những cái không là gì cả (faire quelque chose de rien)”.

Cuốn Văn thi sĩ tiền chiến, tuy chỉ là một tập hồi ký cá nhân, nhưng theo tôi thấy là một tác phẩm rất hữu ích cho những ai muốn dựng nên diện mạo của không gian văn nghệ trước 1945. Những nhận xét của Nguyễn Vỹ về từng người rất cụ thể, được củng cố bởi những quan sát rất rõ ràng. Trong đó ông còn đặt lên bàn cân Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh để so sánh. Cái nhìn của ông Vỹ, phần nào cho ta thấy vì sao Phong Hóa xếp thứ nhất phải là “sừ Ĩnh”, thứ hai mới tới “sừ Uỳnh”.

Sự chuẩn xác trong cái nhìn của Nguyễn Vỹ còn thể hiện ở việc ông chống Nhật từ rất sớm. Trong khi một số người còn ảo tưởng Nhật cùng chung da vàng sẽ giúp đỡ người mình chống Pháp, Nguyễn Vỹ xác định luôn kẻ thù là Nhật-bản, viết và xuất bản sách Cái họa Nhật-bản. Chính vì thế mà ông bị bắt bỏ tù, và khi ra tù ông đã nhanh chóng vào Nam.

Có lẽ Nguyễn Vỹ không được may mắn lắm với tư cách nhà báo, vì mỗi khi chủ trương một tờ báo, ít lâu sau liền bị rút giấy phép và đình bảng vì lý do chính trị. Chính vì thế mà có người nói Nguyễn Vỹ là con người phản kháng, một kiểu người không hay thấy ở Việt Nam; thời nào, dưới chế độ nào, Nguyễn Vỹ cũng gây khó chịu.

Phải chăng Nguyễn Vỹ cũng mang một “khuôn mặt Quảng Ngãi” như Lê Văn Duyệt, Trương Đăng Quế hay Trương Công Định, dù ông chỉ ở vùng đất đó trong thời gian rất ngắn tuổi thơ của mình?

nguyen-tuan-lam-lai-cuoc-doi

Nguyễn Tuân, Làm lại cuộc đời

Hôm nay là một ngày rằm tháng tám. Trận bão từ đâu rớt về, đã trùm màu tang tóc, lên trên cả một thành phố lớn. Muốn chia buồn với tạo vật, người ta đã bỏ mất tết Trung thu. Cố nhiên lũ trẻ lấy làm hậm hực.

Nhưng có riêng gì chúng.

Trong một căn nhà gác nhỏ kia, có ba thiếu niên đang nguyền rủa thời tiết bằng những lời nói nặng mà một bà cụ hay lễ bái phải bịt tai và mau tay lần chuỗi tràng hạt.

Hoàng cầm tờ báo đọc tin Thiên văn đài Phủ-liễu báo bão. Chàng đọc rất to. Lưu và Nguyễn nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu, quay ra phí ngoài bốn tay bấm chặt lấy song sắt cửa, tầm mắt gửi hẳn vào trời mưa gió dữ dội.

Lắc đầu nhún vai.

Nguyễn thở dài.

Hoàng vứt tờ báo, đâm ra thẫn thờ.

Họ đang ôn lại dĩ vãng. Thời đã qua của Hoàng, của Nguyễn, của Lưu, đều nặng nề những dấu vết thương đau.

Cách đây không đầy một tháng, lúc họ rủ nhau đến ở chung căn phòng này, họ đã thề phải nhắc nhỏm lẫn nhau làm lại cuộc đời. Họ thường an ủi lẫn nhau rằng với cái tuổi của mỗi người chưa quá ba mươi, làm lại cuộc đời cũng không có gì là khó khăn lắm. Họ muốn cách mệnh tinh thần. Ngày trước là đùa dỡn, bây giờ phải đổi ra tôn thờ. Ngày trước là ích kỷ, bây giờ là tha thiết với mọi cái gì xảy ra chung quanh mình. Xưa kia đối với người với việc, họ đều nghi ngờ, rẻ rúng. Bây giờ Hoàng, Lưu, Nguyễn muốn phục hưng lại cõi lòng uể oải và mỗi người muốn nhận lấy một trách nhiệm. Trên tấm cửa gỗ, họ đã lấy phấn viết vào đây một câu: “Cái bí quyết của Hạnh phúc là biết nhận lấy Trách nhiệm”.

Ba đứa con hoang của Thời đại, ngày ngày tụng niệm câu mà chúng đã nêu lên làm trâm ngôn. Sớm rồi sớm, chiều lại chiều, Lưu, Nguyễn, Hoàng được yên tĩnh trong lòng để viết – họ là nhà văn viết – rất sốt sắng như một người biết qua cái nghề của mình. Và tin ở tương lai của nghề. Và cho rằng đùa dỡn với văn chương, với nghệ thuật là có tội.

Trong mấy tuần lễ, ba người sống chung bên cạnh nhau, chỉ để học, viết và bàn về giá trị trí thức. Bà chủ nhà tuy là dốt nát, nhưng cũng hiểu lầm rằng đấy là mấy cậu học sinh thi tú tài và khen thầm họ ngoan ngoãn không hay đi chơi đêm và phá phách ồn ào làm kinh động giấc ngủ của kẻ khác. Mỗi bữa cơm nước cho họ xong, bà thường vui vẻ nói chuyện với thằng nhỏ bằng câu mở đầu: “Chả bù với bọn học trò trước”. Bà chủ nhà, chặc lưỡi những tiếc có một đứa con gái đã trót gả chồng mất rồi, nếu không thì trong ba cậu này, làm gì bả chả tìm được mặt rể hiền. Trời đất ơi! Một người đàn bà cũ kỹ, căn cơ đã mến phục được lũ con cưng của thời bệnh.

Bằng cái phẳng lặng vui vẻ của công việc trứ thuật hàng ngày, Hoàng, Lưu, và Nguyễn nhất định tin yêu ngày hôm nay, tin yêu ngày mai và chôn sâu xuống tận đáy lòng những ngày xám xịt đã qua. Với cái chủ quan mới đối với cuộc sống, đêm ngủ của họ thường không bị đứt quãng như ngày trước. Ít lâu nay, tịnh không có một cơn mơ quái gở nào làm bận rộn tới giấc ngủ ngon lành của họ. Trông thấy họ ngủ mê mệt, má ắp nghiêng xuống bàn tay chèn vào kẽ gối, có ai dám ngỡ họ đã dăm tao bảy tiết làm con nuôi của tội lỗi. Giấc ngủ ngoan ngoãn kia, đến anh thợ cày cũng phải thèm tiếc. Và những kẻ chìm đắm trong trường sa ngã trong linh hồn họ được thư thái như thế, thường nổi lòng ghen ghét.

Bây giờ, Hoàng, Lưu, Nguyễn không dám sống về đêm nữa. Họ nghĩ đến những đêm trăng với hoa tàn héo cạnh bên ngọn đèn dầu lạc, họ lại kinh sợ như trẻ rất nghe chuyện yêu tinh. Họ tưởng chừng như thời đó đã xa lắm rồi. Từ nay, họ quyết sống lúc ban ngày để làm việc như trăm nghìn người lương thiện khác, làm việc cho đầy đủ rồi tối đến, ngủ giấc ngủ của người công bình.

Lắm buổi sớm, Lưu, Hoàng, Nguyễn vươn vai và ngáp xong một cách rất thừa thãi họ đều khen lẫn nhau: “Chúng ta độ này không đứa nào nói mê, nghiến răng và đạp tay chân như người giẫy chết nữa nhỉ!” Họ cười to quá. Mở mắt ra, họ đã lấy làm sung sướng ngay, dẫu rằng mở đầu cho ngày đó, người ta chưa thấy một dấu vui, một điềm lành. Hình như họ tìm ngay sinh thú trong sự ngạc nhiên thấy mình được dự một phần trong sinh sống của muôn loài.

Thế mà Tội lỗi vẫn chưa buông tha cho họ đấy. Thế mà quỷ Satan vẫn theo đuổi kẻ chân tu và cám dỗ hoài.

Bởi vì, hôm nay tết Trung Thu, một trời bão tấp gió mưa nặng nề đã giày vò tàn nhẫn đến lòng người biết nhớ cũ.

Đi đôi với trận mưa trên thành phố, trận mưa tuôn trong lòng người muốn tràn ra ngoài bằng giọt nước mắt. Than ôi! mưa gió ngoài rời, mưa gió trong lòng người.

Cả một buổi chiều hôm nay, Lưu, Hoàng, Nguyễn, tự nhiên, đâm nhớ cảnh giang hồ. Ở người họ, mỗi lúc lòng giang hồ đã nổi dậy, thế nào cũng có một chuyện kỳ quái lôi thôi xảy ra. Lấy một việc rất gần đây làm tỉ dụ.

Đầu năm nay, Hoàng ngồi bồi tịch một bữa tiệc rất long trọng ở trại bà huyện Mộc. Bấy giờ vào khoảng cuối xuân sang hè. Chiều hôm ấy, trời oi ả lạ.

Bà huyện Mộc vốn yêu Hoàng như yêu một người em út. Bà thấy Hoàng là người thông minh, sống một cuộc đời bất hạnh, không nhà cửa nhất định, bà thường lấy làm ái ngại. Hồi ấy, nhân Hoàng vừa mới đi xa về, bà làm một bữa rượu tẩy trần, mời những thân bằng cố hữu đến họp mặt nói chuyện. Thật là một dịp tốt cho người ta được gần nhau trong một hoàn cảnh ấm áp. Cái đinh của bữa tiệc, cố nhiên là Hoàng. Đang ăn uống vui vẻ, bên ngoài trời nổi sấm chớp, đổ một trận mưa dày. Từ lúc trời nổi giông gió, Hoàng ngừng tay gắp và đòi uống rượu suông rất nhiều, Hoàng không uống như thế. Tửu lượng chàng rất kém. Mặt chàng đỏ bừng bừng rồi chàng đưa tay bóp trán như một người biết lặng lẽ đau đớn. Bà huyện Mộc phải nặng lời gắt: “Thôi, Hoàng không được uống nữa”. Bất kể lời ngăn của người chị hiếm có ấy, Hoàng vẫn uống, lặng thinh không nói một lời. Mắt chàng sáng chiếu lên theo với luồng chớp ngoài sân mỗi lúc một mau.

Cả đám tiệc không hiểu gì. Duy chỉ có Lưu và Nguyễn đều rõ sự khủng hoảng trong tâm hồn Hoàng và đưa mắt luôn luôn nhìn nhau. Mặt Hoàng, bỗng tái đi; chàng đứng phắt dậy, ra mắc áo, với chiếc áo đi mưa của Nguyễn. Đáp câu hỏi bà huyện Mộc, Hoàng ngoái cổ lại tạ lỗi cùng mọi người và xin phép ra ngoài một chút. Bữa tiệc tàn đã xoay sang cuộc tổ tôm đến hồi thứ ba, thứ tư gì đó mà vẫn chưa thấy Hoàng trở lại. Lưu và Nguyễn trong lúc chờ bốc nọc hay đợi ù, vẫn đưa mắt hỏi nhau về thái độ Hoàng, Lưu và Nguyễn, giữa đám bài, ngồi buồn thiu như hai thỏi kẹo bột gặp tiết nồm. Thỉnh thoảng bà huyện Mộc xướng cây bài, lại kêu: “Quái nhỉ”. Đến đã khuya mưa vẫn không ngớt hột. Lúc người bưng cháo siu dè lên, Lưu và Nguyễn không ăn xin về. Lòng nhớ bạn và thương bạn làm họ ngang dạ. Trông thấy cái ấm áp của làn khói bát cháo nóng đùn đùn bay trong một mái trai ấm cúng, Lưu và Nguyễn đang tự hỏi thầm xem trong phút này, Hoàng đang ở đâu? Tuy là tiết hạ, nhưng mưa và gió cũng lạnh lắm chứ. Về đến nhà Lưu bảo Nguyễn: “Hoàng nó đi như thế này không biết bao giờ mới về”. Nguyễn nói thêm: “Mà hắn đi như thế, không bao giờ cho biết địa chỉ ở đâu. Lúc nào hắn nhớ chúng ta có dịp về được, là hắn về. Tôi còn lạ gì tính hắn. Cũng như tôi không lạ tôi có nhiều lần cũng điên ngộ như thế! Chao ôi! Chúng ta! Ai chịu được chúng ta. Trừ khi chúng ta ra về.”

Thế rồi mùa hè từ từ đi qua. Mỗi khi thấy hoa soan tây rụng tàn lửa bên đường giải nhựa, Nguyễn lại bảo Lưu: “Thằng Hoàng nó ghét màu đỏ này lắm. Cái thằng cũng lạ. Về thảo mộc học, nó cừ ra phết. Không biết nó tò mò tìm ở đâu mà biết chữ Hán gọi cây soan tây là phượng vĩ tùng”.

Thư từ ở các nơi gởi về cho Hoàng đã dày thành một tập xếp ở góc tủ sách. Mỗi tập thư còn nguyên vẹn. Một tập thư không có người bóc. Ngắm tập thư vô duyên, có khác gì ngắm một cảnh bờ sông nước trong vắt không có người tắm mà trên bờ cỏ, phất phơ manh áo vải còn nóng hổi hơi người.

Thế rồi mùa hè hết. Thế rồi gió bấc về, đem luôn cả Hoàng về, trả Hoàng cho Lưu và Nguyễn. Ba người ôm nhau. Cái mừng rỡ đã qua, Lưu và Nguyễn mới nhận ra Hoàng chỉ còn là một manh áo the rách. Mặt võ vàng và mái đầu điểm vài sợi chỉ bạc, Hoàng cất giọng nói khàn khàn: “Từ hôm tao đi trốn mưa, bỏ trại chị huyện, ở nhà có gì lạ không chúng mày?” Lưu và Nguyễn nghẹn ngào, nhưng cố làm ra giọng cợt nhả, đồng thanh trả lời: “Thiếu mất có một mày, mọi cái đều trở nên vắng vẻ”. Hoàng kêu đói, Nguyễn tìm ở đáy nồi một miếng thịt bò kho thao quả, đưa cho bạn tội nghiệp với một câu trách móc âu yếm: “Mẹ kiếp, cứ bao giờ ốm và đói thì ông mới lại gặp mày. Gọi hàng bánh tây mà ăn. Số mày vẫn phong lưu. Ban nãy, thằng Lưu và tao ngon miệng đã định ăn hết, không biết tại sao lại còn sót lại miếng thịt nhỉ! Như thế, đủ biết còn lâu mày mới ăn mày được. Chóng ăn cho khỏe đi, rồi lại đi trốn mưa như thế nhé! Khổ lắm bố ạ”.

Thực vậy, họ đều cảm thấy cái khổ của cuộc đời không có tổ chức. Bởi thế nên từ hôm đoàn tự lại, họ mới nguyền cùng nhau phải làm lại cuộc đời.

Nhưng, như hết thảy người ta vừa rõ đấy, cái yên tĩnh hàn gắn, bồi đắp, mất bao gắng gỏi chỉ đậu được mấy tuần lễ.

Cuộc sống êm đềm của Lưu, Nguyễn và Hoàng, ít ngày gần đây tựa như cái bình tích chốc lát của mặt bể lặng mà phía dưới vẫn có sống ngầm muốn nhô đầu lên.

Những kẻ giang hồ có say sóng, thì chỉ quị ở trường hợp đi trên mặt nước có sóng ngầm và trong nghề hàng hải những con tàu lớn thường hay đám bởi nguồn sóng ngầm cứ dồn thúc mãi vào sau lái đít tàu.

Chiều hôm nay, sóng ngầm nổi dậy, trong lòng ba đứa trẻ chỉ muốn hối hận mãi để làm lại cuộc đời. Thấy sức mạnh của cơn bảo cứ giăng thêm mãi, Nguyễn chọn bộ quần áo sang nhất, ướm màu áo cho điều hòa với màu cà-vạt và loay hoay đánh mãi đôi giầy đen. Chàng lầm bầm:

Tiếc thiếu mất một cái áo đi mưa.

– Trời gió bão, đèn đường tắt, đường ngập, mày định đi đâu?

Lưu vừa hỏi, vừa lòm ngòm từ giường bò ra. Chàng năn nỉ Nguyễn:

– Ở nhà đi ngủ sớm. Như thế hơn.

– Ừ, mày cứ đi ngủ sớm hơn mọi ngày. Tao chạy đi đằng này một tị. Một tị thôi mà.

– Đi đâu thế, Nguyễn? Hoàng giật giọng hỏi:

Nguyễn nheo mắt nhìn thẳng vào mặt bạn như muốn báo: “Khốn nạn, đến như mày đã có lần trốn mưa mất mặt mất mấy tháng tròn, mà mày cũng hỏi ta câu ấy nữa sao? Suy bụng mày, mày sẽ biết bụng ta. Hà tất phải nhiều lời. Có muốn đi thì mặc quần áo vào rồi theo ta đi tác-ác. Còn vẽ vời hỏi han mãi”. Hoàng như hiểu ý, miệng huýt sao, chân sỏ giầy. Nghĩ đến câu “đi một tị”, Hoàng mỉm cười.

– Tao cũng phải đi một tị. Thằng Lưu ở nhà, tao về ngay đấy.

– Nguyễn đi thằng Hoàng cũng đi. Thế tao ở nhà một mình làm gì?

– Thì cũng đi luôn với hai đứa chúng tao. Đồ ma bùn! Mè nheo suốt ngày.

Hình như bọn họ đã quên mất lời thề thốt bữa nọ. Họ không tiếc cái công làm người đứng đắn được mấy tuần nay. Con ngựa bị tù chân trong tàn cỏ khô, vẫn nhớ màu xanh non chỗ ria đường dài thăm thẳm. Bây giờ nó muốn chấp cả cương lẫn vế, nhất định đòi bon trên con đường cũ.

Lưu, Nguyễn và Hoàng vẫn thiết tha muốn làm người đứng đán. nhưng, đem gạn máu họ, người ta vẫn tìm thấy còn nhiều cái trụy lạc. Việc tổ chức lại cuộc đời, đến phút này vẫn là cái mộng xinh xinh. Nó đẹp như cái bọt xà phòng ngũ sắc mà trận gió bão đêm nay thổi vỡ.

Thăm dò lòng mình xem có nhận thấy tiếng can ngăn của lương tâm thì, Lưu chỉ vẳng nghe như ai đang bấm khẽ một bản đàn cũ, một bản đàn mà nhạc điệu đã dập theo tiếng gió rít và hơi mưa bay, và ca ngợi đời cầu bơ cầu bất. Biết bao nhiêu say mê trong sự phóng túng hình hài đã được nhắc tới. Lưu thở dài, muốn kêu lên một tiếng cũng dài như hơi thở. Ý chừng, chàng muốn nói với chàng một câu tâm sự. Rằng: ta chơi nốt đêm nay nữa cho gió mưa phải chắn mặt người phong sương. Sao người ta hay dối cả với người ta thế! Chàng ngâm:

Giang hồ… một chút ân tình cũ

Hoàng và Nguyễn cũng bắt lại câu đó và lúc ngâm xong đều một lượt, chế nhạo Lưu:

– Với tư tưởng lãng mạn và giọng uyển chuyển ấy, giá làm đàn bà thì chung thân chỉ đánh đĩ với đời thôi, em ạ!

Đêm hôm nay, Lưu, Nguyễn và Hoàng định tìm một quán rượu. Nhưng cuộc say cho nên trong một gian nhà giột ở xóm Vạn Thái, Lưu, Hoàng và Nguyễn đang tìm cảm giác mới (!) giữa cảnh bài trí của Trụy lạc. Họ thấy cả xóm, không có một linh hồn làng chơi nào, họ lấy làm hả vô cùng. Quần áo bị mưa tẩm ướt, họ mượn coóc-xê của con hát để cho ấm thân thể bị giá lạnh. Người nhớ chuyện “Tam quốc”, tưởng họ là lũ quan đầu hàng nhà Hán và bị Gia Cát thừa tướng cho mặc quần áo đàn bà gởi trả lại cho Tư Mã Ý để làm nhục nhau chơi. Đèn đóm trong nhà hát không có, họ thắp nến. Một mùi tử khí phảng phất bao trùm lấy ba đứa đãng tử. Những tiếng cười chán chường làm lung lay ánh sáng ma chơi của ngọn nến lờ mờ. Lúc mới bắt đầu đi, thấy đèn đường phố tắt ngấm, thấy cây cổ thụ bật rễ cái, thấy dây điện cuốn cành đa, Hoàng nói oang oang trong mưa lạnh:

– Những đêm giông tố như đêm nay, cái lòng đạo đức chỉ còn như một sợi tóc thôi. Những đêm như thế này, người ta hay nghĩ làm tội lỗi. Tại sao hung thủ không giết người trong đêm bão? Mưa sẽ gột hết vũng máu và dấu vết in trên mình xác chết đều được trận bão lau chùi sạch. Ha, ha!

Photo: Woman Smoking Opium, Hanoi – French Indochina circa 1915, by Léon Busy