Phan Khôi, Tản Đà và chúng tôi (1971), Tam Ích viết

Bài viết của Tam Ích đăng trên Văn học,
số 122, xuất bản năm 1971


Nếu có phải quen ông Tản Đà thì các anh Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Trương Tửu, Lưu Trọng Lư… quen nhà thi hào ấy hơn tôi. Nhưng nếu nói về kỷ niệm, thì đối với cụ Phan Khôi có đôi điều hơi khác, hình như vậy! Nói khác đi, có một việc để lại trong lòng tôi một kỷ niệm chua chát để hận trong lòng tôi cho đến ngày tôi sẽ gặp cụ Phan Khôi dưới chín suối – còn cái chuyện có ngậm cười hay không ngậm cười dưới suối vàng, lại là một chuyện khác…

Nhưng trước khi kỷ niệm, tôi xin thưa đôi điều, để trả một món nợ tinh thần mình trả cho chính mình.

a/ Người ta thường nói “Quảng nam hay cãi, Quảng ngãi hay co, Bình Định… và khi nói thế là người nói có ý nói người Quảng Nam hay cãi đây là cãi chày cãi cối. Đó là một điều sai lầm khủng khiếp: đất có Ngũ-Hành-Sơn là đất phát sinh ra người thông minh – chả thế mà có Ngũ Phụng Tề Phi! – họ cãi nghĩa là họ không tuyệt đối chấp nhận lời nói người khác; nói một cách khác óc phê-phán họ phát triển đến cực độ. Ở đời không có ai… u mê bằng những người chấp nhận lời thiên hạ, kể cả thánh hiền mà coi nó như giáo-điều: cái bịnh giáo-điều làm hại sự tiến hóa của tư-tưởng loài người không kể sao cho hết! Phật còn phải nói “ngón tay chỉ trăng không phải là trăng” kia mà!

b/ Cái câu “si jeunesse savait si vieillesse pouvait” chẳng phải là câu bâng quơ. Người thanh niên bao giờ cũng hiếu thắng và khi nói ra cứ in trí là mình đúng. Khi về lúc nhiều tuổi mới thấy mình đã… lố. Đã lố là có… hại – đã có hại là gieo điều thất đức! Đó là trường hợp của kẻ viết bài hồi ký này. Tôi nhớ rõ ràng, một hôm tại giảng đường đại học Vạn-Hạnh, có một sinh viên đại-đức hỏi tôi rằng tôi quan niệm sự nghiệp-báo ra sao. Tôi trả lời không cần nghĩ: “thưa anh, con người không bao giờ linh hơn vạn vật, con người chỉ thông minh hơn vạn vật mà thôi, linh khác, thông minh khác; đã mang cái cơ thể bằng xương thịt và chứa tâm can tỳ phế lục phủ ngũ tạng bèo nhèo bầy nhầy (có lẽ là chữ Visqueux trong hiện sinh luận đó!) thì ai cũng làm tội lỗi, điều mà thiên chúa giáo gọi là péché: lớn nhất là đút đàn bà trẻ con vào “Gour crémantoire” và tàn sát người không gớm tay, nhỏ nhất là làm chết một con ruồi; và ở vào “cỡ” giữa hai cái lớn cái nhỏ ấy là nói một câu làm thiên hạ đau xót… Thưa anh, có kẻ ra pháp đình đền tội, hết tội rồi thì ra tù; chứ kẻ khác làm những thứ tội không có ghi trong sách luật pháp thì là vô tội vạ à? Thưa các anh chị, có một cái vạn hô kính, một cái vạn vạn vạn hoa kính có hằng hà sa số sự trừng phạt khác, cái bản chất khác, cái cỡ khác, cái trình độ khác, cái bề dài, bề ngang, khác cái kích thước phóng vào con người chứ! Chứ! Tôi thì tôi… nghĩ một cách triết lý quê mùa vậy đó, tôi quan niệm đó là một hình thức của nghiệp báo”

Tôi nhớ rõ hôm đó, thầy trò chúng tôi ở giảng đường đại học trầm ngâm đăm đăm, ai cũng có một ý tưởng trong đầu – băn khoăn, khó hiểu, ừ nhỉ lạ quá nhỉ, ừ nhỉ kể cũng có lý, ừ mà có lý làm sao, ừ mà phải tu a tăng kỳ kiếp mới hết được nghiệp đi chăng! Đúng như nhà Phật nói:

Xin thưa lại: người trẻ tuổi làm nói trước là làm là nói trước đi, mà kể cũng khó nghĩ đấy. “Lịch sử làm bằng thanh niên tính và lầm lẫn” (L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!). Ngày nay nhiều tuổi, tôi đã hối hận hằng hà sa số điều – trong đó có điều đối với người đáng kính Phan Khôi mà ông Tản Đà đòi chém – và kêu là cái nạn Phan Khôi – vào giữa tiền bán thế kỷ hai mươi.

c/ Chúng ta thường đòi chính quyền cho tự do ngôn luận – nghĩa là đòi chính quyền chấp nhận ý-tưởng và lời ăn tiếng nói đối lập của quần chúng. Tại sao giữa người và người, giữa cá nhân với cá nhân, giữa đoàn thể với đoàn thể, lại không chấp nhận nhau một cách vui vẻ tự-do ngôn-luận. Cứ có ai nói ra một ý gì thì đã có mắng, có chửi, có công kích, có cho là sai, có cho là lầm… lầm thế nọ lầm thế kia. Đôi khi còn mạt sát nhau nặng lời! Ông Phan Khôi mới chạm tới Hán nho Tống nho thì Tản Đà đã đòi chém rồi – chỉ vì Tản Đà cho rằng Phan Khôi hỗn với tiên-hiền – kể cả Chu-Hy, Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo… không lẽ các ông Trình ông Chu toàn thiện toàn mỹ đến không có điều gì đáng trách đáng cho chúng ta ngày sau gọi là tháng! Thánh trong như ngọc, trắng như ngà, tâm can tỳ phế làm bằng pha-lê! Chu Trình đối với Tản Đà là hiền-nhân quân-tử; vậy chứ Tản-Đà đối với người ba trăm năm sau đây là thánh hiền đó à? Chỉ nghĩ thế, đã thấy ông Tản Đà và thấy chính con người chúng ta là… kỳ cục.

Thưa: Con người chẳng linh mà cũng chẳng thông minh: con người chỉ là một sinh vật phi-lý không biết rằng mình là cái gì, yếu tính mình ở đâu, suốt đời dối người và dối mình! – điều mà Jean Paul Sartre nói quanh quẩn mãi mà nói không có lối ra, nói không hết! Không hơn không kém!

Bây giờ rào đón rồi, tôi mới xin nói chuyện ông Phan Khôi và tôi: ông là người rất thẳng, rất trực, rất trung thành với ý tưởng của mình, không sợ dư luận – không sợ chết. Tôi quen cả cụ, mà lại thân cả với con cụ là anh Phan Thao, nghe nói sau này là một nhân vật quan trọng trong mặt trận Việt Minh, vì ngày xưa chúng tôi cùng dạy với nhau một trường.

Số là năm 1936, có ở toàn cõi Đông dương phong trào Đông dương đại hội tưng bừng rộn rịp. Có thể nói là trong lịch sử dân tộc Việt nam, đó là một chuyện hiếm có, hiếm đến có thể không xảy ra đôi lần, hiếm mà không túm lấy kịp thì không bao giờ trở lại! Nói khác đi, đó là một phong trào gần như là có một không hai trong lịch sử. Anh em ở Huế mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham dự: cụ từ chối. Trong cái Ủy ban lâm thời ở Trung Việt, có cụ Phan Khôi và ông Võ Đình Thụy lúc đó là dân biểu Trung Kỳ. Cái Ủy ban lâm thời có cả bạn Lạc Nhân Nguyễn quí Hương ở trỏng, chỉ còn chờ làm xong nhiệm vụ, sơ thảo đồ án, họp đại hội chính thức, giao lại cho Ủy ban chính thức, rồi từ chức để cho phong trào nẩy nở, trưởng thành, và nuôi cho nó lên vùn vụt cho dân tộc Việt nam nhờ!

Không ngờ: “thiên ký sinh Du hà sinh Lượng”, có anh Hải Triều, người đã cùng với Hải Thanh, Hải Vân, Hồ Xanh, v.v… tranh luận về duy tâm và duy vật với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư. Kẻ viện Plékanov, Boukharine, kẻ viện Gide, Valéry… – thực ra cái viện thiên hạ để củng cố ý kiến nầy chỉ có một tác dụng là tỏ cho thiên hạ biết rằng mình dở mà thôi: Việc gì lại cứ phải viện thánh hiền đông tây nói đôi điều mà chính mình hiểu được, niệm được – có phải chỉ có thánh mới có được cái mớ ý tưởng ấy đâu kia chứ hở trời!

Nói cho có lý, nói cho hợp lý, nói cho nghe được vào lỗ tai, nói cho thông minh thừa nhận, thế là được, cần gì cứ phải vác Boukharine, Gide ra để làm ra vẻ ta đây có đọc thiên kinh vạn quyển!

Hải Triều với Phan Khôi là mặt trăng và mặt trời! Tôi là người đại diện cho tỉnh Vinh (Nghệ an) cũng có mặt tại Huế – tôi vào phe Hải Triều cho đó là một điều hãnh diện! Mà nào 22 tuổi đầu, tôi đã biết “mạc-xít” là gì cho ra đầu ra đuôi đâu! Là mạc xít, là đệ tam, là tả phái… lúc đó là một cái mốt – một thứ thời thượng, người ta theo nó cũng như mặc áo gấm.

Chả biết giữa hội nghị, tranh luận ra sao, mà cả thính đường đả đảo cụ Phan Khôi và đòi đuổi cụ ra khỏi phòng. Tôi, Tam Ích, cũng đứng lên, dơ tay, đả đảo! Cụ thản nhiên cầm nón đứng lên đi ra giữa sự đả đảo ồn ào. Mà thực ra, thì Hải Triều là mạc-xít còn cụ Phan thì cụ không theo giáo điều nào hết. Nho giáo kia đã nặn cụ thành cụ mà cụ còn nói phải quấy nên chăng, huống là!

Chuyện Đông dương đại hội, chuyện Godart rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì chính quyền thực dân cấm họp nữa. Thế là hết: ai về nhà nấy. Tôi còn nhớ cụ Phan Bội Châu cho tôi hai đồng bạc, cụ Tú Kiên cho hai đồng, làm lộ phí trở về Vinh. Về đến Vinh, tôi viết bài công kích cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chối tham dự đại hội (Vì ý anh em muốn có sự có mặt cho có uy tín) và một bài công kích ông Phan Khôi đăng ở báo Việt-Nam ở Saigon. Mới có 22 tuổi đầu, nói hăng lắm: trình độ hỷ nộ ái ố đều cao cao!

Năm 1938, tôi (đã vào Saigon rồi) cùng dạy Pháp văn tại trường trung học Chấn Thanh với cụ Phan Khôi và con cụ là anh Phan Thao cùng với anh Phan Ngọc Châu hiện là giáo sư trường Văn Hiến cùng với anh Phan Khoang mà ngày nay làm giảng sư đại học văn khoa.

Cụ Phan Khôi hình như đã là người thiên cổ rồi!

Ngày nay tính sổ nhân sinh tôi có hai thứ tôi đã làm, một việc vào năm 1936 mà người ta gọi là snob – ít nhiều thôi. Cho đến năm 1946 tôi đã làm một việc cho khỏi thẹn với con dân đất nước: tù tội tra tấn rồi việc lôi kéo việc, việc này lôi kéo việc kia, cái sử-tính cá nhân của con người tôi dài dằng dặc, thỉnh thoảng tính sổ kế-toán – công ít, tôi chẳng biết là bao nhiêu, chỉ biết cái tội bất-bình với cụ Phan Khôi cũng là tội lớn. Ngày nay, đã có hai thứ tóc, sân khấu thuộc về những bạn thanh niên từ Pháp về: Nguyên-Sa, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Bùi Xuân Bào… học thức có dư sinh tố có thừa, đủ kích thước làm lịch sử, thay thế hệ cũ – đã cũ! Rien ne vaut une vie: đời người là một cái dốc cho người leo hộc máu mồm ra, toát mồ hôi hột ra đời người còn là những phút ân hận làm mất giấc. Une vie nevaut rien: ba vạn sau ngàn ngày, thưa cụ Phan Khôi, cụ nằm xuống cục đất phóng lên trên mồ xanh, nghìn thu vĩnh biệt. “Trăm năm dũ áo chốn tuần ai, còn gì mới là được!” thưa cụ Phan Khôi?

Thưa Cụ Phan câu đó là câu của ông Tản Đà trong bài “Cờ bạc” – cái ông ngày xưa định chém cụ đó!

André Mabraux nói cái câu tiếng Pháp ấy là nói cho cả hai ông đấy: cho Phan Khôi và cho Tản Đà!

Cho cả chúng ta, ai tai!
Một mớ Sisyphe! Sắc sắc không không, có gì mà bắng nhắng kìa!

Giáp tết Tân Hợi.
Tam Ích

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s