Hồ Hữu Tường về Khái Hưng

Bài Khái-Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của “văn chương sáng giá” của Hồ Hữu Tường, đăng trên Văn, số 22, năm 1964.


Mười tám năm qua, Khái-Hưng từ giã cõi đời, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Một đôi người biết những việc mà Khái-Hưng và tôi trù liệu vào những tháng chót của năm lịch sử, 1946, càng tiếc hơn nữa. Phỏng cho Khái-Hưng còn sống mười năm nữa thôi, thì tờ báo văn-nghệ Thời Phong, lúc ấy vừa kết thai, sẽ viết những trang gì trong lịch sử văn chương ở nước nầy? Rồi họ giục tôi nhắc lại khoảng đời đó của Khái-Hưng. Để cho những tài hoa hậu sinh nào thích thú thì dẫm bước theo con đường mà tác giả Hồn Bướm Mơ Tiên toan dấn thân vào…

Khái-Hưng tìm làm quen với tôi trước. Lúc ấy, tôi ở Hà-nội, trốn trong một cái phòng, không bước chơn ra ngoài, vì sợ trinh sát Việt-Minh gặp mà nguy cho tánh mạng. Ở trong phòng tôi bị ám ảnh bởi thần chết. Để đánh tan cái ám ảnh ấy, tôi viết. Viết sách phổ thông với mục đích là kiếm tiền để sống. Viết sách tư tưởng không cần xuất bản. Mỗi cuốn sách đều mang một bút hiệu khác nhau. Và với bút hiệu Huân Phong, tôi viết quyển Muốn làm chánh trị, viết để chơi, không cần xuất bản. Quyển nầy được một nhóm nhỏ sinh viên thích, họ chuyền tay nhau mà chép lại mỗi người một bản để giữ làm kỷ niệm và cho người thân yêu đọc mà thôi.

Không biết do ai tọc mạch mà Muốn làm chánh trị lọt vào tay Khái-Hưng. Theo lời của Khái-Hưng nói lại, Khái-Hưng đọc mê say một mạch. Và không tìm xin phép tác giả, Khái-Hưng đã trích một khúc rất dài mà đăng trong tờ tuần báo Chính nghĩa lúc ấy được Khái-Hưng coi sóc việc biên tập. Khúc ấy tựa đề là “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca“. Những độc giả cũ của Chính nghĩa chắc có nhiều người còn nhớ bài ấy. Lúc ấy, tôi đã viết ít nhiều sách phổ thông, song chưa sáng tác gì về văn nghệ, nay được một nhà văn có tên tuổi là Khái-Hưng để ý đến như vậy, tôi không khỏi có chút vui mừng.

Mấy tháng sau, Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà sách Minh Đức tổ chức những cuộc gặp gỡ hàng tuần giữa những nhà văn “không xếp hàng” tức là không ở trong Văn Hóa Cứu Quốc của Việt minh, thôi nhóm Hàn Thuyên, và thôi Tự Lực Văn Đoàn… Những người đầu tiên được mời là Tú Mỡ, Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Phạm Ngọc Khuê và tôi. Sau đó có thêm Phan Khôi, Đồ Phồn. Thỉnh thoảng có cả Vi Huyền Đắc…

Sau ba bốn lần hội, thình lình có Khái Hưng đến, có ý trách chúng tôi sao không mời anh, vì mặc dầu điều khiển tờ nhựt báo Việt Nam và tờ tuần báo Chính Nghĩa, cả hai toàn là cơ quan của V.N.Q.D.Đ., song ấy vì tình bạn với anh Tam mà làm, chớ bản thân của anh là một người “không xếp hàng” trong mặt trận văn hóa. Chúng tôi công nhận anh ngay vào nhóm. Và chiều thứ bảy nào, anh cũng đến dự buổi ăn chung. Khác có điều là vào mười hai giờ khuya, anh phải về lo bài cho báo. Chúng tôi thì ở lại, thức cả đêm để trao đổi cái thú vui của văn nghệ.


Khái-Hưng hiền lành, ít nói, hay cười, chớ không nghịch như Đoàn Phú Tứ, ranh mãnh như Nguyễn Tuân. Ăn xong, chúng tôi tự do, hoặc tụ một nơi, hoặc nhóm thành vài ba nhóm nhỏ. Có khi hai người muốn thân mật thì kéo nhau vào một phòng riêng mà tâm sự. Tú Mỡ và Nguyễn Xuân Khoát thích hát chèo, thì ngồi ngay dưới gạch, tay vỗ lên gạch lấy nhịp mà cùng hát. Nguyễn Tuân bữa nào cũng say, hết bên nhóm nầy, thì đến nghe chuyện của nhóm khác.

Khái-Hưng trầm tĩnh, tò mò và sâu sắc hơn cả, thường gầy những cuộc nói chuyện tay đôi với tôi để truy tôi về những gì mà tôi đã viết trong Muốn làm chánh trị. Về sau anh thú nhận: những bạn khác thảy là người quen lâu rồi và anh đến đây để hiểu rõ tôi hơn.

Điều mà anh thắc mắc hơn cả là tôi có nhiều ý kiến khác thường về cuộc tranh biện sôi nổi, vào những năm 1935, 1936, đối lập bên này là Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư, bên kia là hầu hết những cây bút có tiếng của phái mác xít, thì tại sao, lúc ấy là một lý thuyết gia của Đệ Tứ, tôi lại không tham chiến?

Tôi nhắc lại vấn đề nầy, bởi vì gần đây, ở Pháp, vừa diễn ra cuộc tranh biện giữa một bên là J. P. Sartre, một bên là những chiến sĩ của “tiểu thuyết mới”. J.P.Sartre phân biệt người “écivant” và nguồn “écrivain“. Thật ra danh từ thì mới, song ý niệm vốn có nguồn gốc nơi hai phái, l’art pour la viel’art pour l’art đã rạch ranh giới giữa hai phái văn sĩ có tiếng vào nửa thế kỷ sau của thế kỷ mười chín.


Tôi đáp lại rằng, theo tôi thấy, thì có ba loại văn nghệ chớ không phải là hai. Nhưng trong hoàn cảnh năm 1935, đặt vấn đề có ba mà không phải có hai là sớm quá, làm loạn tư tưởng của công chúng, chớ không giúp họ tiến thêm; vì vậy mà tôi nín.

H. – Bây giờ anh có thể nói thêm được chưa?

Đ. – Được. Sau gần một năm cách mạng, nói ra, ai cũng thấy rõ. Ba thứ văn nghệ ấy là: một là văn nghệ du hí, hai là văn nghệ ca tụng, ba là văn nghệ sáng giá. Vào thời bình hay thời phản cách mạng, hai thứ văn nghệ trước phồn thịnh hơn. Nhà văn viết để chơi, mà công chúng cũng thích loại văn ấy. Thứ văn nghệ du hí nầy là cả cái hệ thống nghệ thuật vị nghệ thuật… Có nhà văn viết để ca tụng, nịnh nọt, hoặc nịnh nọt chế độ, hoặc nịnh nọt người có quyền, hoặc nịnh nọt thị hiếu suy đồi của độc giả…

H. – Còn cái văn nghệ sáng giá là gì?

Đ. – Sáng là sáng tạo. Giá là giá trị. Một áng văn chương có tánh chất sáng giá là khi nào nó sáng tạo được một giá trị mà vào thời đại đó, được xem là một giá trị mới. Thành ra áng văn chương ấy hướng dẫn tư tưởng con người, dìu dắt lịch sử, lãnh vai trò tiên phong.

H. – Anh thử nêu vài thí dụ xem.

Đ. – Anh vốn biết quyển Nourritures terrestre của A. Gide, xuất bản trước giặc, mà trong mười mấy năm, chỉ bán có hai trăm quyển thôi. Vì nó nêu những giá trị có trước thời đại. Chừng công chúng tiêm nhiễm được thì ai cũng mua đọc. Một thí dụ khác: những tác phẩm của Gorki đã sáng tạo được một tâm hồn cách mạng. Song, cũng ca tụng xã hội chủ nghĩa như Gorki, mà các nhà của phái réalisme socialiste sau nầy không sáng tạo giá trị mới nào cả. Họ chỉ thuộc vào loại văn nghệ ca tụng.

H. – Như vậy, tánh chất của văn nghệ là một tánh chất tương đối, tương đối với vị trí của nó với sự biến đổi lịch sử. Phải không?

Đ. – Phải. Nước ta là một nước lạc hậu. Dân ta phải luôn luôn đi hia bảy dặm mới rượt theo kịp các dân khác. Một văn phái là một huyền-ngưng của một hệ thống giá trị luôn luôn biến đổi…


Lần sau, Khái-Hưng bộc bạch những suy tư mà anh đã có sau khi có cuộc nói chuyện trước. Anh nói:

– Những giá trị mà Tự-lực Văn-đoàn sáng tạo ra, xuyên qua thời cuộc, đã hóa ra lỗi thời. Ngày anh Tam rời văn nghệ để sang làm chánh trị cũng là ngày lịch sử ghi dấu chấm dứt sứ mạng của nhóm. Cuộc cách mạng đã dọn chỗ cho một trào lưu mới về văn nghệ. Bọn Văn-Hóa Cứu-Quốc nay đóng vai trò văn-chương ca tụng để tô điểm tòa kiến trúc mới là chế độ cộng sản. Tôi nghe chừng chúng ta, vì chống báng chế-độ, chúng ta phải sáng tạo những giá trị mới, làm một thứ “văn-chương sáng giá” như lời của anh. Phải có giá trị mới mới thắng họ được. Chớ lấy giá trị cũ mà chống họ, không nổi. Tôi hiểu tại sao anh rời bỏ Đệ Tứ. Còn ôm ấp giá trị giống với giá trị của họ, Đệ Tứ là thiểu số, làm sao chống lại số đông là họ. Phải có bửu bối hay hơn họ, mới thắng họ nổi. Tôi đã đăng bài “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca” vì thấy nó có duyên, pha một ý nghĩ hay hay. Bây giờ tôi mới hiểu tất cả giá-trị tượng-trưng của đoạn văn ấy.

Từ đó, Khái-Hưng và tôi hóa ra kẻ tri âm. Khái-Hưng rủ tôi cộng tác viết tiểu thuyết, cốt chuyện, triết lý do tôi xây dựng, Khái-Hưng lãnh phần trình bày cho có nghệ thuật. Tôi có xây dựng một ít nhân vật, phác một cốt chuyện, đặt tên tiểu thuyết là Gái nước Nam làm gì? trong tạp chí Tiên-Phong của Hội Văn-Hóa Cứu-Quốc, nhà xuất-bản Minh-Đức đã cho quảng cáo rầm rộ tên quyển tiểu thuyết này, gọi là để cấm ranh mà khẩn đất… Sau nầy về Nam, để tưởng nhớ Khái-Hưng, tôi thử viết để tả một vài nhân vật mà tôi đã xây dựng. Rồi dưới cái nhãn hiệu chung là Gái nước Nam làm gì? tôi đã trình bày được hai nhân vật là Thu Hương và Chị Tập. Sự ướm thử nầy để cho tôi thấy là tôi không có tài viết tiểu thuyết, nên tôi không nối tiếp nữa.

Khái-Hưng già hơn tôi, song say mê, hăng hái, kiên quyết hơn tôi nhiều. Sau khi đình bản tờ Việt Nam, anh chạy vốn, mướn nhà, mua giấy… để cho ra một tuần báo văn nghệ hầu đề cao cái “văn chương sáng giá”. Chúng tôi đồng ý chọn tên là Thời Phong.

Thời Phong có nghĩa là gió mùa, gió mùa ngự trị cả Á-châu, là nơi chôn nhau cắt rún của các tôn giáo lớn. Thời phong có nghĩa là cái chỉ hướng gió. Hiểu một cách khinh miệt, thì nghĩa bóng của tiếng ấy dùng để chỉ bọn luôn luôn hướng theo thời cuộc. Còn hiểu một cách đề cao, thì đó là một dụng cụ giúp cho người vượt biển biết hướng gió mà giương buồm cho đúng phép.

Mười tám năm qua, Khái-Hưng không còn. Chỉ còn cái sự nghiệp khi là đồng trụ của nhóm Tự-lực Văn-đoàn. Còn cái mộng to làm vị nguyên soái của “văn chương sáng giá” thì ô hô, liệu hai quyển Thu Hương Chị Tập có chút giá trị gì miên trường để nhắc nhở lại tên bộ tiểu thuyết trường giang là Gái nước Nam làm gì?

Hồ Hữu Tường
31-X-1964


Photo: HANOI 1946 – Le Petit Lac, manhhai

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s