Hồ Hữu Tường, Bốn mươi mốt năm làm báo – Chương khai diễn

Đánh máy lại phần Chương khai diễn – Khi chưa mọc lông, từ hồi ký Hồ Hữu Tường, Bốn mươi mốt năm làm báo, do Trí Đăng xuất bản, năm 1972.

Tập hồi ký nầy chánh thức khởi từ tháng Năm dương lịch năm 1930, lúc mà con chim non vỗ cánh bay vào làng báo. Nhưng cần nhắc về lắm việc đã xảy ra trước đó. Ít lắm từ đầu năm 1926.

Tôi đã biết đọc báo từ năm 1916. Đọc trong tờ tạp chí rất khô khan của Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác là Nam Phong. Cha mẹ tôi là tá điền của người cậu bà con, nhà gần nhà tôi, và làm hội đồng. Vì cái chức hội đồng ấy, cậu bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy. Nhưng trong nhà chẳng ai thèm đọc. Mỗi tháng, anh trạm thư đem đến một số. Nó liền bị ném vào góc, tha hồ ai muốn dùng cách nào thì dùng.

Đáng lẽ tờ Nam Phong chịu chung số phận với một tờ báo khác, mà tôi quên bẵng tên đi. Nhưng mà, những người đàn bá thấy trong Nam Phong có phần chữ nho, họ bảo là chữ của thánh hiền, không nên làm ô uế, nên tạp chí của Phạm Quỳnh tránh khỏi số phận bị ném vào cầu xí. 

– Thằng Thuộc mầy muốn lấy thì lấy, hai người chị dâu của cậu Sáu tôi cho phép tôi làm chủ tạp chí nầy.

Tôi đem về nhà, nằm lên võng, đưa kẽo kẹt mà đọc những bài khó khăn, chẳng hiểu chi ráo, để mà biết những danh từ lạ. Và để trưa trưa, đọc chán quá, ngủ một giấc ngon lành. Nào có dè Nam Phong gieo vào đầu óc tôi quá nhiều chữ nho, hại tôi mang một chứng bịnh mà Phan Văn Hùm đặt tên là “tân hủ nho” sẽ nói tới sau nầy.

Mãi đến chín năm về sau, vào cuối năm 1925, tôi mới biết thích và mê đọc báo. Tờ báo có cái công ấy là tờ Đông Pháp Thời Báo của ông cựu hội đồng Nguyễn Kim Đính, tức là thân phụ của anh Ngọa Long ngày nay. Và cơ hội làm cho tôi mê tờ báo nầy là vụ án của Phan Bội Châu. Nhà cách mạng tiền bối nầy hoạt động ra sao, xuất ngoại thế nào, tôi chưa hề biết. Ngay đến tên tuổi của cụ, tôi cũng chưa từng nghe. Đùng một cái như tiếng sét nổ bên tai, cả trường trung học Cần Thơ, nay là trường Phan Thanh Giản, được tin cụ bị đưa ra tòa Đề Hình Hà-nội mà xử. Đông Pháp Thời Báo đăng tải vụ án Phan Bội Châu với đủ mọi tình tiết ghi chép mọi câu vấn đáp, đọc qua, tôi thấy lòng tôi sôi nổi vô cùng. Rồi từ đó, ngoài bài tường thuật vụ án, chúng tôi có cảm tình với những bài khác, và trở nên độc giả sốt sắng.

Trong đám độc giả sốt sắng, có anh Trần Thiêm Thới, sau nầy có hợp tác với thi sĩ Đông Hồ mà xuất bản một tạp chí. Anh vóc cao nghều nghệu, và là người Hà-tiên. Chúng tôi đặt tên anh là cây tre Hà-tiên. Sau nầy khi vào làng báo, anh giữ tên ấy và ký là Trúc Hà. Anh Thới đề nghị ra một tờ báo trường. Báo đặt tên là gì nay tôi cũng quên mất. Mỗi tuần xuất bản một số, viết bằng tay, và bai ai nấy viết. Trong bộ biên tập, ngoài anh Trúc Hà, nay còn nhớ có anh Nguyễn Văn Cưng, anh Trần Ngọc Diệp và anh Ung Văn Khiêm. Cái may cho anh Trúc Hà là anh sớm chịu ảnh hưởng của Đông Hồ, nên sáng tác những bài thơ không nhuộm màu sắc chánh trị. Còn cả thảy các mặt khác đều bị ảnh hưởng của tờ Đông Pháp Thời Báo, nên đua nhau mà viết bài nặng mùi ái quốc. Báo hại, sau cuộc tranh đấu, tờ báo lọt vào tay của ban giám đốc, mấy ký giả tí hon bị đuổi hết. Anh Trúc Hà trở về thi thơ của xứ Hà-tiên. Những anh khác bị lôi cuốn vào phong trào Việt-nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, sang qua Tàu, chịu huấn luyện, trở về lãnh đạo cách mạng, bị tù đày…

Nên nhắc trước hết là anh Thạnh Búa. Anh bị đặt tên này bởi khi đá banh, thì cẳng ảnh ngay đơ, bàn chơn giống như lưỡi búa tra vào cáng. Tôi nhớ mãi anh ấy, bởi vì anh có biệt tài viết tiếng Pháp như là một nhà văn Pháp. Thạnh gốc gác ở Long-xuyên, quận Lấp-vò thì phải. Con nhà nghèo lắm. Đi học về còn phải tát ao bắt cá, phát cỏ để giúp cha mẹ. Từ lớp nhứt, ảnh đã học thuộc lòng cuốn từ điển Petit Larousse illustré. Vào trường Cần-thơ, trò chơi của chúng tôi là lật từ điển nầy; đọc một chữ, rồi đố anh đọc hết phần nghĩa lý của chữ đó. Anh đọc không sót một chi tiết. Đến lớp, bài luận văn bằng tiếng Pháp của anh làm cho vị giáo sư Pháp văn, tên là Bizot, ngạc nhiên, không tin rằng ảnh viết hay như vậy, và cứ nghi là ảnh cóp ở sách. Ông Bizot mới ra đề, bắt ảnh viết trước mắt xem. Ảnh cầm viết mà viết chẳng cần nháp, đưa ngay cho ông xem. Từ ấy, ông Bizot mua một tập giấy dày, đóng bìa cứng. Hệ có bài của anh, thì bắt chép vào, nói “để đem về Pháp mà khoe với các văn sĩ”.

Anh Thới Tre, là chủ bút của tờ báo trường nầy, tất nhiên giao cho Thạnh Búa mỗi tuần viết một bài “sáng tác”. Thạnh Búa viết truyện ngắn theo giọng của A. Daudet, đọc rất là thi vị. Và oái oăm thay, công việc “búa”, anh Thới lại giao cho tôi viết trong một bài bằng tiếng Pháp thứ hai “để cho Tây nó đọc”. Và trong tờ báo chỉ có hai bài chữ Tây của hai đứa tôi mà thôi. Thuở ấy, anh em đặt cho tôi cái biệt hiệu là Tường Dụng. Tôi dịch ra tiếng Pháp là Ventru, rồi nói lái lại là Vutren, và ký tên là Pierre Vutren. Ký như thế, tức là “lạy ông tôi ở bụi nầy”, nên trong danh sách bị đuổi, tôi đứng đầu sổ, còn bởi vì văn ấy là người, Thạnh Búa bị lộ ngay và lãnh hạng nhì.

Bị đuổi mà không chút hy vọng được nhận trở lại học, tôi sợ búa rìu của tía tôi, nên chạy chọt sang Tây du học. Tôi tự nhốt trong một ngôi trường, cắm đầu lo học. Mãi đến dịp lễ Giáng Sinh năm 1927, tôi mới có dịp may gặp những người viết báo hạng cừ trong dịp họ đến Marseille diễn thuyết chống khủng bố ở Đông-dương.

Đêm trước, tôi gặp trong buổi diễn thuyết Dương Văn Giáo và Trịnh Hưng Ngẫu. Dương Văn Giáo vốn là một thầy thông trước chiến tranh 1914-1918. Khi chiến tranh xảy ra, Pháp mộ một số lính và công nhơn mình sang Âu-châu, cần có thông ngôn theo nên Giáo tình nguyện sang Pháp. Giặc xong, Giáo không về xứ, ở lại học thêm, đỗ tiến sĩ luật khoa, làm trạng sư ở tòa Thượng Thẩm Paris. Và năm 1926, cùng với Bùi Quang Chiêu sáng lập tờ La Tribune Indochinoise, cơ quan của đảng Lập hiến tại Pháp. Ngày ấy, Dương Văn Giáo đến diễn thuyết trước khi xuống tàu về xứ. Trịnh Hưng Ngẫu vốn xuất thân là thầy giáo, nhảy qua viết cho tờ La Tribune Indochinoise ở Sài-gòn, và trong dịp Bùi Quang Chiêu về xứ, lãnh tụ thực dân là Henry de Chavigny de la Chevrotière tổ chức biểu tình chống đối, Ngẫu đá vào mông De la Chevrotière một cái quá mạnh, làm chiếc giày ăng mất, báo chí đăng chi tiết nầy làm phấn khởi đám thanh niên chúng tôi quá nhiều.

Nghe diễn thuyết xong là đã khuya. Ra đường Ngẫu bắt tay hỏi tên tôi, và hẹn sáng mai lại phòng ngủ gặp lại.

Đến đây, tôi lại gặp hai người nữa: ấy là Nguyễn Thế Truyền và Tạ Thu Thâu. Lúc ấy Nguyễn Thế Truyền đã lừng danh trong giới cách mạng nên đời sống của Truyền đã thành huyền thoại, mà bọn trẻ chúng tôi biết rành từ chi tiết xuất thân là con nhà khoa bảng ở Nam-định, Truyền đã sớm sang Pháp du học. Đỗ bằng kỹ sư hóa học, Truyền không hành nghề, lại lên Paris mà hợp tác với Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh), để thành lập một nhóm người Việt “chọc trời khuấy nước” chống thực dân ngay tại thủ đô nước Pháp. Năm 1922, Nguyễn An Ninh về xứ, sáng lập tờ La cloche fêlée. Còn những người kia ở lại cùng một số người Phi-châu và người Pháp sáng lập tờ Le Paris. Ít lâu sau, Nguyễn An Ninh trở qua rước hai cụ Phan về Sài-gòn, Nguyễn Thế Truyền lãnh trách nhiệm cho ra tờ Việt-nam hồn khét tiếng. Bị ngăn trở, báo nầy đổi tên lại là Hồn Nam-việt rồi Phục Quốc.

Còn Tạ Thu Thâu, tuy tôi chưa quen, song tôi đã nghe danh học giỏi từ năm 1924. Sau khi ra dạy học, Tạ Thu Thâu có hiệp với Trịnh Hưng Ngẫu, Nguyễn Khánh Toàn, Hà Huy Giáp, Bùi Công Trừng, Trần Ngọc Danh… mà thành lập đảng Jeune Annam, xuất bản tờ Le Nhà quê, và tổ chức lễ truy điệu cụ Lương Văn Can là thân sinh của chí sĩ Lương Ngọc Quyến, người đã chủ mưu cuộc khởi nghĩa Thái-nguyên.

Lúc ấy, tôi mới được mười bảy tuổi rưỡi, và chỉ học lớp Toán học, tương đương với Đệ Nhứt ta bây giờ. Nhưng đối với lúc ấy, kể là sớm lắm. Nhưng tôi cũng có chút danh tiếng “lẫy lừng”, là bên nhà, trước khi bãi khóa, tôi chỉ học đến lớp “Năm Thứ Hai”, tức là ngang với Đệ Lục, mà sang Pháp mấy tháng sau, tôi nhào đại vô lớp Đệ Nhị, học cuối năm, thi tú tài dẫn đầu số thí sanh Việt-nam. Nên mấy anh lớn nọ nghe danh học giỏi, mến tài, rủ tôi tới cho kỳ được, để dụ tôi đi theo con đường của họ. Nguyễn Thế Truyền khai hỏa:

– Ừ, như vậy mới được chớ. Đi làm cách mạng phải là những tay học giỏi. Chớ học trong lớp mà cầm cờ, rồi ra làm cách mạng, bọn thực dân nó chê rằng, tụi mình là tụi ratés, nên giả vờ làm cách mạng để cứu thể diện.

Truyền lớn hơn tôi đến hai mươi tuổi, thêm rành tâm lý. Biết tôi là con nhà nghèo, vì phục Nguyễn An Ninh tranh đấu nên vất vả chạy sang Tây cho bằng được, nên khen Ninh, khen để dụ tôi:

– Ừ em xem. Anh Ninh, sang Pháp, không đầy năm mà thi đậu cử nhơn luật, bọn Tây nó lát mắt, rồi ra làm cách mạng, chúng nó mới cứng mồm.

– Làm sao mà chỉ một năm, thi một năm, thi trọn ba năm luật được? Không phải mỗi năm thi một bằng sao?

– Quy chế thì như vậy. Nhưng khi Ninh mới sang Pháp, chánh phủ có ra những thi thố đặc biệt để nâng đỡ thanh niên, vì chiến tranh mà lỡ dở việc học hành. Cứ hai tháng là tổ chức một kỳ thi, tha hồ ai thi cũng được, miễn là hội đủ điều kiện. Mới qua, Ninh thi cử nhơn luật năm thứ nhứt. Sáu tháng sau Ninh thi cử nhơn luật năm thứ hai, hai tháng sau nữa, Ninh thi trọn bằng cử nhơn. Nhờ vậy mà đi tới đâu, giới trí thức Pháp ở Paris nể mặt. Em phải học giỏi như Ninh vậy, chúng nó mới ngán.

Nghe chuyện Ninh thi trọn cử nhơn chỉ trong một năm, hình ảnh của Ninh, vốn dĩ đã rất đẹp trong lòng tôi, càng thêm đẹp nữa. Có lẽ mắt tôi đã ra vẻ mơ mộng, Truyền còn bồi thêm để quảng cáo Ninh:

– Tụi Tây ít khi phục bằng cấp. Ban đầu hai cụ Phan giới thiệu Ninh cho bọn nó, bọn nó cho là nhờ học gạo thuộc lòng nhiều, nên đậu mà thôi. Ninh chạm tự ái, viết mấy bài báo, đưa cho tụi nó đăng. Ninh viết francais hay lắm, tụi nó lát mắt. Chừng đó mới chịu phục.

– Anh Ninh viết trong báo nào? 

– Khởi đầu, Ninh viết trong tờ Le Libertaire, là cơ quan anarchiste. Tây nó phục rồi, mới rủ Ninh đứng vào nhóm sáng lập tạp chí Europe.

Trịnh Hưng Ngẫu hỏi, với cử chỉ “chim mồi”:

– Có phải tạp chí Europe do J.R.Bloch làm giám đốc và bây giờ hãy còn ra đó không?

– Đúng vậy. Vào tạp chí Europe, Ninh làm quen với Léon Werth. Sau khi Ninh rủ Léon Werth qua bên mình, về Pháp, Léon Werth viết cuốn Cochinchine để ca tụng Ninh là người trí thức độc nhứt kể cả Tây lẫn Việt, mà Werth gặp ở Nam-kỳ.

Tôi có đọc quyển Cochinchine của Léon Werth, nay nghe được chi tiết nầy tỏ vẻ khoái lắm. Thấy tôi đã say men rồi, Truyền mới dụ:

– Đấy em thấy chưa, muốn làm cách mạng đắc lực, phải biết báo cho hay. Không làm cách mạng mà viết báo hay, cũng có lợi. Đây là qua dạy em cái bí quyết để thành công trong đời đó.

Ninh đã về Sài-gòn chuyến tàu trước rồi. Hôm ấy, Thâu và Ngẫu dắt tôi đến bến tàu, đưa Giáo và Truyền về xứ.

Tôi trở về nhà trường, cắm đầu vào sách vở. Sau năm học ấy, đậu tú tài, vào Đại Học Marseille. Nhờ học toán, nên thời giờ rỗi rảnh khá nhiều, anh em cắt tôi công việc, mỗi chuyến tàu từ bên nhà đến. Nhờ vậy mà tôi làm quen được một vài nhà báo nổi tiếng. Như cụ Phan Văn Trường, như Pham Văn Hùm, như Cao Văn Chánh, như Nguyễn Pho. Lúc ấy, tôi chưa biết ham làm cách mạng, nên không tìm dịp theo các nhà viết báo tiếng tăm nầy, mặc dầu kính phục tài nghề của họ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s