thieu-son-bai-hoc-phan-khoi-1967

Thiếu Sơn, Bài học Phan Khôi (1967)

L.T.S: Đây là bài của nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết về cụ Phan Khôi và bài này đã đăng trên báo Thần Chung số 316 ngày 23-7-1967 tại Saigon. Chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo.

Tạp chí Văn học, số 122, năm 1971.


Ông Phan Khôi với bút hiệu Chương Dân và nhiều bút hiệu khác nữa có một địa vị đặc biệt trong làng báo và làng văn hồi tiền chiến.

Trong Thi tù tùng thoại cụ Huỳnh thúc Kháng đã phải hạ bút khen ông khi ông còn thanh niên cùng ở tù chung với các cụ tại đề lao Faifo. Hồi đó, vào năm 1908, các cụ bị tập trung ở khám Faifo để rồi sẽ bị phân tán đi các nơi khác. Hôm sau có một số người bị đày ra Côn đảo thì hôm trước các cụ tổ chức một bữa tiệc trong tù để cùng nhau xướng họa với đề tài kẻ ở, người đi. Cụ Huỳnh đã viết: “Trong khi các bạn tiễn, có mấy bài tứ tuyệt của ông Tú Phan Khôi là xuất sắc hơn cả.”

Xướng hoạ với những ông cử, ông nghè bằng chữ Hán mà được chính một ông nghè khen là xuất sắc hơn cả đủ thấy cái giá trị của Tú Khôi ngay từ ngày ông chưa có chỗ ngồi ở làng văn, làng báo.

Ông đã viết cho những tờ Đăng cổ tùng báo, Nam phong, Hữu thanh, Thực nghiệp dân báo, Lục tỉnh tân văn v.v… Ông đã làm thư ký cho ông Bạch thái Bưởi, dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành. Nhưng người ta chỉ bắt đầu biết tới ông khi ông viết cho Đông Pháp thời báo, Thần chung và nhất là Phụ nữ tân văn.

Ông Diệp văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác, nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi bật.

Ông chỉ nổi bật khi ông được mời viết cho Phụ nữ tân văn của ông bà Nguyễn đức Nhuận. Hồi đó, vào khoảng 1930, một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi.

Vậy mà Phụ nữ tân văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng bốn bài 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp cỡ Huyện, Phủ. Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo. Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ văn chương của Phan Khôi mới dám trả tới giá đó mà thôi. Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua Phụ nữ tân văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài gẫy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thân tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste).

Những cái gì người ta cho là phải, là đúng thì ông đưa ra những lý luận, trưng ra những bằng chứng để đi tới kết luận là trái là sai. Võ hậu là một con dâm phụ chuyên quyền, ông Phan dẫn chứng ở sách vở ra để chứng minh rằng bà ta là một người đàn bà vượt khuôn khổ, một bộ óc thông minh tuyệt vời, một phụ nữ phi thường.

Cố nhiên là nhiều khi ông ngụy biện nhưng ngụy biện một cách rất tài tình và ngay trong khi ngụy biện ông cũng dẫn chứng được phần nào những ưu điểm của một nhân vật mà thành kiến chỉ cho thấy khuyết điểm mà thôi.

Đạo Nho người ta cho là khuôn vàng, thước ngọc, là xương tủy của đạo lý dân tộc. Ông Phan Khôi, một nhà nho chánh tông lại viết cả loạt bài để đả phá đạo Nho cho là một đạo bảo thủ phản tiến hóa.

Thú vị nhất là khi ông đóng vai tuồng ngự sử trên văn đàn để bắt “phốt” (faute) những nhà văn có tên tuổi vào hạng tiền bối hay đàn anh. Cả tới cái tên người ta ông cũng không tha. Ông bắt lỗi cụ Nguyễn chánh Sắt sao lại viết Sắt, phải viết Sắc mới đúng theo chánh tả, một nhà nho không thể có tên Sắt (sắt thép) mà phải có tên Sắc (hương sắc, sắc không), vả lại theo chữ Nho thì đích thị là chữ Sắc. Ông bắt lỗi cụ Đặng thúc Liêng sao lại để dư một chữ g? Liên là hoa sen mới đúng. Còn Liêng là vô nghĩa.

Ông bút chiến toàn những “tay tổ”. Với ông Phạm Quỳnh, ông gia cho chữ học phiệt.

Với ông Trần Trọng Kim, ông phê bình gắt gao bộ Nho giáo với những kiến thức sâu rộng và những lý luận đanh thép của ông. Nhưng ông cũng có những sơ hở để đối phương đập lại ông. Ông mời ông Trần về với M. Logique.

Ông Trần nhắc chừng cho ông nhớ Logique thuộc về giống cái thì phải gọi là Cô chứ sao gọi là Me-sừ.

Những giai thoại về Phan Khôi nhiều lắm, nói không hết. Nhưng có điều nên biết là ông cố ý chơi ngông để được tiếng là ngông.

Ông muốn làm hề để chọc cười thiên hạ. Ông thật tình muốn phục vụ chân lý và lẽ phải, thấy bậy thì nói, thấy sai thì sửa.

Đã có lần ông sửa cả văn chương chữ Hán của những bậc đại nho. Ông nói: Không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu. Cũng như chữ Tây viết đúng mẹo luật mà chưa đúng theo lề lối của Tây thì Pas francais, chữ Hán cũng vậy, viết theo lề lối Việt Nam thì cũng Pas chinois.

Phải nhìn nhận rằng ông Phan Khôi là một người thông minh, học rộng, biết nhiều, chịu khó suy nghĩ, có óc nhận xét, tinh tế, cốt cách tánh tình, tác phong đều đàng hoàng nghiêm cẩn, nhưng cố tình vươn mình để tiến xa hơn những nhà nho khác mà ông cho là cố chấp, bảo thủ, lạc hậu. Ông tự học để đọc được sách Pháp. Ông dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành chính là để đọc thêm chữ Pháp.

Ông sở đắc khá nhiều về học thuật, tư tưởng của Pháp. Nhưng ông cũng có tật là được mới nới cũ. Cái học cũ là cái học căn bản của ông.

Nhờ cái học mới mà ông thấy được những nhược điểm và khuyết điểm của cái học cũ. Nhưng người như ông làm sao thoát ly khỏi cái học căn bản nó đã đi sâu vào máu huyết của ông, xây dựng nên con người của ông.

Do đó mà ông không thể đi xa được trên con đường tân học. Ông có cái hăng say của kẻ nhập môn nên chưa có cái chín chắn của người thuần thục.

Ông Phan Văn Hùm đã chê ông chỉ mới hiểu được cái luận lý hình thức (logique formelle) nên nhiều khi có phiến diện. Ông cũng Pas francais nhưng thật ra ta có cần gì Francais hay Pas francais.

Ta chỉ cần đi xa hơn cái học tư sản mà người ta tường lấy nó làm khí giới và đồ trang sức để phát triển những khả năng tiểu xảo của mình.

Có như thế ta mới đi tới cái học nhân bản hiểu mình, hiểu người, hiểu đời để tổng hợp thành cái vốn tinh thần cho ta thay những liên quan mật thiết với dân tộc, với nhân loại.

Có như thế ta mới từ bỏ được lối chơi cá nhân để hòa mình vào tập thể. Ông Phan Khôi mới có lối chơi cá nhân và chưa có lối chơi tập thể.

Như trên tôi đã nói nhờ căn bản nho học và những gì ông đã sở đắc về học thuật Tây phương, ông Phan Khôi đã có lối chơi cá nhân rất vững vàng và ngoạn mục, tạo cho ông một địa vị đặc biệt trong làng văn.

Ông không a dua theo thời thượng, chống công thức gắt gao, không để một thế lực nào chi phối nên nhất thiết những gì ông nói ra, viết ra đều do ông suy nghĩ theo đầu óc của ông. Mà đầu óc ông như ta đã biết là một thứ đầu óc thông minh, phong phú, chịu suy nghĩ, độc lập, bướng bỉnh nên nói khác với mọi người. Hồi đó dường như ông đã dịch chữ original là “cổ quái” nhưng có lẽ nên dịch là “độc đáo”.

Tôi muốn gọi ông là độc đáo chứ không nỡ cho ông là cổ quái. Đã có lần ông bút chiến với cụ Huỳnh thúc Kháng. Cụ Huỳnh nói tới tuổi tác của cụ, ông trả lời là đừng nêu vấn đề tuổi tác ra, cãi nhau là để làm sáng tỏ chân lý, ai đuối lý là thua, không cần biết người đó lớn hay nhỏ, trẻ hay già. Ở trên mặt báo thì ngáo ngổ như thế, nhưng kỳ thật trong thâm tâm ông vẫn kính phục cụ Huỳnh cũng như ông vẫn có cảm tình với tất cả những người sạch sẽ lương thiện có tư cách và tiết tháo. Còn những kẻ thiếu căn bản, thiếu giáo dục, đê hèn, bần tiện, ông khinh ra mặt và chẳng muốn làm quen.

Ông Bùi thế Mỹ đã nói đúng khi ông nói: Ông Phan “bất cận nhân tình” nhưng thực ra ông chỉ bất cận vơi những kẻ mà ông không muốn gần chứ khi ông thấy có điểm nào chơi được thì ông cũng chịu chơi.

Có điều là chính ông mới là con người khó chơi, vì ông thẳng thắn, phân minh, trực ngôn và không hay nhân nhượng.

Ông không bao giờ lợi dụng ai, nhưng ông không để cho ai lợi dụng mình.

Một tờ báo nào mời ông viết thì trước hết ông hỏi giá cả đàng hoàng, làm giao kèo kỹ lưỡng, phải nghiêm chỉnh tôn trọng giao kèo. Phần ông không bao giờ ông bội ước với ai nhưng ông không bằng lòng cho người ta bội ước với ông. Nhưng ở đời đâu phải chỉ có những con đường thẳng, tới những khúc quanh co thì ông không đi được. Do đó mà có chuyện. Có rất lắm chuyện về ông.

Tú Mỡ làm thơ chọc ông, ông phản công lại và ký bằng bút hiệu Tú Sơn, Sơn này không phải là núi. Sơn này là Seul. Tú Sơn tức là Tout seul nghĩa là “chỉ có một mình”. Độc lập cũng được, cô độc cũng được.

Nhưng miễn là ông không lệ thuộc ai, không ai chi phối ông được. Ông hoàn toàn tự chủ, triệt để tự do. Ông tài cao, học rộng nên có lối chơi cá nhân rất đẹp. Nhưng thời cuộc biến chuyển bắt buộc mọi người phải hòa mình vào tập thể. Người ta làm được mà ông không làm được.

cao-van-luan-va-nhung-tiep-xuc-voi-cu-ho-tai-phap

Cao Văn Luận và những tiếp xúc với cụ Hồ tại Pháp

Trích từ Bên giòng lịch sử – Hồi ký 1940-1965
của linh Mục Cao Văn Luận, xuất bản năm 1971, Nxb Trí Dũng


Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh

Tôi chưa được thấy mặt, hay thấy hình ảnh gì của chủ tịch Hồ Chí Minh. Những hình ảnh đăng trên các báo Pháp từ tháng 9 năm 1945 đều là những tấm hình cũ, mà một vài báo Pháp xin được của sở Mật Vụ Hải Ngoại Pháp. Khi thì tôi thấy một thanh niên gầy ốm, cao lêu nghêu, khi thì một cụ già khoảng 50.

Không có gì bảo đảm cho tôi những hình ảnh đó là của chủ tịch Hồ Chí Minh. Như mọi người Việt Nam ở Pháp thời bấy giờ, tôi rất tò mò muốn biết mặt cụ Hồ, con người dù sao thì cũng đã dành độc lập cho Việt Nam, và đang tranh đấu với Pháp để giữ lấy nền độc lập mong manh đó.

Ở Pháp vào đầu năm 1946, thỉnh thoảng có tin đồn cụ Hồ sẽ sang Ba-Lê, làm cho những anh em Việt kiều hồi hộp chờ đợi, nhưng rồi báo lại cải chính rằng cụ chưa sang Ba-Lê lần này.

Vào cuối tháng tư, tôi được biết Pháp và Việt Minh đã ký kết một thỏa ước tạm thời, giao quyền cai trị Trung và Bắc bộ cho chính phủ Hồ Chí Minh, còn Nam bộ thì giữa tình trạng không giải quyết, do Pháp quản trị, chờ một cuộc trưng cầu dân ý. Thỏa ước này được gọi là thỏa ước 6 tháng 3. Tôi cũng được biết hội nghị Đà Lạt ngày 24-3-1946 giữa Võ Nguyên Giáp và Pierrer Mesemer đã không đem lại kết quả gì.

Những điều này tôi chỉ được biết tin qua báo chí, qua một vài bản tin mà lúc bấy giờ một tổ chức thông tin không chính thức của Việt Minh ở Ba-Lê phân phát.

Rồi qua những nguồn tin không xuất xứ, loan truyền trong giới Việt kiều ở Ba-Lê, cũng như trong giới chính trị thân cộng, tôi biết chắc rằng cụ Hồ sang Ba-Lê.

Tôi và anh em Việt kiều, sinh viên hồi hộp chờ đợi và chuẩn bị đón tiếp.

Chúng tôi chưa ai nghĩ đến những bất đồng vì vấn đề chính kiến, tư tưởng, tôn giáo. Mọi người hãnh diện có một chính phủ độc lập, có một lãnh tụ dám đương đầu với người Pháp. Theo tin từ các báo, thì tôi nghe nói rằng ngày 30 tháng 5 năm 1946, cụ Hồ từ Saigon lên phi cơ đi Ba-Lê, cùng với tướng Salan và ông Jean Sainteny.

Đến ngày 1 tháng 6, đài phát thanh Pháp Á, và đài phát thanh Pháp loan tin Nam bộ tách rời và thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị, do ông bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Tôi và anh em Việt kiều thấy đau nhói trong tim, ngẩn ngơ trước cái tin khó tin. Điều mong ước của mọi người Việt Nam, sau độc lập, và kèm theo độc lập là thống nhất.

Tôi đã hiểu thế nào là sự nhục nhã của người Việt Nam phải chịu sự chia cắt, người Trung kỳ, Bắc kỳ vào Nam kỳ phải có thông hành. Có lẽ chính sự phản bội và sai lời này của người Pháp làm cho lộ trình của cụ Hồ đã không ghé Ba-Lê ngay như mọi người mong chờ mà ghé Biarritz. Tôi không hiểu có anh em Việt kiều nào có thể ra đón cụ Hồ ở phi trường Biarritz không, nhưng trong số người tôi quen biết thì không có ai đi.

Cụ Hồ ở lại Biarritz khá lâu. Ngày nào anh em Việt kiều cũng đến cho tôi hay một vài tin, phần lớn thuộc loại tin đồn. Một số trong các tin này nhắc đến sự chia xót, đau khổ của cụ Hồ, mô tả cụ như một con người anh hùng gặp vận bỉ, một cụ gì đang than khóc cho số phận đất nước.

Tôi không tin mà cũng chẳng ngờ chi, chỉ chờ đợi được gặp cụ Hồ, chờ đợi tình thế hiện rõ hơn. Trong khoảng thời gian này, một chính phủ mới được thành lập, chính phủ Bidault, thuộc đảng MRP.

Như tôi đã nói trước, đây là một chính phủ thực dân thực sự, mặc dầu trong chính phủ này có một vài Bộ trưởng cộng sản, hay thân cộng sản, như ông Charles Tillon, Bộ trưởng không quân. Tôi hiểu rõ cộng sản Pháp không sẵn sàng trao trả độc lập chân chính và toàn vẹn cho Việt Nam, như nhiều người mong. Cộng sản Pháp và thực dân Pháp vẫn có thể đi đôi với nhau không có chi mâu thuẫn. Sự chờ đợi của tôi và các anh em Việt kiều kéo dài gần cả tháng. Vào ngày 20-6-1946 chúng tôi hay tin cụ Hồ sẽ từ Biarritz lên Ba-Lê đúng sáng 22-6. Hầu hết anh em Việt kiều sinh viên, trí thức Việt Nam ở Ba-Lê đều tụ họp lại với nhau bàn chuyện lập phái đoàn đón rước cụ Hồ. Tôi được chọn cầm đầu phía những người Công giáo Việt Nam ở Pháp và các tu sĩ Việt Nam du học, vì tôi là Chủ tịch hội tu sĩ Việt Nam du học ở Pháp, gồm 30 tu sĩ, linh mục.

Việt kiều ở Ba-Lê lúc bấy giờ khá đông. Tôi được biết ngoài phái đoàn của chúng tôi, còn những phái đoàn Việt kiều khác, trong đó chẳng hạn có phái đoàn Việt kiều thợ thuyền, gồm những người cộng sản hay thân cộng sản, đi riêng.

Lúc chúng tôi đến phi trường Le Bourget thì nơi sân máy bay đậu đã dày đặc người. Phái đoàn Việt kiều của chúng tôi đứng nhập chung vào những phái đoàn Việt kiều khác, có phái đoàn chỉ gồm 15 người, có phái đoàn đến non trăm người. Có lẽ thấy phái đoàn chúng tôi có trật tự, lại gồm mấy linh mục, nên những người tổ chức lễ đón tiếp sắp cho chúng tôi đứng lên đầu.

Tôi nhận thấy chính phủ Pháp lần này đón tiếp cụ Hồ một cách long trọng. Tất cả mặt tiền phòng khách danh dự phi trường đều treo cờ Pháp chen kẽ. Có lính vệ binh và giàn kèn sắp hàng trước chúng tôi. Đứng riêng và xa trước mặt chúng tôi độ trăm thước, có phái đoàn chính phủ Pháp, trong đó tôi thấy vài tướng lãnh, bộ trưởng. Ông Moutet là bộ trưởng Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, hay bộ thuộc địa. Chúng tôi chờ non một tiếng đồng hồ thì nghe lính vệ binh cộng hòa và lính kèn hô chuẩn bị. Họ đứng nghiêm mà mọi người ngẩng mặt nhìn lên trời. Lúc bấy giờ số phi cơ lên xuống phi trường Bourget cũng không nhiều lắm. Chúng tôi nghe tiếng phi cơ nổ lớn dần, rồi một phi cơ hai động cơ là là hạ cánh trên phi đạo, chậm chạp chạy về sân đậu trước mặt chúng tôi. Dàn kèn trổ bài quốc ca Việt Nam trước, bài Marseillaise sau. Tôi rơm rớm nước mắt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, trong đời tôi, tôi được chứng kiến một quốc trưởng Việt Nam được đón tiếp theo đúng nghi lễ ngoại giao. Cũng là lần đầu tiên tôi nghe bài quốc ca Việt Nam. Nhiều anh em Việt kiều quanh tôi sụt sịt khóc. Có những người Việt Nam sống ở Pháp lâu năm từ 1918 đến nay, hầu như quên tiếng Việt Nam, cũng không cầm được xúc động.

Lần gặp gỡ thứ nhất giữa tôi và cụ Hồ: Số phận người công giáo trong số phận Việt Nam

Cụ Hồ xuất hiện, đứng yên trên cửa phi cơ. Tôi không hiểu nhờ đâu mà tôi biết được đó là cụ Hồ. Có lẽ nhờ dáng người đặc biệt của cụ, nhờ những mô tả trước đây chăng hoặc là nhờ cụ là người Việt Nam đầu tiên hiện lên trên bậc thang trước cửa phi cơ. Cụ Hồ đưa tay vẫy chào mọi người, rồi chậm rãi bước xuống. Sau cụ là ông Jean Sainteny, rồi đến các nhân vật Việt Nam mà tôi không biết rõ.

Phái đoàn chính phủ Pháp tiến ra tận chân thang máy bay chào đón cụ Hồ. Chúng tôi vẫn đứng yên, tuy nhiên có một vài đại diện Việt kiều ôm bó hoa bước ra, đi về phía cụ Hồ. Ánh mắt cụ Hồ sáng lên, nhìn vào đám Việt kiều, và tiến ngay đến phía mấy đại diện ôm bó hoa. Cụ Hồ có cử chỉ thân mật tự nhiên, cụ ôm bó hoa, và ôm luôn người tặng hoa, mắt chớp chớp như muốn khóc.

Tôi tin là cụ cảm động thật, chớ không phải nhờ tài đóng kịch. Cụ làm cái việc duyệt hàng quân danh dự rất nhanh, cho xong, rồi đi thẳng đến đám Việt kiều. Tôi không hiểu vì đâu mà cụ đến ngay trước mặt tôi trước tiên, rồi tiếp đến các cha bên cạnh. Cụ bận bộ quần áo kaki vàng sẫm màu, cổ cao và thẳng theo lối cổ áo lính Tàu. Cụ bắt tay tôi thật chặt, tươi cười.

Nguyễn Mạnh Hà theo sát sau cụ, giới thiệu một số Việt kiều với cụ. Cụ hẹn sẽ gặp lại tôi và anh em Việt kiều. Lúc nói chuyện với tôi, cụ Hồ có những cử chỉ mà tôi không quên được. Tôi bận áo chùng, ngoài khoác áo lạnh có hàng nút xuống tận chân. Cụ Hồ khi thì đặt tay lên vai tôi, khi mân mê những chiếc nút trước ngực tôi. Cụ nghe tôi nói tiếng Nghệ Tĩnh, cụ cũng nói toàn giọng Nghệ Tĩnh.

Ai mà không cảm động khi nghe tiếng nói quê hương mình, giọng nói làng mạc mình? Và tôi không cần chối là tôi đã cảm động thật tình, mặc dầu những câu chuyện trao đổi ngắn ngủi trên phi trường Bourget sáng 22-6 chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt.

Nguyễn Mạnh Hà dừng lại, nói nhỏ với tôi:

– Cha nên tìm dịp lên gặp cụ chủ tịch, khuyên cụ bỏ cái việc đòi lập giáo hội tự trị. Hà nháy tôi và hẹn sẽ gặp lại sau. Cụ Hồ có vẻ vui thích khi đi tiếp xúc với các Việt kiều. Cụ để mặc những người Pháp trong phái đoàn chính phủ Pháp đứng ngơ ngẩn, hay lẽo đẽo theo sau cụ.

Cụ chẳng có vẻ gì vội vàng, trái lại như cứ muốn nói chuyện mãi với người Việt Nam. Chỉ có ông Jean Sainteny là đi theo cụ từ đầu đến cuối. Lúc bắt tay khắp hết các Việt kiều, cụ quay trở về phía phái đoàn chính phủ Pháp, và đi vào phòng khách danh dự của phi trường.

Chúng tôi vẫn chưa về vội, đứng lại cho đến lúc cụ Hồ cùng với phái đoàn Pháp lên xe rời phi trường. Lúc ngồi trên xe, cụ còn nhoài người ra vẫy tay chào chúng tôi, và ra dấu hẹn gặp lại.

Vài hôm sau, Nguyễn Mạnh Hà đến gặp tôi kể lại cho tôi nghe những chuyện xảy ra bên nước nhà, liên quan đến đạo công giáo. Ông cho tôi biết chính phủ Việt Minh đang có chủ trương đòi tách rời giáo hội Việt Nam ra khỏi tòa thánh Vatican lập giáo hội Việt Nam tự trị, thay thế tất cả các giám mục Pháp, các linh mục Pháp, bằng những giám mục Việt Nam, linh mục Việt Nam. Nguyễn Mạnh Hà khuyên tôi nên xin gặp cụ chủ tịch trình bày cho cụ biết điều đó không được. Tôi đồng ý và lên Hotel Royal là nơi cụ Hồ và phái đoàn Việt Nam ở, xin yết kiến. Tôi nhận thấy lần này chính phủ Pháp đón tiếp cụ Hồ xứng đáng với một vị quốc trưởng Việt Nam hơn. Trước cửa Hotel Royal treo hai lá cờ lớn, một lá cờ tam tài Pháp và một lá cờ đỏ sao vàng. Chính phủ Pháp còn cử một tiểu đội gác danh dự trước cửa khách sạn sau này. Khi tôi vào, thì có một người Việt Nam tiếp tôi, ghi vào phiếu lời yêu cầu xin gặp, danh tính tôi, và lý do xin gặp. Tôi chỉ nói vắn tắt: xin gặp cụ chủ tịch. Người thư ký không cho biết bao giờ được cụ Hồ tiếp, nhưng niềm nở hẹn sẽ có thiếp mời đến tận nhà tôi sau.

Đâu chừng hai hôm sau thì có một người đem thiếp mời hẹn giờ được tiếp kiến đến cho tôi. Tôi đã suy nghĩ và sắp xếp trong đầu óc những gì sẽ thưa với cụ Hồ. Tôi nghĩ đến số phận giáo hội Việt Nam một phần. Nhưng nghĩ nhiều hơn đến số phận đất nước Việt Nam.

*

Buổi nói chuyện lần thứ nhất với Hồ Chí Minh.

Tôi đến Hotel Royal trước giờ hẹn vài phút. Tôi được dẫn vào một phòng khách sang trọng, được mời ngồi đối diện với một cánh cửa thứ hai, khác với cánh cửa vào phòng khách. Ít phút sau cánh cửa trước mặt tôi mở ra cụ Hồ và một người như là thư ký của cụ, bước vào. Cụ Hồ đứng yên một lúc khá lâu, mắt nhìn đăm đăm về phía tôi, có vẻ như ngạc nhiên, ngơ ngác. Rồi cụ mỉm cười, đưa tay ra hiệu mời ngồi. Cụ chậm rãi đi ra phía tôi và bắt tay tôi. Tôi vẫn đứng trước mặt cụ, mặc dù sau khi bắt tay tôi, cụ đã ngồi xuống ghế, ngẩng nhìn tôi như chờ đợi.

Sau những câu chào mừng, chúc tụng, tôi vào đề ngay:

– Thưa cụ Chủ Tịch, cụ sang Pháp công cán cho nước nhà. Với tư cách riêng và tư cách tuyên úy các Việt kiều Công giáo ở Pháp, tôi xin đến chào cụ cầu chúc cụ làm tròn sứ mệnh đòi lại độc lập cho nước nhà.

Cụ Hồ gật gù, mỉm cười, đưa tay mời tôi ngồi xuống lần nữa, nhưng tôi xin phép được đứng. Cụ nhìn tôi mỉm cười thật tươi tắn:

– Tôi rất vui mừng gặp linh mục, và xin nói cho linh mục biết bây giờ tại nước nhà, mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi giai cấp, không phân biệt tôn giáo, cùng đoàn kết sau lưng chính phủ tranh đấu cho một mục đích duy nhất là dành lại độc lập và thống nhất cho xứ sở.

Lúc nhà sư có chuyện vui buồn gì, thì cũng mời cố đạo đến dự. Khi cố đạo có chuyện gì cũng mời sư đến chia sẻ. Nhưng mà tôi phải nói thiệt với linh mục rằng bên đạo Công giáo chưa được tự lập. Trong toàn cõi Việt Nam có 15 địa phận thì chỉ có 2 địa phận được hai vị giám mục Việt Nam cai quản, còn các địa phận kia thì do các giám mục ngoại quốc coi sóc.

Tôi nghĩ các linh mục trẻ như linh mục phải cùng với chính phủ ta, tranh đấu đòi lại quyền tự trị cho các địa phận đạo ở Việt Nam. Linh mục nghĩ sao?

Tôi đã được Nguyễn Mạnh Hà cho biết đường lối của chính phủ Việt Minh đối với giáo hội công giáo Việt Nam, cho nên không ngạc nhiên khi nghe cụ Hồ nói như vậy. Tôi bình tĩnh thưa:

– Thưa cụ Chủ Tịch, đây là điều mà tôi muốn thưa với cụ Chủ Tịch hôm nay. Tôi có nghe ở bên nước nhà có phong trào đòi lập giáo hội tự trị. Thưa cụ, những người công giáo Việt Nam chúng tôi cũng muốn tự lập theo một nghĩa nào đó. Chúng tôi đều mong cho các địa phận Việt Nam có đầy đủ những giám mục đều là người Việt Nam.

Đó cũng là đường lối mà Vatican luôn luôn chủ trương là theo đuổi. Thưa cụ chúng tôi không thấy có gì phải phản đối, nếu những người công giáo Việt Nam muốn tự đảm nhiệm lấy sự cai quản việc đạo trong nước mình. Nhưng thưa cụ, tôi thiết nghĩ cách tiến đến sự tự lập cho giáo hội Việt Nam phải được suy xét và thực hiện đúng cách.

Tiện đây, cụ Chủ Tịch đã ghé nước Pháp, nếu cụ Chủ Tịch muốn cho công việc mau chóng, thuận tiện, cụ Chủ Tịch có thể ghé qua Vatican xin gặp Đức Giáo Hoàng hoặc nếu cụ Chủ Tịch bận, thì cử một phái đoàn đại diện sang La Mã, thương thuyết với Tòa thánh một hiệp ước (Concordat) giữa chính phủ và Tòa thánh, yêu cầu Tòa thánh tấn phong thêm các giám mục Việt Nam và thỏa thuận với chính phủ về mọi việc bổ các giám mục cai quản các địa phận Việt Nam. Cụ Hồ có vẻ không hài lòng lắm:

– Đó không phải là việc của chính phủ. Việc của chúng tôi là làm sao cho các giáo dân Việt Nam đừng có đi cầu kinh với các cố đạo Pháp vì làm như vậy thì có vẻ còn chịu nô lệ Pháp, trong lúc cả nước đứng lên dành độc lập với người Pháp.

Tôi hơi bất mãn vì cái quan niệm cứng nhắc của cụ Hồ:

– Thưa cụ Chủ Tịch, người công giáo đi cầu nguyện ở đâu, có ai xướng kinh thì cũng chỉ cầu nguyện với Chúa, chớ không hề có chuyện cầu nguyện với người Pháp. Vả lại theo tinh thần công giáo, thì chúng tôi coi mọi người giống nhau, các linh mục ngoại quốc, hay linh mục Việt Nam, về phần đạo không có gì đặc biệt cả. Nếu chúng tôi còn phân biệt người Pháp với người Việt trong việc đạo, thì Tòa thánh sẽ cho rằng người công giáo Việt Nam còn ấu trĩ, thiếu kỷ luật đạo, và sẽ không thể xúc tiến việc trao quyền cai quản các địa phận và các họ đạo cho các giám mục và các linh mục Việt Nam được.

– Có lẽ cụ Hồ nhận ra đề tài này có thể gây rắc rối, mất lòng, nên vội lánh sang chuyện khác. Cụ hỏi tôi tình hình các Việt kiều, sinh viên ở Pháp, việc học hành của tôi. Lúc này cụ thân mật, cởi mở, vui tính. Cụ hẹn sẽ mời tôi, các cha và Việt kiều sinh viên đến dự một bữa tiệc.

Tôi nhận thấy câu chuyện này không có kết quả như ý tôi mong muốn. Tôi không tìm được một lời hứa ở cụ Hồ sẽ thay đổi chủ trương, nên tôi cũng không muốn nhắc lại nữa. Tôi xin kiếu từ, và khi tiễn tôi ra cửa phòng khách, cụ Hồ vui vẻ bắt tay tôi, đặt tay lên vai tôi mân mê những nút áo chùng trước ngực tôi nói những câu chuyện ở nước nhà, làm như là thân mật với tôi lắm.

Cuộc tiếp xúc lâu dài đầu tiên giữa tôi và cụ Hồ làm cho tôi lo lắng và buồn rầu khá nhiều. Tôi vừa kính phục cụ Hồ là một nhà cách mạng, một vị lãnh đạo quốc gia có tài, nhưng tôi cũng lo lắng cho giáo hội công giáo Việt Nam, cho tương lai xứ sở Việt Nam. Những quan niệm hẹp hòi và sai lầm về việc đạo có thể gây ra những xung đột nguy hiểm giữa người công giáo và phong trào Việt Minh, cũng như có thể gây nên những phản ứng bất lợi trên quốc tế cho chính phủ Việt Minh. Tôi linh cảm được những giai đoạn đen tối sắp đến cho giáo hội Việt Nam cũng như cho đất nước Việt Nam. Tôi không một lúc nào cầu mong cho người Pháp đặt lại quyền bảo hộ ở Việt Nam, nhưng tôi mong ước Pháp và chính phủ Việt Minh có thể đi đến một sự thỏa thuận chung, trong đó số phận người công giáo Việt Nam không bị thiệt thòi. Tôi cũng rất lo sợ những người công giáo có tinh thần hẹp hòi sẽ gây nên những xung đột tai hại với phong trào Việt Minh, đang được coi như một phong trào toàn dân, và một lần nữa, bị hiểu lầm là đi ngược với quyền dân tộc.

Cụ Hồ khuyên tôi: Chú còn trẻ, đẹp trai, không lấy vợ uổng quá

Tôi ra về mang nhiều lo âu. Tôi chưa biết gì nhiều về cụ Hồ Chí Minh nhưng có điều tôi nhận thấy ngay. Cụ Hồ là một con người cứng rắn, cuồng nhiệt, cương quyết, đã định làm gì thì dù bao nhiêu trở ngại cũng san bằng làm cho kỳ được. Sự mềm dẻo khéo léo của cụ Hồ chỉ ở bề ngoài, chỉ là một lối chinh phục cảm tình người đối thoại, thâm tâm cụ, không bao giờ cụ vì nghe người đối thoại hợp lý mà thay đổi quyết định của cụ. Tôi thán phục, nhung sợ hãi con người như thế.

Tôi mơ hồ thấy con đường mà cụ Hồ sẽ đưa đẩy dân tộc Việt Nam, giáo hội Việt Nam vào: chiến tranh, mâu thuẫn, thanh toán lẫn nhau, đàn áp và sát hại những thiểu số chống đối, trong đó có đạo công giáo. Tôi cũng đã được biết qua tin tức, lịch sử của những phong trào cộng sản ở Nga, Mễ Tây Cơ, Tây Ban Nha, Nam Tư v.v… và không một nơi nào sự thành lập một chế độ cộng sản đem lại một điều gì tốt đẹp hơn cho người công giáo.

Tôi là một linh mục công giáo, tôi không thể nào đồng ý với một người chủ trương biến Việt Nam thành một quốc gia cộng sản. Nhưng tôi là người Việt Nam, và lúc này điều cấp thiết là phải đòi lại độc lập từ tay người Pháp, và nếu tôi không góp công sức thì cũng không nỡ lòng nào chống lại, dù bằng lời nói, bất cứ một thế lực chính trị nào đang mưu đòi Độc Lập cho đất nước.

Những ngày sau đó tôi không ngớt suy nghĩ về số phận đất nước mình. Tôi theo dõi qua tin tức, qua những câu chuyện với các Việt kiều, đôi lúc với Nguyễn Mạnh Hà, những hoạt động ở Ba-Lê của cụ Hồ. Có những Việt kiều ngưỡng mộ cụ Hồ thực tình, hay là được đảng cộng sản tổ chức thì không biết, nhưng ngày nào cũng ra đứng trước Hotel Royal chờ được nhìn mặt cụ Hồ một lần rồi trở về.

Những ai ra vào khách sạn này họ đều nhớ nhẵn mặt. Nhờ đó những câu chuyện với họ, tôi được biết sơ lược rằng người Pháp không thực tâm thương thuyết với cụ Hồ. Cụ buồn và bất mãn, không dự những cuộc họp ở Fontainebleau.

Nhờ những người sốt sắng theo dõi các hoạt động của cụ Hồ và quanh cụ Hồ, tôi biết được rằng trong thời gian ở Ba-Lê, cụ Hồ đã tiếp xúc với các lãnh tụ cách mạng Phi Châu, như lãnh tụ du kích quân Algérie sau này là ông Ferhat Abbas. Điều này không có gì khó hiểu, vì ai cũng biết cụ Hồ là tác giả cuốn “Le Procès De La Colonisation Française” mà Nguyễn Thế Truyền đề tựa.

Ông Ben Gourion, sau này thủ tướng Do Thái, lúc bấy giờ chủ tịch một hội ái hữu Do Thái Pháp, cũng đến nói chuyện với cụ Hồ vài lần. Những nhân vật đến thường nhất là ông Paul Bernard, giám đốc Ngân Hàng Đông Pháp. Tôi nghĩ rằng cụ Hồ không quên được những vấn đề thiết thực của đất nước: vấn đề kinh tế.

Từ lúc tôi gặp cụ Hồ và nói chuyện với cụ được khoảng bốn hôm thì tôi và vài cha khác nhận được thư mời dự một buổi tiếp tân. Hỏi ra tôi được biết những Việt kiều khác như Trương Công Cừu, Trần Hữu Phương, Võ Văn Thái cũng nhận được thiếp mời như tôi. Nói là một buổi tiếp tân thì hơi quá đáng, đây chỉ là một bữa ăn thân mật, những người được mời phần nhiều tôi có quen, gồm tất cả khoảng non 30 người.

Tôi và cha Lập, cha Tiến đến với nhau cùng một lúc. Một vài anh em Việt kiều đã đến trước, và đang đứng trong phòng khách. Một lát thì thấy cụ Hồ bước ra, bắt tay mọi người, tôi trà trộn với mọi người, trong phòng khách, nói chuyện phiếm. Tôi phải công nhận cụ Hồ là một người hiểu biết rộng rãi.

Vấn đề gì cụ cũng có thể nói chuyện sơ qua và tỏ ra hiểu biết, chăm chú nghe chuyện. Những anh em Việt kiều được mời hôm ấy gồm toàn phần lớn những nhà trí thức, những sinh viên đã tốt nghiệp, nghĩa là thành phần Việt kiều ưu tú ở Pháp.

Dù mọi người kính nể cụ Hồ, nhưng trong câu chuyện, đôi lúc cố ý, đôi lúc vô tình, họ không khỏi nêu lên những vấn đề khó khăn, có thể làm cho người được hỏi lâm vào thế kẹt.

Tôi chưa lúc nào thấy cụ Hồ bị kẹt như thế. Vả lại cụ có lối đánh trống lảng tài tình. Vấn đề gì cu thấy khó trả lời thỏa mãn người đối thoại, cụ lập tức nói sang chuyện khác, nói đến một vấn đề khác thật hấp dẫn, làm cho người nêu lên câu hỏi khó quên mất câu hỏi của họ.

Khoảng nửa giờ sau, những khách mời đến đầy đủ, và cũng vừa đúng giờ ghi trong thiếp mời, tức đâu khoảng 12 giờ trưa, cụ Hồ mời mọi người sang phòng ăn. Hiện nay Hotel Royal vẫn còn, có lúc còn được gọi là Hotel RoyalMonceau, và phòng tiếp tân tại nơi này vẫn không thay đổi gì nhiều, bàn ăn là một bàn chữ nhật lớn.

Cụ Hồ cầm tay tôi dẫn đến chiếc ghế bên trái cụ, và chỉ cho cha Lập ngồi bên phải, cha Hoàng Trọng Tiến ngồi đối diện.

Những anh em khác được cụ sắp xếp ngồi vào bàn. Từ lúc gặp các anh em Việt kiều cho đến lúc ngồi vào bàn an, cụ Hồ chỉ nói những chuyện lặt vặt, thứ chuyện mà người ta gọi là chuyện phiếm, không đâu vào đâu cả.

Nhưng trong mọi câu nói cụ Hồ thương khuyên anh em Việt kiều tham gia vào công cuộc đấu tranh đòi độc lập.

Lúc vào bàn ăn, cụ Hồ chẳng hề dùng cái lối đọc diễn văn long trọng. Cụ ngồi ngay vào bàn ăn, và lúc nâng ly rượu đầu, cụ nói giọng thật là nồng nàn, thành thật:

– Chính phủ bên nước nhà đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ độc lập, đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Nhưng muốn đem hạnh phúc cho toàn dân, thì phải thực hiện xã hội chủ nghĩa. Giả sử mà chúa Giêsu sinh ra đời vào thời đại này, trước sự đau khổ của người đời như lúc này, mà Chúa muốn cứu vớt, thì chắc là cũng phải theo xã hội chủ nghĩa.

Tôi và các cha mỉm cười vì cái lối so sánh kỳ cục của cụ Hồ, tôi trả lời cụ:

– Thưa cụ Chủ tịch, về việc tranh thủ độc lập, thì mọi người Việt Nam công giáo hay không công giáo đều sẵn sàng tham gia. Nhưng về việc thực hiện xã hội chủ nghĩa, thì chúng tôi thiết nghĩ có nhiều người không đồng ý rằng đó là giải pháp duy nhất để đem hạnh phúc lại cho con người.

Cụ Hồ vỗ vai tôi, cười:

– Cha lại tuyên truyền rồi.

Có lẽ lúc đó tôi còn trẻ, nên tôi có hơi long trọng trong câu chuyện một cách quá đáng. Tôi không cười, thưa lại:

– Thưa cụ Chủ tịch, tôi đâu có ý tuyên truyền. Tôi nói ra ai nghe thì nghe, ai không thì thôi, tôi chẳng bao giờ chủ trương bắt những người không nghe theo lời nói của mình vào trại tập trung cả.

Cụ Hồ chỉ khẽ cau mày:

– Đạo Công giáo chỉ được nước binh nhà giàu, về với nhà giàu. Nhà giàu chết thì giật chuông inh ỏi, làm lễ mồ long trọng, còn nhà nghèo chết thì im hơi lặng tiếng. Như vậy làm sao Chúa biết linh hồn nhà nghèo vừa thoát khỏi xác mà đến rước về thiên đàng?

Tôi lại càng nghiêm hơn nữa, và nhất định phải cãi lại cụ Hồ.

– Thưa cụ Chủ tịch, Đạo Công giáo chẳng hề bênh nhà giàu bao giờ. Chúa Giêsu ra đời trong gia đình nghèo khó, giảng đạo cho người nghèo trước. Nhưng sở dĩ có những người Công giáo nghèo, những người giàu, là vì đạo Công giáo là một thành phần xã hội, sống trong một xã hội, và xã hội đó có kẻ giàu người nghèo. Nếu xã hội có giai cấp thì đạo Công giáo phải chấp nhận, nhưng không phải là tán đồng hoàn toàn đâu. Đạo chủ trương mọi người ngang hàng, bình đẳng trước Thiên Chúa không phân biệt giai cấp chi cả.

Cụ Hồ làm thinh một lúc, mặt lúc ấy hơi nghiêm, nhưng cụ tươi cười ngay, đổi sang câu chuyện khác, giọng nửa bông đùa nửa thành thật:

– Các chú còn trẻ và đẹp trai cả sao không chịu lấy vợ đi? Các chú không lấy vợ, xã hội, đất nước thiệt thòi biết bao nhiêu?

Lúc này tôi dùng giọng bông đùa để trả lời cụ:

– Xin lỗi cụ chủ tịch, thế tại sao cụ không lấy vợ để làm lợi cho xã hội? Chúng tôi độc thân nhưng sự độc thân của chúng tôi không làm thiệt hại gì cho xã hội, cũng như độc thân của cụ chủ tịch vậy mà.

– Tôi độc thân được, nhưng các chú còn trẻ, độc thân sao nổi. Trông thấy hoa, sao khỏi muốn hái được.

– Thưa cụ, bây giờ cụ đã già, nhưng trước kia cụ cũng trẻ như chúng tôi, mà cụ vẫn độc thân được, thì chúng tôi cũng có thể độc thân được: chúng tôi cũng có thể trông thấy hoa mà không muốn hái vì bận theo một lý tưởng khác.

Thấy tôi cãi hơi hăng, cụ Hồ cười rồi bắt sang chuyện khác.

Trần Hữu Phương ngồi ở cuối bàn cất tiếng hỏi:

– Thưa cụ, cụ người ở đâu, xin cho chúng tôi được biết?

Cụ Hồ trả lời:

– Tôi người Việt Nam.

– Việt Nam nhưng là tỉnh nào?

Tôi nhìn về phía Trần Hữu Phương và nói:

– Anh Phương thật ngớ ngẩn, giọng của cụ là đặc giọng Nghệ An, anh còn hỏi làm gì nữa.

Mọi người cười ồ lên và bữa tiệc được tiếp tục trong bầu không khí vui vẻ đầm ấm cho đến hai giờ chiều mới tan.

Những hoạt động của Hồ Chí Minh trong ba tháng rưỡi ở Pháp

Một giai thoại được giới Việt kiều thời bấy giờ nhắc đến hoài, làm cho tôi phải nhớ lại. Tạp chí Le Paria là một tạp chí cộng sản cực đoan do chính cụ Hồ sáng lập và làm chủ nhiệm, chủ bút, kiêm nhiếp ảnh viên kiêm bình luận gia, trong những năm sau đệ nhất thế chiến, cùng với cụ Nguyễn Thế Truyền. Sau khi cụ Hồ rời nước Pháp, nó chuyển giao cho một đảng viên cộng sản Pháp và Đông Dương. Nó không sóng gió như ngày xưa, nhưng vẫn sống lây lất, và trong những ngày cụ Hồ sang Pháp lần này tạp chí Le Paria đăng một bức thư ngỏ lời cụ Hồ, nói là của những đồng chí do cụ đào tạo, nhưng thấy cụ phản bội nên nhất định chửi cụ, chống cụ.

Thư ngỏ như vầy:

“Chúng tôi là nhóm đồng chí ít ỏi còn lại do đồng chí (Hồ) đào tạo năm 1925. Những tư tưởng của đồng chí đã thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng chí như biểu tượng cho tất cả những tầng lớp thợ thuyền Việt Nam trẻ.

Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết mọi hy vọng sau thỏa ước ngày 8 tháng 3 (giữa cụ Hồ và D’Argenlieu, để Pháp thao túng Nam bộ). Đồng chí đã ký kết một thỏa ước chấp nhận tự trị mà không phải độc lập. Sức mạnh của lòng tin tưởng của chúng tôi đặt vào nơi cụ là lãnh tụ phong trào cách mạng phản đế ngày nay cũng ngang ngửa với lòng căm phẫn của chúng tôi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ là ngày xưa đã chọn lầm lãnh tụ.

Nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng… Họ sẽ tiếp tục con đường cụ đã vạch nhưng đã không noi theo cho đến cùng”.

Số báo Le Paria này đã gây nên một vụ tạm gọi là xì căng đan. Cụ Hồ phản đối chính phủ Pháp, cho rằng chính phủ Pháp cố tình làm rắc rối cho cụ, hạ nhục cụ, chế nhạo cụ. Cụ đòi gặp đại diện nhóm chủ trương tờ Le Paria. Trong một lần gặp gỡ với đại diện bộ ngoại giao Pháp, cụ Hồ đã làm mặt nổi giận, chua cay, trách móc chính phủ Pháp.

Đại diện bộ ngoại giao Pháp, chính phủ Pháp đã mắc bẫy, xin lỗi cụ Hồ bao nhiêu lần về vụ này, và những mật vụ Pháp, cán bộ thông tin mật của Pháp sau đó đã phải đi căn dặn các báo cần dè dặt trong mọi bài bình luận, chỉ trích gì đề cập đến cụ Hồ và vấn đề Việt Nam.

Trong lúc cụ Hồ ở Pháp, các bào Pháp tuy gọi là tự do, nhưng thông cảm với chính phủ, nên riêng các đề tài Việt Nam, thì coi như có kiểm duyệt. Nhưng mà ý cụ Hồ khi làm mặt giận vì bài báo Le Paria không phải chỉ có như vậy đâu. Cụ muốn lấy cái lập trường quá khích ở Le Paria để làm một tiêu chuẩn so sánh với lập trường thật là ôn hòa, mềm dẻo của cụ, và như thế chứng minh với người Pháp rằng ngày nay cụ và dân tộc Việt Nam đã chọn nước Pháp làm một đồng minh đàn anh, nghĩa là cụ chịu nhượng bộ nhiều lắm, nhưng Pháp cũng nên hiểu cho cụ, đừng bắt cụ nhượng bộ hơn nữa, bởi vì sau lưng cụ, còn những thành phần quá khích không thể nào cho phép cụ lùi thêm bước nữa.

Mấy tháng liền, nghĩa là từ ngày 22 tháng 6 đến 13 tháng 9, hội nghị Fontainebleau vẫn tiếp tục. Cụ Hồ bất mãn và thất vọng. Sau mấy phiên nhóm đầu, cụ hoàn toàn giao phó cho các đại diện. Nguyễn Mạnh Hà thường đi dự với nhiều nhiệm vụ, một trong các nhiệm vụ đó là thông ngôn, vì Hà giỏi tiếng Pháp, mà cũng giỏi tiếng Việt. Đôi lúc Hà trở lại gặp tôi và kể cho nghe những chuyện xảy ra trong hội nghị. Cụ Hồ có vẻ không gấp gáp ký bất cứ một hiệp ước gì với Pháp. Người ta có cảm tưởng cụ Hồ cố tình kéo dài hội nghị. Người Pháp thì cũng muốn kéo dài tình trạng nhập nhằng này, có lẽ để cho sự phân chia Nam bộ trở thành vững chắc và tự nhiên hơn. Bên Sài-gòn, chính phủ Nguyễn Văn Thinh trở thành bù nhìn thực sự của Pháp. Cả những cơ quan hành chánh cũng do người Pháp làm trưởng sở.

Người Pháp có cảm tình với cụ Hồ nhiều lắm. Nhưng có một điều bất ngờ cụ Hồ lúc sang Pháp không tính đến: những lãnh tụ cộng sản ngày nay ít ai biết đến và thân thiết với đảng viên cộng sản kỳ cựu trong những đảng viên sáng lập đảng cộng sản Pháp, sau đệ nhị thế chiến là Nguyễn Ái Quốc, nay là Hồ Chí Minh. Vì vậy sự hỗ trợ, hay thiện cảm của đảng cộng sản Pháp mà cụ Hồ đã mong mỏi không xảy ra.

Trong một buổi tiếp tân vào ngày 25 tháng 6, tức là trước ngày chúng tôi dự tiệc trưa lần thứ nhất với cụ Hồ tổ chức tại khách sạn Royal một cuộc tiếp tân long trọng mời rất đông quan khách. Đảng cộng sản Đông Dương ở Pháp, và cán bộ Việt Minh đi lôi kéo số Việt kiều, khoảng vài trăm người kéo đến quanh Hotel Royal biểu tình hoan hô tình thân thiện Pháp Việt, lúc cụ Hồ tiếp các chính khách, trí thức, nhân sĩ, báo giới Pháp bên trong khách sạn. Trong buổi tiếp tân này một đảng viên cộng sản Pháp, thuộc hệ phái Trotsky, tức là đệ tứ quốc tế, có hỏi trường hợp cái chết của Tạ Thu Thâu. Cụ Hồ làm mặt buồn rầu, thiểu não, đã trả lời rằng: Ông Thâu là một nhà ái quốc lớn, và chúng tôi rất buồn lòng khi hay tin ông mất.

Bị hỏi dồn, ai là thủ phạm thủ tiêu ông Thâu, cụ Hồ đã trả lời gắng gượng: Tất cả những ai đi sai con đường tôi đã vạch, đều phải bị tiêu diệt. Con người cộng sản giáo điều ở cụ Hồ hiện rõ trong câu nói đó, và câu nói tàn bạo đó giải thích được những hành động sau này của chính phủ Việt Minh ở vùng gọi là giải phóng.

Có lẽ nhờ tuổi tác, cho nên cụ Hồ nói chuyện thân mật với các thiếu phụ Pháp, đàn bà Pháp rất tự nhiên. Trong cuộc tiếp tân này, tổ chức trong vườn hoa Hotel Royal, cụ Hồ đã tự hái những bông hồng đẹp nhất cài lên áo, lên tóc những bà mệnh phụ tham dự, kèm theo những lời khen áo đẹp, những câu ca tụng nước Pháp.

Ngày 13 tháng 7, cụ Hồ mở cuộc họp báo, và các bài tường thuật được đăng trên một vài báo Pháp. Lúc đó báo chí quốc tế chưa chú ý mấy đến vấn đề Việt Nam, vì họ xem đây là một vấn đề nội bộ của nước Pháp. Bộ ngoại giao Pháp cũng đang vận động với các Tòa đại sứ đồng minh, nhất là với Mỹ và Anh, để thu hẹp tầm quan trọng của vấn đề này thành chuyện nội bộ của Pháp. Cuộc họp báo ngày 13-7 đã không có tiếng vang như cụ Hồ mong ước.

Trong cuộc họp báo này, cụ Hồ đã xác nhận cụ là Nguyễn Ái Quốc. Cụ trả lời báo Le Monde, đã hỏi cụ về lai lịch của cụ, trong câu hỏi có nêu thắc mắc cụ Hồ có phải là Alias Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc hay không? Cụ Hồ mỉm cười, trả lời một cách mập mờ, nước đôi: “Tôi đã phải sống lén lút, chui rúc, cho nên cái việc đội tên này tên nọ không có gì đáng ngạc nhiên. Và tôi chỉ thực hiện công khai kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1945” (ngày tuyên cáo độc lập). Cụ Hồ lên Ba-Lê ngày 22 tháng 6, nhưng mãi đến ngày 2 tháng 7, tức 10 ngày sau, cụ mới gặp thủ tướng Pháp Georges Bidault. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và Bidault có vẻ khinh thường cụ Hồ. Trong thông cáo chung cụ Hồ đã hết sức nhún nhường, mềm dẻo: Chúng ta sẽ thành tâm hợp tác với nhau theo tinh thần nhân bản mà các triết gia Khổng giáo cùng các triết gia Tây phương đều chia sẻ, để thiết lập một mối liên hệ mới giữa những con người cùng tự do, và cùng tương quan với nhau. Như chúng ta thấy, bản thông cáo đã cố tình bỏ sót cái ý: giữa hai quốc gia tự do độc lập, tương quan.

Ngày Cát-To-Duy-Ê (14/ 7) 1946: Cụ Hồ thành Quốc Khách của Pháp

Nhờ những cuộc vận động khôn khéo, dần dà cụ Hồ trở thành thượng khách của chính phủ Pháp, của nước Pháp. Chúng ta thấy cụ đã đi từ chỗ ở kín đáo tại thành phố Biarritz, đến Ba-Lê, và vào ngày 14 tháng 7 tức là ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đã được xếp chỗ ngồi trên hàng ghế danh dự, ngang hàng thủ tướng Bidault. Trong cuộc lễ hôm đó, cụ Hồ đã nhân danh quốc trưởng Việt Nam đặt vòng hoa tưởng niệm lên mồ chiến sĩ vô danh. Từ đây cụ có tư thế một quốc khách của Pháp rồi.

Như nói trên ông Bidault là một người có tinh thần thực dân và khinh miệt người Việt Nam lộ liễu. Trong việc sắp xếp chỗ ngồi trong ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đòi ngồi ngang hàng với ông Bidault, nhưng ông Bidault nhất định không chịu như vậy. Cuối cùng ban nghi lễ phải sắp nhiều khán đài gần nhau, nhưng cái cao cái thấp, hơn kém nhau vài phân. Cụ Hồ được sắp ngồi cũng tạm gọi là ngang hàng với ông Bidault trên khán đài riêng, thấp hơn khán đài ông Bidault vài phân, nhưng ở xa thì thấy ngang nhau.

Cụ Hồ được xếp ngồi chung với các lãnh tụ cộng sản như Thorez và các bộ trưởng cộng sản như Tillon (bộ trưởng không quân).

Những ngày ở Ba-Lê kéo dài mà không ích lợi gì. Hội nghị Fontainebleau, theo lời kể của Nguyễn Mạnh Hà, thì chỉ là một phiên họp để Pháp ra điều kiện và phái đoàn Việt Minh từ chối cách nào cho khéo léo, để không tan vỡ ngay là được rồi.

Cụ Hồ chán nản, và nhân một hôm gặp lại một người bạn Pháp quen thân lâu năm, vợ chồng ông Raymond Aubrac, hiện sống trong một biệt thự rộng rãi ở vùng quê phụ cận Ba-Lê, cụ Hồ để phái đoàn của ông lại Hotel Royal, trong lúc cụ và vài thơ ký dời đến ở nhà ông Aubrac. Vợ ông này là bà Lucie Aubrac, là dân biểu cộng sản trong quốc hội Pháp. Cụ Hồ dời về nhà gia đình Aubrac từ ngày 12 tháng 8 và ở lại đó cho đến ngày 15 tháng 9 tức là ngày cụ rời Pháp trở về Việt Nam.

Chính phủ Pháp dành cho cụ Hồ và phái đoàn Việt Minh vài chiếc xe du lịch, tôi nhớ hình như là mấy chiếc Citroen, loại ba hàng ghế, với tài xế và cận vệ cùng một đội cảnh sát. Lúc dời về nhà Aubrac, cụ Hồ đem theo chiếc xe, nhưng yêu cầu khỏi có cảnh sát. Mỗi sáng cụ dậy sớm, duyệt qua các báo Pháp, các bản tường thuật phiên họp hôm trước, rồi dùng sáng với gia đình Aubrac và lên Ba-Lê.

Càng kéo dài, hội nghị Fontainebleau càng lâm vào tình trạng bế tắc, đổ vỡ. Fontainebleau là một nơi tuy chẳng xa Ba-Lê lắm, nhưng khí hậu lại lạnh, và phòng họp thì thiếu tiện nghi. Những người Việt Nam tham dự hội nghị có lẽ vì cái rét lạnh không quen ở Pháp, đâm ra lầm lì. Phía phái đoàn Pháp chỉ gồm những chuyên viên cề vấn đề thuộc địa, mà không có một nhân vật chính trị có hạng nào cả.

Vì vậy vấn đề được đặt ra đều không thể giải quyết tại chỗ, mà phải chờ phúc trình lên. Điểm bất đồng lớn nhất giữa hai phái đoàn, hai quốc gia, là phía Việt Minh thì muốn đứng trên lập trường một quốc gia độc lập, chủ quyền, để thương thuyết về mối liên hệ theo pháp lý quốc tế, với một quốc gia bạn.

Trong lúc phía Pháp muốn coi hội nghị này như một cuộc họp nội bộ giữa chủ và tớ, mà chủ dĩ nhiên là nước Pháp. Họ chỉ muốn phái đoàn Việt Minh chấp thuận những ân huệ của Pháp, nếu có sửa đổi thì chỉ sửa đổi đôi chút thôi. Điểm bất đồng quan trọng thứ hai, là phái đoàn Việt Minh quan niệm nước Việt Nam thống nhất từ Cà Mau đến Nam Quan, do một chính phủ và dĩ nhiên là chính phủ Việt Minh cai trị.

Phái đoàn Pháp theo chỉ thị của chính phủ và dựa theo thỏa ước tháng 3, thì coi vấn đề lãnh thổ Việt Nam chưa được giải quyết: Nam bộ đã có chính phủ tự trị dưới nhãn hiệu giả Nguyễn Văn Thinh, nhưng được hứa là sẽ có tổ chức trưng cầu dân ý để quyết định sát nhập hay tách riêng. Trung và Bắc kỳ thì có thể trao cHồ Chính phủ Việt Minh, nhưng chính phủ này phải công nhận tính cách chuyển tiếp, lâm thời và phải chờ sau cuộc trưng cầu dân ý toàn cõi Việt Nam mới dứt khoát.

Tuy nhiên có một điều mà chính phủ Pháp không biết và nếu biết thì có lẽ hội nghị Fontainebleau không tan vỡ, chính phủ Việt Minh coi việc thống nhất ba miền quan trọng hơn vấn đề độc lập. Do đó nếu Pháp chịu để cho ba miền thống nhất, thì Việt Nam có thể chấp nhận qui chế tự trị trong liên hiệp Pháp. Nhưng lúc bấy giờ Pháp theo chủ trương và mưu kế của D’Argenlieu, đã tách Nam bộ thành cộng hòa Nam bộ tự trị, cho nên bây giờ nhượng bộ điểm này ngay, khi chưa có trưng cầu dân ý thì có vẻ Pháp chịu thua sao. Cho nên Pháp không nhượng bộ về vấn đề thống nhất lãnh thổ.

Đến ngày 12 tháng 9, hội nghị Fontainebleau kể như tan vỡ. Một phần phái đoàn Việt Minh đã rời nước Pháp trở về Hà Nội.

Một thông cáo của phái đoàn Việt Minh được phổ biến, cố che dấu sự thất bại, cố mở rộng cửa thương thuyết.

Thông cáo không có nói đến những điều gì đã thỏa thuận được, mà chỉ nói rằng hai chính phủ “mong ước” sẽ tiếp tục nói chuyện nhau ở những cấp bộ địa phương về những thỏa ước giới hạn.

Tại Hà Nội những phần tử quá khích rục rịch nổi lên chống lại Việt Minh. Khi hay tin hội nghị Fontainebleau thất bại, các đảng phái cách mạng đã công khai chỉ trích chính phủ Việt Minh và cụ Hồ.

Vì vậy cụ Hồ muốn mang về nước ít ra một thỏa ước nào minh bạch hơn là một bản thông cáo không có giá trị gì hết. Cụ chỉ còn trông cậy vào một con đường: ký với Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là bộ Thuộc Địa Pháp, một thỏa ước kiểu đó. Dĩ nhiên đây là một thiệt thòi nhục nhã Hồ Chính phủ Việt Minh: quốc trưởng một quốc gia, dù nhỏ bé không thể nào hạ mình ký kết với một bộ trưởng, lại là bộ trưởng bộ Thuộc Địa.

Làm như vậy đương nhiên cụ Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa, chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp.

Lần thứ ba, cụ Hồ nói rõ phải đánh Tây nếu…

Từ ngày 11 tháng 9, gần như suốt ngày, có lúc lẫn sang đêm, cụ Hồ đã đến gặp ông Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp. Trong những ngày cuối cùng ở Pháp này cụ Hồ lúc nào mặt cĩng có vẻ buồn rầu, đau khổ, trầm ngâm. Những Việt kiều thỉnh thoảng gặp cụ không mấy lúc thấy cụ cười nữa.

Trong khoảng thời gian này, chúng tôi và một số Việt kiều khá đông nhận được thiếp mời của cụ Hồ, mời dự một buổi tiếp tân ở nhà ông Raymond Aubrac. Hầu hết những Việt kiều tôi quen biết đều được giấy mời.

Những người trong nhóm quen biết với tôi không mấy ai giàu, cho nên cùng hẹn chung nhau đi chuyến xe buýt. Lúc chúng tôi đến khoảng 4 giờ chiều, thì số Việt kiều có mặt rồi khá đông, có khoảng vài trăm người. Tôi cứ ngại là sau hai lần gặp gỡ cụ Hồ, lần nào tôi cũng lên tiếng cãi lại cụ, lần này có thể cụ sẽ bực mình với tôi.

Nhưng điều tôi không ngờ, là cụ Hồ niềm nở với tôi như trước. Cụ đón chúng tôi ngay gần cổng vào vườn.

Buổi tiếp tân tính tổ chức trong vườn, cho nên tôi đã thấy bàn ghế kê sẵn, đèn mắc sẵn, trên các nhành cây, bụi hoa. Cụ Hồ bắt tay tôi, rồi khoác vai tôi kéo vào một chiếc ghế đôi trong vườn. Tay cụ vẫn bá vào vai tôi, có lúc cụ vòng tay lại trước ngực tôi, mân mê những nút áo, và bàn tay gầy guộc của cụ đã đụng vào má, vào cằm tôi. Cử chỉ thân mật này, nếu ở bất cứ một người nào khác, chắc là tôi không chịu, nhưng ở cụ Hồ thì tôi thấy nó tự nhiên quá, và không có lý do gì để tôi từ chối cả.

Anh em vây quanh cụ Hồ, phần nhiều là những thành phần trí thức trong đó có những người quen nhiều với tôi hỏi han tình hình, kết quả hội nghị Fontainebleau. Tôi thấy mặt cụ Hồ thoáng sậm lại, vừa buồn, vừa chua chát, vừa căm hận. Nhưng rồi cụ mỉm cười liền được. Cụ trả lời bông đùa, mập mờ, đại ý rằng thành công hay thất bại chẳng quan trọng gì cho lắm, thua keo này ta bày keo khác.

Lúc đó khoảng 5 giờ chiều. Vài giọt mưa bắt đầu rơi xuống. Mọi người kéo nhau vào trong nhà. Cụ Hồ vẫn đặt tay trên vai tôi, kéo tôi vào phòng khách.

Phòng khách tuy rộng nhưng cũng khó chứa hết vài trăm người, nếu mỗi người đều phải có ghế ngồi. Cụ Hồ lên tiếng yêu cầu mọi người dẹp ghế vào sát tường rồi ngồi bệt xuống nền nhà cho tiện. Cụ kéo tôi ngồi xuống trước nhất. Tôi thấy không có gì để nói. Các anh em Việt kiều liên tiếp hỏi cụ, bây giờ hội nghị Fontainebleau kể như thất bại rồi, cụ tính sao? Cụ Hồ trả lời nước đôi, cố tình giấu diếm điều gì đó:

– Hội nghị vẫn tiếp tục. Chúng ta có tục ngữ: còn nước còn tát mà. Nhưng nếu hội nghị thất bại, chúng ta sẽ liệu đối phó.

Một anh em Việt kiều hỏi.

– Thưa cụ chủ tịch, nước Pháp có binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, chúng ta lấy gì để đánh Pháp, và đánh như vậy thì hy vọng gì mà đánh?

Cụ Hồ nhìn thẳng mọi người, giọng cương quyết:

– Chúng ta có nhân dân, nếu nhân dân quyết tâm đánh, thì dù Pháp mạnh đến mấy cũng phải thua. Tất nhiên là không ai muốn chịu cảnh chiến tranh, vì thắng hay bại thì cũng phải thiệt hại nhiều. Nhưng một khi thương thuyết không kết quả, thì chúng ta không còn cách gì khác.

Cụ Hồ có lẽ để tránh những câu hỏi lắc léo, hoặc vì một lý do nào đó tôi không được biết, cụ đứng lên đi vào nhà trong. Vài phút sau, cụ trở ra và vẫn ngồi xuống cạnh tôi. Một gia nhân đi theo đến trước mặt tôi:

– Thưa cha, bà chủ mời cha vào có chuyện muốn thưa với cha.

Tôi theo gia nhân vào một phòng khách nhỏ, lối phòng khách phụ nữ, bà Lucie Aubrac đứng lên bắt tay tôi, tươi cười mời tôi ngồi:

– Hôm nay tôi rất sung sướng thấy các linh mục, những nhà trí thức Việt Nam như các ông Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông cùng đến dự cuộc tiếp tân của cụ Hồ.

Tôi thấy đây là một triệu chứng tốt tỏ rõ dân tộc Việt Nam không phân biệt tôn giáo, giai cấp đã đoàn kết sau cụ Hồ.

Sau vài câu chuyện phiếm, bà Aubrac xin chụp hình tôi làm kỷ niệm. Tôi nhận thấy bà có một dụng ý nào đó, nên ngần ngại.

– Thưa bà, hình một thầy tu như tôi thì có ra gì đâu, xin bà khỏi phải chụp làm gì.

Bà Aubrac có vẻ muốn chụp cho được hình tôi.

– Thưa cha, ít khi chúng ta có dịp gặp gỡ như thế này, tôi chỉ muốn xin chụp hình cha làm kỷ niệm.

Tôi đã thấy hai chiếc máy hình, loại máy hình lớn, có chân lớn ba càng trên phủ tấm vải đen của các thợ chụp hình chuyên môn thời đó. Tôi vẫn từ chối:

– Nếu bà chụp hình để làm kỷ niệm, bỏ vào Album gia đình thì dù không thích tôi cũng không dám từ chối, nhưng nếu bà chụp hình để ngày mai hình tôi lên báo L’humanité kèm theo một bài bình luận đại khái nói rằng linh mục Luận ủng hộ lập trường cụ Hồ hết mình, thì tôi xin bà cho phép tôi từ chối.

Bà Aubrac vẫn tươi cười:

– Nếu cha đã không bằng lòng cho lên báo, thì chúng tôi sẽ giữ làm kỷ niệm trong gia đình vậy.

Thợ chụp hình ngắm nghía, chụp riêng tôi vài bô, chụp tôi đứng chung với bà Aubrac vài bô. Tôi ra phòng ngoài, đứng ở một góc hơi xa cụ Hồ. Hình như cụ vẫn chờ tôi ra nên vừa thấy tôi, cụ đã bước lại gần, kéo tôi ngồi xuống bên cạnh như trước. Cụ có vẻ thân mật, tha thiết hơn:

– Tôi sắp về nước, nhân tiện chú nên viết một bức thư gửi các giám mục, các giáo sĩ bên nước nhà, các vị sẽ mừng vì thấy các vị linh mục trẻ bên Pháp đã hiểu và ủng hộ lập trường của chính phủ ta.

Hồ Chí Minh yêu cầu tôi viết một lá thơ…

Từ sau lần gặp gỡ thứ hai, cụ Hồ đã quen gọi tôi là chú, khi thì gọi là linh mục. Vẫn theo thói quen, tay cụ vẫn mân mê những nút áo chùng thâm của tôi, những chiếc nút có bọc vải bên ngoài, và khá lớn. Tôi dè dặt:

– Thưa cụ chủ tịch, bên nước nhà có đến 14, 15 vị giám mục, bây giờ tôi biết viết thư cho ai? Vả lại khi tôi rời nước nhà đi du học thì còn trẻ tuổi, không có hân hạnh thân thiết với các ngài cho lắm.

Cụ Hồ có vẻ trầm ngâm, suy nghĩ, tìm tòi một lúc, rồi cụ làm ra vẻ mừng rỡ như đã khám phá được điều quan trọng:

– Chú hãy viết thư cho Đức cha Lê Hữu Từ được rồi. Ngài là cố vấn tối cao của chính phủ ta, và cũng là bạn thân của tôi, tôi sẽ đưa tận tay ngài.

Tôi đã hiểu cái dụng ý chính trị của cụ Hồ trong việc này, cho nên tôi muốn từ chối khéo léo:

– Thưa chủ tịch, tôi được giấy mời đến đây dự tiệc tiễn đưa cụ chủ tịch, không có chuẩn bị chi cả, nên bây giờ cụ chủ tịch bảo viết thư, tôi chẳng biết viết thế nào cả. Vả lại tối nay sau khi từ biệt cụ chủ tịch tôi phải đáp xe hỏa đi Louvain ngay, thuyết trình tại một đại hội truyền giáo ở đó. Ở đây có ông Trương Công Cừu, Tổng thư ký hội Việt kiều công giáo Ba-Lê, để ông Cừu viết thư cũng được vậy.

Cụ Hồ cau mày, có vẻ phật ý:

– Linh mục, hay một linh mục nào khác viết thư thì mới có giá trị, chớ một giáo dân thì không ích lợi gì.

Tôi hẹn lại:

– Nếu vậy để tôi về thưa lại với các cha khác, và có thể họ sẽ viết thư vềrồi trao cho cụ chủ tịch sau.

Câu chuyện về lá thư tạm kết thúc ở đây, và cụ Hồ không nhắc lại nữa. Tôi đi Louvain nên không dự buổi tiếp tân đến cuối được. Tôi kiếu từ ra về sớm hơn các người khác. Cụ Hồ tiễn tôi đến cửa phòng khách, bắt tay, tươi cười, và mời tôi về nước.

Những điều tôi viết ra về Hồ Chí Minh, một phần qua những lần tiếp xúc trực tiếp giữa tôi với cụ Hồ, một phần do những câu chuyện, những tin tức mà tôi được biết đến thời bấy giờ, và tôi không dám nói là tôi biết nhiều hơn các sử gia. Sau này tôi không còn gặp lại cụ Hồ một lần nào. Năm 1947 tôi về nước, có tìm cách trở vào địa phận Vinh, lúc bấy giờ thuộc kiểm soát của chính phủ kháng chiến Việt Minh, nhưng vì không thể bắt liên lạc với các bậc thẩm quyền địa phận Vinh cho nên tôi phải lưu lạc Hà Nội, rồi vào Huế và từ Huế tôi ra Hương Phương, Hòa Ninh ở lại mấy tháng. Tình hình lúc bấy giờ làm tôi thay đổi ý định, vì biết rằng dù có ra Xã Đoài, tôi cũng không giúp ích gì được.

Lúc bấy giờ trong vùng Việt Minh kiểm soát, phong trào đàn áp công giáo tuy chưa lộ liễu, nhưng đã bắt đầu, và nhiều làng công giáo đã tách rời để thành lập những khu biệt lập, bên ngoài dựa theo Pháp, nhưng thực tâm không mong gì hơn là được sống yên lành.

Cụ Hồ đến phòng ngủ Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp

Những ngày cuối cùng của hội nghị Fontainebleau, tức là ngày đầu tháng 6, trong lúc phái đoàn Việt Nam vẫn còn tham dự hội nghị thì Hồ Chí Minh lúc bấy giờ đang ở trong nhà gia đình dân biểu cộng sản Raymond Aubrac, mỗi sáng khoảng 10 giờ, đi xe lên Hotel Royal Monceau, duyệt lại các tài liệu, phúc trình, hội nghị ngày hôm trước, rồi theo chương trình đã sắp xếp trước, cụ đến Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là Bộ Thuộc Địa, hội đàm với ông Bộ trưởng Marius Moutet.

Những cuộc họp riêng và kín này bắt đầu vào khoảng ngày 7 tháng 9, lúc hội nghị Fontainebleau không còn hy vọng gì đi đến một giải pháp mà cả Pháp lẫn Việt Minh có thể chấp nhận.

Những gặp gỡ giữa cụ Hồ và ông Marius Moutet hình như do ông Jean Sainteny và một nhân vật cộng sản trong chính phủ Pháp thời bấy giờ là ông Tillon, Bộ trưởng Không Quân sắp xếp và khuyến khích, với mục đích vừa không làm mất lòng đồng chí cộng sản Hồ Chí Minh, tức Alias Nguyễn Ái Quốc, và từng là sáng lập viên đảng cộng sản Pháp, mà lại không đi ngược lại quyền lợi và chính sách của nước Pháp.

Những người gặp cụ Hồ lên xe đến bộ Pháp Quốc Hải Ngoại thời bấy giờ đều kể lại với tôi rằng: mặt cụ đăm đăm, trán cau lại thành những vết nhăn không lúc nào phai được.

Cụ lặng lẽ bước lên xe, người như gập đôi lại trên chiếc ghế sau. Người cận vệ duy nhất của cụ bước lên cạnh ghế tài xế, và lập tức người tài xế là một đảng viên cộng sản Pháp do ông Aubrac giới thiệu, rồ máy xe, từ từ chạy đến bộ Thuộc địa.

Không một người nào khác tham dự những buổi họp kín này. Theo lời một vài người kể lại với tôi, thì có nhiều buổi sáng cụ Hồ như ngần ngại, lo sợ đến thẳng bộ Thuộc Địa, và khi gần đến, bỗng cụ ra hiệu cho tài xế đi lòng vòng trong thành phố Ba-Lê vài chục phút, rồi đột ngột cụ chép miệng, bảo tài xế thôi hãy đến bộ Thuộc địa.

Vài ký giả chực trước cửa bộ Thuộc địa để xin phỏng vấn, đều bị từ chối đôi lúc một cách khéo léo, đôi lúc một cách cứng rắn. Những ai nhìn thấy mặt cụ Hồ lúc bấy giờ dù rất muốn săn tin, cũng không nỡ nài ép. Trong mấy ngày, trông cụ già thêm mười tuổi.

Không ai biết rõ những điều được thảo luận giữa cụ Hồ và ông Marius Moutet. Lúc đó có ý định của Pháp trong vấn đề Việt Nam đã khá rõ rệt, Pháp muốn thành lập 3 vùng riêng biệt, nếu có thể thì biến thành ba quốc gia không liên hệ gì với nhau. Nam kỳ tự trị, gọi là Cộng hòa Nam kỳ, hoàn toàn do Pháp chi phối qua những bù nhìn kiểu Nguyễn Văn Thinh. Nước Việt Nam, mà trong mọi danh từ chính thức Pháp vẫn cố tình gọi là Annam, có thể gồm từ phía Bắc Phan Thiết ra đến biên giới Hoa-Việt, có thể giao cHồ Chính phủ Việt Minh, và một cao nguyên tự trị, và một cao nguyên tự trị, chạy đi từ vùng Đà Lạt, Tuyên Đức, lên đến Ban Mê Thuộc, Kontum. Lúc bấy giờ có nhiều tin đồn nói rằng Pháp đã tìm thấy trong vùng Cao Nguyên này, và phần Cao Nguyên thuộc lãnh thổ Lào tiếp giáp với vùng này những khoáng sản quí báu: than đá, dầu hỏa, Uranium v.v…

Nhìn nét mặt cụ Hồ sau buổi họp kín với bộ trưởng Thuộc Địa Marius Moutet, người ta đoán được rằng cụ Hồ đã nhượng bộ thêm một chút. Lúc bấy giờ cũng có nhiều tin đồn trong giới Việt kiều ở Pháp, đồn rằng nước Pháp thấy không thể buộc cụ Hồ chấp nhận một giải pháp hoàn toàn có lợi cho Pháp, đang muôi ý định bắt cóc, hay giam lỏng cụ Hồ không cho về nước, nếu cụ không ký kết với Pháp một thỏa hiệp công nhận Cộng Hòa Nam Kỳ, và Cao Nguyên tự trị. Tất cả chỉ là những tin đồn bởi vì cho đến hôm nay lịch sử vẫn không cho biết rõ những cuộc thảo luận tại bộ Thuộc Địa Pháp đã diễn ra như thế nào, tranh luận về những vấn đề nào. Nhưng càng ngày người ta càng thấy cụ Hồ mất bình tĩnh, buồn thảm chán ngán hơn một chút.

Sau buổi tiếp tân tại nhà Aubrac, chiều tối đó tôi đi xe lửa sang Louvain, Bỉ, dự một buổi thuyết trình của Hội Thừa Sai. Hai hôm sau tôi trở lại, và ngày nào cũng có một vài Việt kiều đến nói chuyện với tôi về số phận hội nghị Fontainebleau, và những cuộc gặp gỡ giữa cụ Hồ với ông Moutet. Nhờ đó, tuy không gặp lại cụ Hồ một lần nào trước khi cụ rời nước Pháp, tôi cũng biết được, như mọi người lúc bấy giờ có thể biết, những gì xảy ra quanh cụ Hồ.

Nguyễn Mạnh Hà ở lại cho đến ngày cuối cùng, trong lúc một phần phái đoàn Việt Minh tham dự hội nghị Fontainebleau về, đã rời Pháp, đi tàu thủy từ Marseille về Sài Gòn, ghé Cap, rồi ra thẳng Hà Nội.

Những cuộc hội đàm giữa cụ Hồ và Moutet không hề được văn kiện hóa.

Cụ Hồ là người có trí nhớ phi thường, và để giữ bí mật hoàn toàn về nội dung những cuộc mật đàm này cụ không muốn lập một văn kiện gì về những cuộc mật đàm đó. Một lần gặp Nguễn Mạnh Hà, sau khi từ Louvain về Ba-Lê, tôi có hỏi về nội dung những cuộc họp ở bộ Thuộc Địa, Hà lắc đầu, nói rằng Hà cũng chỉ biết qua những tin đồn, qua nét mặt càng ngày càng buồn thảm của cụ Hồ, sau mỗi lần gặp ông Moutet. Và Hà đoán rằng những cuộc gặp gỡ mật đó không thể nào gọi là một thành công đối với cụ Hồ. Hà cùng tôi thảo luận về những giả thuyết, những tin đồn và hỏi nhau liệu người Pháp có dám bắt cóc hay giữ cụ Hồ lại không. Không ai có thể trả lời được.

Một việc mà Hà cho tôi biết vào những ngày đầu tháng 9, là những điện tín theo mật mã hay ám ký, từ Hà Nội đánh sang. Đại loại thì những điện tín đó đều tỏ ra sốt ruột, lo lắng, thúc giục cụ Hồ mau trở về nước, vì hiện có nhiều biến chuyển trọng đại tại nước nhà đòi hỏi sự có mặt của cụ.

Một điện tín đề cập đến tình trạng căng thẳng ở Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Vụ Bắc Ninh xảy ra đâu trong tháng Tám: một toán quân tự vệ Việt Minh phục kích một đoàn quân tải lương của Pháp, giết gần trọn đoàn quân này và cướp được lương thực, súng ống. Hình như vụ này do chính Võ Nguyên Giáp và Chu Văn Tấn bày ra khi hay tin Hội nghị Fontainebleau kể như bế tắc để làm áp lực với chính phủ Pháp.

Tại Lạng Sơn, đồn binh Pháp sống trong tình trạng bị bao vây và cô lập. Quân Pháp không dám ra ngoài, sợ bị ám sát, bắt cóc, và sợ dân chúng đánh đập. Hải Phòng xảy ra vài vụ lộn xộn giữa lính Pháp và các thanh niên tự vệ thành.

Tại Nam bộ, người Pháp than phiền rằng tướng Nguyễn Bình đang mộ quân, lập căn cứ, xây dựng hạ tầng cơ sở trái với thỏa ước tạm thời 8 tháng Ba giữa D’argenlieu, (Jean Sainteny ký thay) Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh.

Nguyễn Bình không chịu tập trung quân vào khu chỉ định chờ một giải pháp chính thức, trái lại Nguyễn Bình mở đường sang Cao Miên và Lào, tìm cách liên kết với các nhóm cách mạng chống Pháp khác, như Hòa Hảo của Huỳnh Phú Sổ.

Đối với những vụ này, cụ Hồ luôn luôn tìm cách trấn an người Pháp, và cụ có lúc dựa vào những điều đó, để yêu sách Pháp thêm một chút, nhưng hình như cụ không thành công. Có tin tướng Leclerc được thay thế bởi tướng Valluy. Cụ Hồ và các lãnh tụ Việt Minh rất tin tưởng vào tướng Leclerc, và lo sợ tinh thần thực dân quá khích của tướng Valluy và những bộ hạ của ông như đại tá Debès, đô đốc Battet.

Tất cả những tin tức từ nước nhà làm cho cụ Hồ buồn phiền thêm, và linh cảm một sự đổ vỡ trầm trọng trong bang giao Pháp Việt. Cụ Hồ là người biết rõ một cuộc chiến tranh sẽ tai hại đối với dân tộc Việt Nam như thế nào. Cụ lại đặt nặng vấn đề thống nhất ba vùng lên trên cái danh từ độc lập, hay chủ quyền. Nhưng người Pháp đã quyết liệt không muốn cho Việt Nam thống nhất. Lúc bấy giờ Pháp lại đã thỏa thuận được với Lào và Cao Miên, để đặt lại một chế độ bảo hộ mới, trá hình dưới chiêu bài Liên Hiệp Pháp.

Phe De Gaulle thì gần như bị loại ra hết khỏi chính phủ, và tướng De gaulle đã trở về trại mát Colombey des Deux Eglises trí sĩ và viết hồi ký, không tham dự gì vào chính trị nước Pháp, do đó những lời hứa hẹn của ông trong diễn văn đọc ở Brazaville được coi như vô giá trị.

Trong bầu không khí đó, cuộc họp buổi chiều kéo dài mãi đến 9 giờ tối, cụ Hồ mới rời bộ Thuộc Địa ra về.

Trông cụ càng thiểu não hơn bao giờ. Vài phút sao thì Moutet cũng ra xe về tư dinh, và người ta thấy nét mặt ông Moutet cũng chẳng tươi tắn gì hơn. Ông Moutet theo tiết lộ một vài người thì tối đó đã không dùng bữa, vào ngay phòng ngủ, đóng kín cửa và lên giường liền. Về sau người ta được biết ông Moutet bị cảm và vì đó, trong cuộc họp chiều 14-9, cụ Hồ và ông ta đã trao đổi những lời xẵng giọng gần như là cãi lộn với nhau. Câu cuối cùng của ông Moutet hình như là một câu từ chối.

Về đến Hotel Royal, cụ Hồ cũng về ngay phòng riêng nhưng người ngoài vẫn thấy cửa sổ phòng cụ Hồ sáng đèn, và cụ Hồ ngồi làm việc cho đến gần nửa đêm.

Gần nửa đêm cụ Hồ đích thân gọi điện thoại cho ông Moutet. Ông Moutet đang ngủ, yêu cầu có chuyện gì dù khẩn cấp mấy cũng xin chờ cho đến sáng mai, ông mệt và bị cảm không thể nói chuyện gì được nữa. Cụ Hồ nài nỉ rằng cụ sẽ đến gặp ông tại nhà riêng ngay lập tức, chỉ 5 phút nữa thôi, và không để cho ông Moutet kịp từ chối, cụ Hồ cúp điện thoại.

Theo người Pháp kể lại, thì ông Moutet cũng không ngờ là cụ Hồ sẽ đến gặp ông ngay, cho nên ông lên giường ngủ lại. Nhưng quả thực cụ Hồ đã rời Hotel Royal, cùng với một cận vệ và tài xế đến nhà ông Moutet ngay.

Ông Moutet kể lại rằng ông vừa chợp mắt, thì gác cửa bảo là cụ Hồ đến, và đã đến, và đã lên thẳng phòng ông.

Khi cụ Hồ vào thì ông Moutet còn nằm trên giường, tung chăn ngồi dậy bận áo ngủ, ngồi trên giường. Cụ Hồ và người cận vệ bước vào. Cụ Hồ đến ngồi vào chiếc ghế đầu giường ông Moutet, cố lấy nét mặt vui tươi cởi mở nói rằng cụ đến để ký kết những điều được thảo luận lúc chiều, chỉ xin thay đổi vài chi tiết nhỏ.

Ông Moutet lại yêu cầu cụ Hồ ngày mai sẽ họp và ký cũng chẳng vội gì. Đại ý là cụ Hồ đã nói rằng cái gì đã xong hãy cho xong luôn, không nên chờ sáng ngày mai những việc có thể làm xong đêm nay.

Ông Moutet khoác thêm chiếc áo choàng, gọi bồi đem cà phê đậm lên, rồi hai người cùng ra ngồi đối diện nơi chiếc bàn trong phòng ngủ. Ông Moutet gọi thơ ký riêng soạn lại văn kiện đã được dùng làm căn bản trong cuộc thảo luận lúc chiều, rút ra một bản đúc kết, đánh máy thành nhiều bản, và trao cho cụ Hồ.

Cụ Hồ chỉ đọc qua, không sửa đổi gì đặt bút ký ngay. Ông Moutet ký vào bên cạnh, và đó là bản thỏa ước được gọi là Modus Vivendi ngày 14 tháng 9 với những điều khoản căn bản được công bố trên báo chí ngay sáng 15 tháng 9:

1) Chính phủ Việt Minh công nhận giá trị thỏa ước tạm thời 8 tháng 3 và thỏa hiệp Đalat, tức là công nhận Cộng Hòa Nam Kỳ cho đến lúc có một cuộc trưng cầu dân ý tại Nam bộ để quyết định sự thống nhất hay tách rời Nam bộ khỏi Việt Nam.

2) Mọi lực lượng Việt Minh tại Nam bộ được tập trung vào những khu chỉ định, được giải giới, chờ đợi trưng cầu dân ý. Chính phủ Việt Minh hứa không gởi thêm quân, cán bộ và Nam bộ.

3) Chính phủ Việt Minh công nhận người Pháp có quyền tiếp tục khai thác các cơ sở kinh tế có sẵn khắp Việt Nam.

4) Hai chính phủ cùng thỏa thuận coi người Pháp và người Việt Nam ngang hàng, tuy nhiên chính phủ Việt Minh phải dành một sốo độc quyền cho Pháp, cố vấn Pháp, nhân viên văn hóa Pháp.

5) Về vấn đề tiền tệ, hai chính phủ cam kết sử dụng một loại giấy bạc duy nhất, lấy đồng quan Pháp làm căn bản.

6) Chính phủ Việt Minh bằng lòng cứu xét việc gia nhập Liên Hiệp Pháp theo chiều hướng thuận, và đổi lại chính phủ Pháp bằng lòng giúp đỡ Việt Nam về kinh tế, văn hóa và quân sự.

7) Một hiệp ước chính thức và vĩnh viễn sẽ được thảo luận và ký kết trong một hội nghị mới sẽ được mở sau, do sự tham khảo giữa hai chính phủ.

Trên thực tế, thỏa ước 14-9 cũng như thỏa ước tạm thời 8 tháng 3, là những nhượng bộ lớn của Việt Minh đối với Pháp, nhưng trên nguyên tắc thì Việt Minh dành được một vài điều gọi là thắng lợi chẳng hạn như đã được chính phủ Pháp coi là một phe đối thoại có thẩm quyền, và hứa hẹn sẽ có một hội nghị chính thức quan trọng để thảo luận tiếp.

Thỏa ước 14-9 đã được ký âm thầm, vào nửa đêm.

Nguyên văn bản thỏa ước này đã không được phổ biến ngay trong những ngày sau đó. Cụ Hồ đã họp báo. Chính phủ Pháp đã không tổ chức tiếp tân hay tiệc đưa nào. Các báo Pháp thời bấy giờ chỉ đăng thành vài tin.

Sau ngày 15 tháng 9 nhiều anh em Việt kiều tỏ vẻ buồn cụ Hồ.

Vì bất đồng rõ rệt quá, tôi không có ý định, cũng chẳng muốn tìm cách gặp lại cụ Hồ. Cụ Hồ cũng từ chối tiếp bất cứ ai.

Suốt hai ngày cuối cùng, cụ Hồ không ra khỏi phòng. Ông Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa có đến thăm cụ Hồ một lần cuối cùng, hình như do lời yêu cầu của cụ Hồ để thu xếp chuyện trở về Việt Nam của cụ. Ngày 17 tháng 9 cụ Hồ âm thầm rời Ba-Lê.

Anh em Việt kiều có tính chuyện tiễn đưa cụ, cử vài đại diện đến gặp cụ trình bày việc đó.

Vài đại diện khác tiếp xúc với ban Nghi lễ bộ Ngoại Giao và bộ Thuộc Địa nhưng được cho biết là ngày về của cụ Hồ chưa được tiết lộ. Họ hẹn lần nữa là lúc nào có việc gì, sẽ tin cho các Việt kiều. Phái đoàn lên xin gặp cụ Hồ cũng không được tiếp, người thư ký nói cụ Hồ mệt không muốn tiếp khách. Chương trình đưa tiễn vì thế không thành.

Ngày 18, anh em Việt kiều hay tin cụ Hồ đã rời Ba-Lê đi Toulouse. Cụ Hồ rời Ba-Lê có vẻ âm thầm và vội vàng. Về nước trên một tiểu đỉnh của Hải quân Pháp, chiếc Dumont d’Urville. Có người kể lại rằng lúc bước lên chiếc tàu Dumont d’Urville cụ Hồ lặng lẽ đi qua hàng thuỷ thủ dàn chào, lặng lẽ bắt tay các nhân viên bộ Ngoại Giao và bộ Thuộc Địa Pháp, không nói một tiếng. Các sĩ quan trên tàu Dumont d’Urville về sau kể lại rằng, lúc tàu ra khơi, nét mặt cụ Hồ trở lại bình thường, đôi lúc tươi vui, tuy lúc nào cũng có vẻ trầm ngâm, tư lự. Thường những buổi sáng sớm, và chiều, cụ lên đứng trên boong tàu ngắm cảnh mây nước mênh mông, hệt như một thi sĩ tìm vần thơ trong cảnh trời đất vậy. Trong các bữa ăn, cụ Hồ ngồi chung với các sĩ quan của chiến hạm, trong số này có một vị linh mục tuyên uý. Bây giờ thì cụ linh hoạt, bui bẻ nói chuyện với mọi người. Cụ Hồ đem vấn đề hiện hữu của thiên Chúa ra tranh luận với linh mục tuyên uý. Câu chuyện con gà và cái trứng được mang ra, và cụ Hồ nhất định không chấp nhận co một con gà hay một cái trứng đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng. Ý cụ Hồ không phải tranh luận để đi đến kết luận, mà chỉ tranh luận để cho vui câu chuyện trong bữa ăn.

Có những lúc cụ Hồ đi hết mọi nơi trong tàu, ngồi lại nói chuyện với các thuỷ thủ. Cụ Hồ từng hiều lần làm bồi tù, cụ quen đi biển, quen thuộc đời sống trên tàu biển, cho nên cụ nói chuyện với các thuỷ thủ như là một thủy thủ già kinh nghiệm vậy.

Tôi và các anh em Việt kiều ở Pháp lúc đó, nếu được biết các điều này cũng qua những tin truyền miệng, những tin trên báo chí Pháp mà thôi. Dĩ nhiên là chúng tôi hết sức tò mò muốn biết mọi việc cụ Hồ làm hay mọi việc gì xảy ra cho cụ Hồ, vì đó nếu có một anh em nào có tin gì, hay đọc được việc gì trên báo liên quan đến cụ Hồ, thì lại đi nói với nhau, chuyền cho nhau xem.

Những chuyện về sau đó thì báo chí Pháp có đăng lại, như chuyện cụ Hồ gặp cao uỷ Pháp là ông D’Argenlieu trên thiết giáp hạm Suffren, neo ngoài khơi vịnh Cam Ranh, ngày 18 tháng 10. Sau cuộc gặp gỡ và vào buổi chiều, người Pháp mời một số ký giả Pháp và Việt Nam đến dự một cuộc họp báo trên chiến hạm Suffren. Lúc một chiếc tiểu đĩnh chở các ký giả từ Cam Ranh ra cặp vào chiến hạm Suffen, thì cụ Hồ đứng ngay trên boong tàu gần cầu thang, đưa tay vẫy chào.

Trong cuộc họp báo, cụ Hồ và cao uỷ Pháp D’Argenlieu ngồi bên nhau. Nét mặt D’argenlieu nghiêm nghị, mặt cau lại, mắt đăm đăm nhìn cụ Hồ. Trong lúc đó thì cụ Hồ cười cợt, đùa giỡn với các ký giả. Cụ quay qua người này, người nọ, hỏi han về xứ sở về nghề nghiệp của họ. Cụ Hồ có trí nhớ phi thường. Cụ ở Pháp lâu năm, thạo những thổ âm, hiểu rành những tập quán từng địa phương, những đặc điểm của từng vùng nước Pháp. Vì đó cuộc họp báo trở nên một cuộc phiếm luận rất vui vẻ.

Sau một lúc nói chuyện phiếm vui với các ký giả, cụ Hồ chính thức vào vấn đề, nói rằng báo chí Việt Pháp đã tỏ ra quá khó tính, quá nghiêm khắc đặt nhiều đòi hỏi vào hội nghị Fontainebleau. Cụ mô tả sơ sài hội nghị Fontainebleau và nói sơ lược về những điểm chính của thoả ước 14 tháng 9, chưa phải là đã kết thúc được mọi vấn đề tranh luận mà chỉ mở đầu cho một cuộc thương thuyết lâu dài, thường xuyên.

Cụ hứa sẽ mở một hội nghị mới vào tháng giêng năm 1947, và lúc đó những vấn đề chưa được giải quyết sẽ được đem ra thảo luận.

Đề đốc D’argenlieu có vẻ không muốn cho cụ nói quá nhiều về hứa hẹn họp hội nghị sắp tới, cắt ngang lời cụ Hồ, trịnh trọng tuyên bố rằng những cuộc thương thuyết vừa qua là một bước quan trọng trên con đường đi đến sự thoả hiệp tốt đẹp giữa hai chính phủ, hai dân tộc.

Một sự kiện quan trọng xảy ra vào cuối cuộc họp báo đó, được các báo Pháp chú ý đặc biệt, đăng lên thành tít lớn trang nhất.

Sau khi nghe D’argenlieu tuyên bố trịnh trọng như vậy xong, cụ Hồ đột ngột đứng lên, bước lại gần D’argenlieu và giữa lúc chưa ai biết chuyện gì xảy ra, thì cụ Hồ ôm chầm lấy D’argenlieu, như hai anh em thân thiết, hay như hai người bạn cố tri. Dĩ nhiên hình ảnh này được các nhiếp ảnh viên ghi lại trong phim của họ, và hôm sau được đăng rõ ràng trên báo. Nhìn bức ảnh, chúng tôi ở Ba-Lê cũng thấy rõ nét mặt ngơ ngác, hơi khó chịu đến là buồn cười của D’argenlieu. D’argenlieu không còn có thể làm nghiêm được nữa, cho nên ông tươi cười, đưa tay ôm cụ và cảnh này kéo dài có đến hơn một phút.

Cụ Hồ theo chiến hạm Suffren ra Hải Phòng, trong lúc các ký giả Pháp ké trên máy bay của quan Cao uỷ d’Argenlieu trở vào Sài Gòn. Tàu cặp bến Hải Phòng ngày 23 tháng 10. Quang cảnh đón tiếp cụ Hồ ở Hải Phòng thì dĩ nhiên là những người Việt Nam nào ở đó lúc bấy giờ đều còn nhớ. Tôi chỉ được biết qua những bài tường thuật của báo Pháp, và báo Cứu Quốc được gởi từ Hà Nội sang Pháp vài tuần sau đó. Sự cảm động thương xót và một chút ý thức hài hước làm tôi chú ý và thán phục cụ Hồ về cái tài lợi dụng cả được những sự thất bại để biến thành sự thành công. Trên thực tế, hội nghị Fontainebleau và thoả ước 14 tháng 9 là một thất bại ngoại giao lớn nhất, đau nhất cho cụ Hồ, và cho Việt Nam.


Ảnh: Linh mục Cao Văn Luận và giáo sư Lê Thanh Minh Châu thăm Đại học bang Michigan, 1958.

ho-huu-tuong-ve-khai-hung

Hồ Hữu Tường về Khái Hưng

Bài Khái-Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của “văn chương sáng giá” của Hồ Hữu Tường, đăng trên Văn, số 22, năm 1964.


Mười tám năm qua, Khái-Hưng từ giã cõi đời, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Một đôi người biết những việc mà Khái-Hưng và tôi trù liệu vào những tháng chót của năm lịch sử, 1946, càng tiếc hơn nữa. Phỏng cho Khái-Hưng còn sống mười năm nữa thôi, thì tờ báo văn-nghệ Thời Phong, lúc ấy vừa kết thai, sẽ viết những trang gì trong lịch sử văn chương ở nước nầy? Rồi họ giục tôi nhắc lại khoảng đời đó của Khái-Hưng. Để cho những tài hoa hậu sinh nào thích thú thì dẫm bước theo con đường mà tác giả Hồn Bướm Mơ Tiên toan dấn thân vào…

Khái-Hưng tìm làm quen với tôi trước. Lúc ấy, tôi ở Hà-nội, trốn trong một cái phòng, không bước chơn ra ngoài, vì sợ trinh sát Việt-Minh gặp mà nguy cho tánh mạng. Ở trong phòng tôi bị ám ảnh bởi thần chết. Để đánh tan cái ám ảnh ấy, tôi viết. Viết sách phổ thông với mục đích là kiếm tiền để sống. Viết sách tư tưởng không cần xuất bản. Mỗi cuốn sách đều mang một bút hiệu khác nhau. Và với bút hiệu Huân Phong, tôi viết quyển Muốn làm chánh trị, viết để chơi, không cần xuất bản. Quyển nầy được một nhóm nhỏ sinh viên thích, họ chuyền tay nhau mà chép lại mỗi người một bản để giữ làm kỷ niệm và cho người thân yêu đọc mà thôi.

Không biết do ai tọc mạch mà Muốn làm chánh trị lọt vào tay Khái-Hưng. Theo lời của Khái-Hưng nói lại, Khái-Hưng đọc mê say một mạch. Và không tìm xin phép tác giả, Khái-Hưng đã trích một khúc rất dài mà đăng trong tờ tuần báo Chính nghĩa lúc ấy được Khái-Hưng coi sóc việc biên tập. Khúc ấy tựa đề là “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca“. Những độc giả cũ của Chính nghĩa chắc có nhiều người còn nhớ bài ấy. Lúc ấy, tôi đã viết ít nhiều sách phổ thông, song chưa sáng tác gì về văn nghệ, nay được một nhà văn có tên tuổi là Khái-Hưng để ý đến như vậy, tôi không khỏi có chút vui mừng.

Mấy tháng sau, Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà sách Minh Đức tổ chức những cuộc gặp gỡ hàng tuần giữa những nhà văn “không xếp hàng” tức là không ở trong Văn Hóa Cứu Quốc của Việt minh, thôi nhóm Hàn Thuyên, và thôi Tự Lực Văn Đoàn… Những người đầu tiên được mời là Tú Mỡ, Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Phạm Ngọc Khuê và tôi. Sau đó có thêm Phan Khôi, Đồ Phồn. Thỉnh thoảng có cả Vi Huyền Đắc…

Sau ba bốn lần hội, thình lình có Khái Hưng đến, có ý trách chúng tôi sao không mời anh, vì mặc dầu điều khiển tờ nhựt báo Việt Nam và tờ tuần báo Chính Nghĩa, cả hai toàn là cơ quan của V.N.Q.D.Đ., song ấy vì tình bạn với anh Tam mà làm, chớ bản thân của anh là một người “không xếp hàng” trong mặt trận văn hóa. Chúng tôi công nhận anh ngay vào nhóm. Và chiều thứ bảy nào, anh cũng đến dự buổi ăn chung. Khác có điều là vào mười hai giờ khuya, anh phải về lo bài cho báo. Chúng tôi thì ở lại, thức cả đêm để trao đổi cái thú vui của văn nghệ.


Khái-Hưng hiền lành, ít nói, hay cười, chớ không nghịch như Đoàn Phú Tứ, ranh mãnh như Nguyễn Tuân. Ăn xong, chúng tôi tự do, hoặc tụ một nơi, hoặc nhóm thành vài ba nhóm nhỏ. Có khi hai người muốn thân mật thì kéo nhau vào một phòng riêng mà tâm sự. Tú Mỡ và Nguyễn Xuân Khoát thích hát chèo, thì ngồi ngay dưới gạch, tay vỗ lên gạch lấy nhịp mà cùng hát. Nguyễn Tuân bữa nào cũng say, hết bên nhóm nầy, thì đến nghe chuyện của nhóm khác.

Khái-Hưng trầm tĩnh, tò mò và sâu sắc hơn cả, thường gầy những cuộc nói chuyện tay đôi với tôi để truy tôi về những gì mà tôi đã viết trong Muốn làm chánh trị. Về sau anh thú nhận: những bạn khác thảy là người quen lâu rồi và anh đến đây để hiểu rõ tôi hơn.

Điều mà anh thắc mắc hơn cả là tôi có nhiều ý kiến khác thường về cuộc tranh biện sôi nổi, vào những năm 1935, 1936, đối lập bên này là Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư, bên kia là hầu hết những cây bút có tiếng của phái mác xít, thì tại sao, lúc ấy là một lý thuyết gia của Đệ Tứ, tôi lại không tham chiến?

Tôi nhắc lại vấn đề nầy, bởi vì gần đây, ở Pháp, vừa diễn ra cuộc tranh biện giữa một bên là J. P. Sartre, một bên là những chiến sĩ của “tiểu thuyết mới”. J.P.Sartre phân biệt người “écivant” và nguồn “écrivain“. Thật ra danh từ thì mới, song ý niệm vốn có nguồn gốc nơi hai phái, l’art pour la viel’art pour l’art đã rạch ranh giới giữa hai phái văn sĩ có tiếng vào nửa thế kỷ sau của thế kỷ mười chín.


Tôi đáp lại rằng, theo tôi thấy, thì có ba loại văn nghệ chớ không phải là hai. Nhưng trong hoàn cảnh năm 1935, đặt vấn đề có ba mà không phải có hai là sớm quá, làm loạn tư tưởng của công chúng, chớ không giúp họ tiến thêm; vì vậy mà tôi nín.

H. – Bây giờ anh có thể nói thêm được chưa?

Đ. – Được. Sau gần một năm cách mạng, nói ra, ai cũng thấy rõ. Ba thứ văn nghệ ấy là: một là văn nghệ du hí, hai là văn nghệ ca tụng, ba là văn nghệ sáng giá. Vào thời bình hay thời phản cách mạng, hai thứ văn nghệ trước phồn thịnh hơn. Nhà văn viết để chơi, mà công chúng cũng thích loại văn ấy. Thứ văn nghệ du hí nầy là cả cái hệ thống nghệ thuật vị nghệ thuật… Có nhà văn viết để ca tụng, nịnh nọt, hoặc nịnh nọt chế độ, hoặc nịnh nọt người có quyền, hoặc nịnh nọt thị hiếu suy đồi của độc giả…

H. – Còn cái văn nghệ sáng giá là gì?

Đ. – Sáng là sáng tạo. Giá là giá trị. Một áng văn chương có tánh chất sáng giá là khi nào nó sáng tạo được một giá trị mà vào thời đại đó, được xem là một giá trị mới. Thành ra áng văn chương ấy hướng dẫn tư tưởng con người, dìu dắt lịch sử, lãnh vai trò tiên phong.

H. – Anh thử nêu vài thí dụ xem.

Đ. – Anh vốn biết quyển Nourritures terrestre của A. Gide, xuất bản trước giặc, mà trong mười mấy năm, chỉ bán có hai trăm quyển thôi. Vì nó nêu những giá trị có trước thời đại. Chừng công chúng tiêm nhiễm được thì ai cũng mua đọc. Một thí dụ khác: những tác phẩm của Gorki đã sáng tạo được một tâm hồn cách mạng. Song, cũng ca tụng xã hội chủ nghĩa như Gorki, mà các nhà của phái réalisme socialiste sau nầy không sáng tạo giá trị mới nào cả. Họ chỉ thuộc vào loại văn nghệ ca tụng.

H. – Như vậy, tánh chất của văn nghệ là một tánh chất tương đối, tương đối với vị trí của nó với sự biến đổi lịch sử. Phải không?

Đ. – Phải. Nước ta là một nước lạc hậu. Dân ta phải luôn luôn đi hia bảy dặm mới rượt theo kịp các dân khác. Một văn phái là một huyền-ngưng của một hệ thống giá trị luôn luôn biến đổi…


Lần sau, Khái-Hưng bộc bạch những suy tư mà anh đã có sau khi có cuộc nói chuyện trước. Anh nói:

– Những giá trị mà Tự-lực Văn-đoàn sáng tạo ra, xuyên qua thời cuộc, đã hóa ra lỗi thời. Ngày anh Tam rời văn nghệ để sang làm chánh trị cũng là ngày lịch sử ghi dấu chấm dứt sứ mạng của nhóm. Cuộc cách mạng đã dọn chỗ cho một trào lưu mới về văn nghệ. Bọn Văn-Hóa Cứu-Quốc nay đóng vai trò văn-chương ca tụng để tô điểm tòa kiến trúc mới là chế độ cộng sản. Tôi nghe chừng chúng ta, vì chống báng chế-độ, chúng ta phải sáng tạo những giá trị mới, làm một thứ “văn-chương sáng giá” như lời của anh. Phải có giá trị mới mới thắng họ được. Chớ lấy giá trị cũ mà chống họ, không nổi. Tôi hiểu tại sao anh rời bỏ Đệ Tứ. Còn ôm ấp giá trị giống với giá trị của họ, Đệ Tứ là thiểu số, làm sao chống lại số đông là họ. Phải có bửu bối hay hơn họ, mới thắng họ nổi. Tôi đã đăng bài “Ba lần giác ngộ sau cùng của Phật Thích Ca” vì thấy nó có duyên, pha một ý nghĩ hay hay. Bây giờ tôi mới hiểu tất cả giá-trị tượng-trưng của đoạn văn ấy.

Từ đó, Khái-Hưng và tôi hóa ra kẻ tri âm. Khái-Hưng rủ tôi cộng tác viết tiểu thuyết, cốt chuyện, triết lý do tôi xây dựng, Khái-Hưng lãnh phần trình bày cho có nghệ thuật. Tôi có xây dựng một ít nhân vật, phác một cốt chuyện, đặt tên tiểu thuyết là Gái nước Nam làm gì? trong tạp chí Tiên-Phong của Hội Văn-Hóa Cứu-Quốc, nhà xuất-bản Minh-Đức đã cho quảng cáo rầm rộ tên quyển tiểu thuyết này, gọi là để cấm ranh mà khẩn đất… Sau nầy về Nam, để tưởng nhớ Khái-Hưng, tôi thử viết để tả một vài nhân vật mà tôi đã xây dựng. Rồi dưới cái nhãn hiệu chung là Gái nước Nam làm gì? tôi đã trình bày được hai nhân vật là Thu Hương và Chị Tập. Sự ướm thử nầy để cho tôi thấy là tôi không có tài viết tiểu thuyết, nên tôi không nối tiếp nữa.

Khái-Hưng già hơn tôi, song say mê, hăng hái, kiên quyết hơn tôi nhiều. Sau khi đình bản tờ Việt Nam, anh chạy vốn, mướn nhà, mua giấy… để cho ra một tuần báo văn nghệ hầu đề cao cái “văn chương sáng giá”. Chúng tôi đồng ý chọn tên là Thời Phong.

Thời Phong có nghĩa là gió mùa, gió mùa ngự trị cả Á-châu, là nơi chôn nhau cắt rún của các tôn giáo lớn. Thời phong có nghĩa là cái chỉ hướng gió. Hiểu một cách khinh miệt, thì nghĩa bóng của tiếng ấy dùng để chỉ bọn luôn luôn hướng theo thời cuộc. Còn hiểu một cách đề cao, thì đó là một dụng cụ giúp cho người vượt biển biết hướng gió mà giương buồm cho đúng phép.

Mười tám năm qua, Khái-Hưng không còn. Chỉ còn cái sự nghiệp khi là đồng trụ của nhóm Tự-lực Văn-đoàn. Còn cái mộng to làm vị nguyên soái của “văn chương sáng giá” thì ô hô, liệu hai quyển Thu Hương Chị Tập có chút giá trị gì miên trường để nhắc nhở lại tên bộ tiểu thuyết trường giang là Gái nước Nam làm gì?

Hồ Hữu Tường
31-X-1964


Photo: HANOI 1946 – Le Petit Lac, manhhai

phan-khoi-tan-da-va-chung-toi-1971-tam-ich-viet

Phan Khôi, Tản Đà và chúng tôi (1971), Tam Ích viết

Bài viết của Tam Ích đăng trên Văn học,
số 122, xuất bản năm 1971


Nếu có phải quen ông Tản Đà thì các anh Vũ Bằng, Thượng Sỹ, Trương Tửu, Lưu Trọng Lư… quen nhà thi hào ấy hơn tôi. Nhưng nếu nói về kỷ niệm, thì đối với cụ Phan Khôi có đôi điều hơi khác, hình như vậy! Nói khác đi, có một việc để lại trong lòng tôi một kỷ niệm chua chát để hận trong lòng tôi cho đến ngày tôi sẽ gặp cụ Phan Khôi dưới chín suối – còn cái chuyện có ngậm cười hay không ngậm cười dưới suối vàng, lại là một chuyện khác…

Nhưng trước khi kỷ niệm, tôi xin thưa đôi điều, để trả một món nợ tinh thần mình trả cho chính mình.

a/ Người ta thường nói “Quảng nam hay cãi, Quảng ngãi hay co, Bình Định… và khi nói thế là người nói có ý nói người Quảng Nam hay cãi đây là cãi chày cãi cối. Đó là một điều sai lầm khủng khiếp: đất có Ngũ-Hành-Sơn là đất phát sinh ra người thông minh – chả thế mà có Ngũ Phụng Tề Phi! – họ cãi nghĩa là họ không tuyệt đối chấp nhận lời nói người khác; nói một cách khác óc phê-phán họ phát triển đến cực độ. Ở đời không có ai… u mê bằng những người chấp nhận lời thiên hạ, kể cả thánh hiền mà coi nó như giáo-điều: cái bịnh giáo-điều làm hại sự tiến hóa của tư-tưởng loài người không kể sao cho hết! Phật còn phải nói “ngón tay chỉ trăng không phải là trăng” kia mà!

b/ Cái câu “si jeunesse savait si vieillesse pouvait” chẳng phải là câu bâng quơ. Người thanh niên bao giờ cũng hiếu thắng và khi nói ra cứ in trí là mình đúng. Khi về lúc nhiều tuổi mới thấy mình đã… lố. Đã lố là có… hại – đã có hại là gieo điều thất đức! Đó là trường hợp của kẻ viết bài hồi ký này. Tôi nhớ rõ ràng, một hôm tại giảng đường đại học Vạn-Hạnh, có một sinh viên đại-đức hỏi tôi rằng tôi quan niệm sự nghiệp-báo ra sao. Tôi trả lời không cần nghĩ: “thưa anh, con người không bao giờ linh hơn vạn vật, con người chỉ thông minh hơn vạn vật mà thôi, linh khác, thông minh khác; đã mang cái cơ thể bằng xương thịt và chứa tâm can tỳ phế lục phủ ngũ tạng bèo nhèo bầy nhầy (có lẽ là chữ Visqueux trong hiện sinh luận đó!) thì ai cũng làm tội lỗi, điều mà thiên chúa giáo gọi là péché: lớn nhất là đút đàn bà trẻ con vào “Gour crémantoire” và tàn sát người không gớm tay, nhỏ nhất là làm chết một con ruồi; và ở vào “cỡ” giữa hai cái lớn cái nhỏ ấy là nói một câu làm thiên hạ đau xót… Thưa anh, có kẻ ra pháp đình đền tội, hết tội rồi thì ra tù; chứ kẻ khác làm những thứ tội không có ghi trong sách luật pháp thì là vô tội vạ à? Thưa các anh chị, có một cái vạn hô kính, một cái vạn vạn vạn hoa kính có hằng hà sa số sự trừng phạt khác, cái bản chất khác, cái cỡ khác, cái trình độ khác, cái bề dài, bề ngang, khác cái kích thước phóng vào con người chứ! Chứ! Tôi thì tôi… nghĩ một cách triết lý quê mùa vậy đó, tôi quan niệm đó là một hình thức của nghiệp báo”

Tôi nhớ rõ hôm đó, thầy trò chúng tôi ở giảng đường đại học trầm ngâm đăm đăm, ai cũng có một ý tưởng trong đầu – băn khoăn, khó hiểu, ừ nhỉ lạ quá nhỉ, ừ nhỉ kể cũng có lý, ừ mà có lý làm sao, ừ mà phải tu a tăng kỳ kiếp mới hết được nghiệp đi chăng! Đúng như nhà Phật nói:

Xin thưa lại: người trẻ tuổi làm nói trước là làm là nói trước đi, mà kể cũng khó nghĩ đấy. “Lịch sử làm bằng thanh niên tính và lầm lẫn” (L’histoire est faite par des jeunes et des erreurs!). Ngày nay nhiều tuổi, tôi đã hối hận hằng hà sa số điều – trong đó có điều đối với người đáng kính Phan Khôi mà ông Tản Đà đòi chém – và kêu là cái nạn Phan Khôi – vào giữa tiền bán thế kỷ hai mươi.

c/ Chúng ta thường đòi chính quyền cho tự do ngôn luận – nghĩa là đòi chính quyền chấp nhận ý-tưởng và lời ăn tiếng nói đối lập của quần chúng. Tại sao giữa người và người, giữa cá nhân với cá nhân, giữa đoàn thể với đoàn thể, lại không chấp nhận nhau một cách vui vẻ tự-do ngôn-luận. Cứ có ai nói ra một ý gì thì đã có mắng, có chửi, có công kích, có cho là sai, có cho là lầm… lầm thế nọ lầm thế kia. Đôi khi còn mạt sát nhau nặng lời! Ông Phan Khôi mới chạm tới Hán nho Tống nho thì Tản Đà đã đòi chém rồi – chỉ vì Tản Đà cho rằng Phan Khôi hỗn với tiên-hiền – kể cả Chu-Hy, Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo… không lẽ các ông Trình ông Chu toàn thiện toàn mỹ đến không có điều gì đáng trách đáng cho chúng ta ngày sau gọi là tháng! Thánh trong như ngọc, trắng như ngà, tâm can tỳ phế làm bằng pha-lê! Chu Trình đối với Tản Đà là hiền-nhân quân-tử; vậy chứ Tản-Đà đối với người ba trăm năm sau đây là thánh hiền đó à? Chỉ nghĩ thế, đã thấy ông Tản Đà và thấy chính con người chúng ta là… kỳ cục.

Thưa: Con người chẳng linh mà cũng chẳng thông minh: con người chỉ là một sinh vật phi-lý không biết rằng mình là cái gì, yếu tính mình ở đâu, suốt đời dối người và dối mình! – điều mà Jean Paul Sartre nói quanh quẩn mãi mà nói không có lối ra, nói không hết! Không hơn không kém!

Bây giờ rào đón rồi, tôi mới xin nói chuyện ông Phan Khôi và tôi: ông là người rất thẳng, rất trực, rất trung thành với ý tưởng của mình, không sợ dư luận – không sợ chết. Tôi quen cả cụ, mà lại thân cả với con cụ là anh Phan Thao, nghe nói sau này là một nhân vật quan trọng trong mặt trận Việt Minh, vì ngày xưa chúng tôi cùng dạy với nhau một trường.

Số là năm 1936, có ở toàn cõi Đông dương phong trào Đông dương đại hội tưng bừng rộn rịp. Có thể nói là trong lịch sử dân tộc Việt nam, đó là một chuyện hiếm có, hiếm đến có thể không xảy ra đôi lần, hiếm mà không túm lấy kịp thì không bao giờ trở lại! Nói khác đi, đó là một phong trào gần như là có một không hai trong lịch sử. Anh em ở Huế mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham dự: cụ từ chối. Trong cái Ủy ban lâm thời ở Trung Việt, có cụ Phan Khôi và ông Võ Đình Thụy lúc đó là dân biểu Trung Kỳ. Cái Ủy ban lâm thời có cả bạn Lạc Nhân Nguyễn quí Hương ở trỏng, chỉ còn chờ làm xong nhiệm vụ, sơ thảo đồ án, họp đại hội chính thức, giao lại cho Ủy ban chính thức, rồi từ chức để cho phong trào nẩy nở, trưởng thành, và nuôi cho nó lên vùn vụt cho dân tộc Việt nam nhờ!

Không ngờ: “thiên ký sinh Du hà sinh Lượng”, có anh Hải Triều, người đã cùng với Hải Thanh, Hải Vân, Hồ Xanh, v.v… tranh luận về duy tâm và duy vật với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư. Kẻ viện Plékanov, Boukharine, kẻ viện Gide, Valéry… – thực ra cái viện thiên hạ để củng cố ý kiến nầy chỉ có một tác dụng là tỏ cho thiên hạ biết rằng mình dở mà thôi: Việc gì lại cứ phải viện thánh hiền đông tây nói đôi điều mà chính mình hiểu được, niệm được – có phải chỉ có thánh mới có được cái mớ ý tưởng ấy đâu kia chứ hở trời!

Nói cho có lý, nói cho hợp lý, nói cho nghe được vào lỗ tai, nói cho thông minh thừa nhận, thế là được, cần gì cứ phải vác Boukharine, Gide ra để làm ra vẻ ta đây có đọc thiên kinh vạn quyển!

Hải Triều với Phan Khôi là mặt trăng và mặt trời! Tôi là người đại diện cho tỉnh Vinh (Nghệ an) cũng có mặt tại Huế – tôi vào phe Hải Triều cho đó là một điều hãnh diện! Mà nào 22 tuổi đầu, tôi đã biết “mạc-xít” là gì cho ra đầu ra đuôi đâu! Là mạc xít, là đệ tam, là tả phái… lúc đó là một cái mốt – một thứ thời thượng, người ta theo nó cũng như mặc áo gấm.

Chả biết giữa hội nghị, tranh luận ra sao, mà cả thính đường đả đảo cụ Phan Khôi và đòi đuổi cụ ra khỏi phòng. Tôi, Tam Ích, cũng đứng lên, dơ tay, đả đảo! Cụ thản nhiên cầm nón đứng lên đi ra giữa sự đả đảo ồn ào. Mà thực ra, thì Hải Triều là mạc-xít còn cụ Phan thì cụ không theo giáo điều nào hết. Nho giáo kia đã nặn cụ thành cụ mà cụ còn nói phải quấy nên chăng, huống là!

Chuyện Đông dương đại hội, chuyện Godart rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì chính quyền thực dân cấm họp nữa. Thế là hết: ai về nhà nấy. Tôi còn nhớ cụ Phan Bội Châu cho tôi hai đồng bạc, cụ Tú Kiên cho hai đồng, làm lộ phí trở về Vinh. Về đến Vinh, tôi viết bài công kích cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chối tham dự đại hội (Vì ý anh em muốn có sự có mặt cho có uy tín) và một bài công kích ông Phan Khôi đăng ở báo Việt-Nam ở Saigon. Mới có 22 tuổi đầu, nói hăng lắm: trình độ hỷ nộ ái ố đều cao cao!

Năm 1938, tôi (đã vào Saigon rồi) cùng dạy Pháp văn tại trường trung học Chấn Thanh với cụ Phan Khôi và con cụ là anh Phan Thao cùng với anh Phan Ngọc Châu hiện là giáo sư trường Văn Hiến cùng với anh Phan Khoang mà ngày nay làm giảng sư đại học văn khoa.

Cụ Phan Khôi hình như đã là người thiên cổ rồi!

Ngày nay tính sổ nhân sinh tôi có hai thứ tôi đã làm, một việc vào năm 1936 mà người ta gọi là snob – ít nhiều thôi. Cho đến năm 1946 tôi đã làm một việc cho khỏi thẹn với con dân đất nước: tù tội tra tấn rồi việc lôi kéo việc, việc này lôi kéo việc kia, cái sử-tính cá nhân của con người tôi dài dằng dặc, thỉnh thoảng tính sổ kế-toán – công ít, tôi chẳng biết là bao nhiêu, chỉ biết cái tội bất-bình với cụ Phan Khôi cũng là tội lớn. Ngày nay, đã có hai thứ tóc, sân khấu thuộc về những bạn thanh niên từ Pháp về: Nguyên-Sa, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Bùi Xuân Bào… học thức có dư sinh tố có thừa, đủ kích thước làm lịch sử, thay thế hệ cũ – đã cũ! Rien ne vaut une vie: đời người là một cái dốc cho người leo hộc máu mồm ra, toát mồ hôi hột ra đời người còn là những phút ân hận làm mất giấc. Une vie nevaut rien: ba vạn sau ngàn ngày, thưa cụ Phan Khôi, cụ nằm xuống cục đất phóng lên trên mồ xanh, nghìn thu vĩnh biệt. “Trăm năm dũ áo chốn tuần ai, còn gì mới là được!” thưa cụ Phan Khôi?

Thưa Cụ Phan câu đó là câu của ông Tản Đà trong bài “Cờ bạc” – cái ông ngày xưa định chém cụ đó!

André Mabraux nói cái câu tiếng Pháp ấy là nói cho cả hai ông đấy: cho Phan Khôi và cho Tản Đà!

Cho cả chúng ta, ai tai!
Một mớ Sisyphe! Sắc sắc không không, có gì mà bắng nhắng kìa!

Giáp tết Tân Hợi.
Tam Ích

truong-tuu-ve-to-tam-1925-cua-hoang-ngoc-phach

Trương Tửu về Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách

Trương Tửu phê bình tiểu thuyết Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, bài đăng trên báo Loa, số 75, ngày 25/7/1935.


Văn-học Việt-Nam hiện-đại

Đề mục này hứa một cái đặc-sắc.
Nó tuyên bố và sẽ chứng-thực một phương-pháp phê-bình mới.
Căn-cứ vào lịch sử quan và những luật tâm-lý, xã-hội, nghệ-thuật để nghiên-cứu, phân tách, tổng quát, phán-đoán, định giá những nhà văn hiện đại.
Có những chữ xác định, những câu chặt chẽ đủ tóm-tắt tinh-thần mỗi nhân-tài, ý-nghĩa mỗi tác phẩm và dấu-vết thời-đại trong văn-chương.
Phê-bình, từ nay, theo tôi muốn, không thể, không nên chỉ là một sự thưởng-thức của từng người. Nó phải là một nghệ-thuật, hơn nữa, một khoa học.

Sẽ có những bài:

Về tiểu thuyết
Chung quanh một tấn kịch của thời đại: Cuộc xung-đột của cá-nhân và gia-đình.

I. Song-An. – Một nhà tiểu thuyết tâm lý biên chép tấn thảm-kịch trong gia-đình Việt-nam, lúc cá-nhân bắt đầu thức tỉnh (Tố Tâm).

II. Khái-Hưng. – Một nhà tiểu thuyết triết-học muốn phá hoại chế độ gia đình Việt-nam và bày cho cá nhân một lý tưởng nhân-loại (Nửa chừng xuân).

III. Nhất-Linh. – Một nhà cải cách xã hội muốn công-bố sự phá sản hoàn toàn của gia đình và sự đắc thắng hoàn toàn của cá nhân (Đoạn-tuyệt).

Một câu phê-bình ngộ-nghĩnh: Nếu có thể ví cuộc xung đột của cá nhân và gia-đình với sự gặp gỡ của hai luồng điện, thì quyển Tố Tâm là tiếng sét. Nửa chừng xuân là cái diều Franklin. Đoạn tuyệt là cái thu lôi Melsens.


Hai nhà văn cảm-giác (deux écrivians sensuels):

I. Thế-Lữ. – Một nghệ sĩ đã mở đầu một lối tả-cảnh kỳ thú (description pittoresque).
Vàng và máu: Một tiểu thuyết đầy những cảm giác huyền bí, khủng-khiếp.

II. Lan Khai. – Một nhà tiểu-thuyết thích tả những cảm-xúc mãnh-liệt của lòng người và say đám những cảnh thiên nhiên hùng-vĩ, hoang vu.


Ba nhà tiểu thuyết tả chân:

I. Nguyễn Công-Hoan. – Ưa trào-phúng lấy nhân tính làm văn liệu.

II. Tam-Lang. – Một nhà tiểu-thuyết biết cảm hết những nỗi khổ nhục của một hạng người đầy đọa.

III. Vũ Trọng Phụng. – Lần đầu viế phóng-sự tiểu thuyết bằng ngòi bút lạnh lùng (Cạm bẫy người)

Một mẩu văn:
Nguyễn Công-Hoan. – Cười cái rởm của người.
Tam-Lang. – Khóc cái nhục của đời.
Vũ Trọng Phụng. – Chụp hình một hạng người trong một cảnh đời.


Lưu Trọng-Lư. – Một nhà tiểu-thuyết thi sĩ.
Người sơn nhân hay một bài ca của một linh hồn cổ lỗ (une âme primitive).

Văn-Tứ. – Người đầu tiên viết truyện nhà binh.


Về thơ:

Tản-Đà. – Một nghệ sĩ có hồn thơ trực nhiên, đại biểu cuối cùng của trường thơ cũ.

Thế-Lữ. – Một nghệ-sĩ có hồn-thơ phù-phiếm, đại biểu xứng đáng của trường thơ quá độ (poésie ransitaire).

Lưu Trọng Lư – Một nhà thơ độc lập, đi tìm những thể bí-ẩn, huyền ảo trong âm-điệu của tiếng Việt-nam.

Nguyễn-Vỹ. – Một tâm hồn mãnh liệt, kỳ dị, muốn cách mệnh thơ Việt-nam: Người thứ nhất dùng thơ 12 chữ có lương tâm và nghệ-thuật.

Tú-Mỡ – Một nhà thơ riễu-cợt và hài-hước.

vân vân…


Tố – Tâm của Song-An

Mấy ngàn năm nay, trong xã-hội Việt-nam vẫn tiềm-tàng sự xung đột âm thầm của cá nhân và gia-đình.

Quá trọng lý tính, nho-giáo đàn áp những tình cảm thiên nhiên của lòng người. Bao nhiêu lễ nghi, phong tục của gia-đình – gốc của xã-hội – kiềm chế sự phát-triển tự do của cá nhân. Mỗi người chỉ là một chiếc vòng trong chuỗi xích, một cái gạch ngang của hai thế hệ.

Cái tình trạng xã-hội ấy gây nên bởi văn-hóa, lại được pháp-luật và dư-luận hộ vệ nên nó tồn tại qua các cuộc biến đổi trong lịch-sử, nguyên vẹn như một tử-vật (chose morte).

Tuy vậy, dù tránh được sự tàn phá của thời dan, nó cũng không thể bất diệt vì nó trái tự nhiên. Nó hãm vào trạng thái liệt bại những năng lực nhân loại, bao giờ cũng yêu-cầu sự phát-dục hoàn toàn.

Vì thế nên trong cái yên lặng giả dối của xã-hội Việt-nam vẫn ẩn nấp một sức phá hoại. Dân tộc ta sống theo hai giòng sinh-khí ngược nhau. Ở từng trên, các đồ-đệ trung thành của đạo Khổng chịu hi sinh cá thể cho chế-độ tổ truyền. Trái lại, đám bình dân quê mùa, thô lỗ vẫn chạy theo tự nhiên.

Những câu ca rao tục ngữ tự tình chỏng lỏn, mánh khóe, theo ý tôi, chính là sự trả thù cái quan niệm nhân sinh khô khan của nho-giáo.

Những câu ve vãn, bỡn cợt, những bài ca than thân trách phận, những khúc hát ai-oán của thôn nữ nhỡ nhàng về tình duyên, những ngạn ngữ phóng đãng, táo bạo, ta thường nghe bên trong lũy tre xanh, chứng thực rằng dân chúng Việt-nam vẫn khao khát sống một cuộc đời đầy đủ, lý thú hơn cái đời nhân tạo ngoài xã hội. Họ có một tâm hồn rồi rào biết cảm xúc tất cả những tình tha thiết của loài người.

Nhưng sự khao khát ấy, pháp luật, phong tục, luân lý kết án như một đại tội nên những linh hồn yếu đuối phụng sự nó phải mau mau trở lại mực thường nếu không muốn bị đẩy ra ngoài gia-đình, xã hội. Không được thỏa mãn, nó có thể giết một tâm hồn quá khích. Ở dân quê, nó chỉ để lại một tiếng rền rĩ âm u.

Những con người ngây thơ đó chưa biết đến cái vết thương không bao giờ lành của ái tình. Thất vọng, họ không tuyệt vọng. Rồi ngày tháng xóa dần trong trí nhớ họ những cảm giác êm đềm, cuồng dại. Tấn kịch, vì thế, chưa thành một vấn đề.

Ngày nào, những tâm hồn cao đẳng thức tỉnh bắt đầu hưởng-ứng tiếng gọi của trái tim, sự xung đột ngấm ngầm kia mới bùng ra, đột ngột, hãi hùng.


Ngày ấy, sự tình cờ của lịch-sử đã đem lại cho dân tộc Việt-Nam. Tự nhiên, văn chương Pháp thành môn học bắt buộc của thanh-niên, đầu thế kỷ hai mươi. Lần đầu họ được biết cái kỳ thú của cảnh vật. Bao nhiêu vẻ đẹp hùng tráng, u uẩn, cao siêu, bát ngát của trời, trăng, mây, gió, núi, bể, v.v… thanh-niên biết Pháp văn được hưởng-thụ say sưa, thấm thía. Những áng văn tài tình của Rousseau, Bernardin de St Pierre, Chaleaubriand, Lamartine, Pierre Loti… làm họ ngây ngất, tan hồn trong thiên nhiên (la nature). Họ sống bằng cảm-giác, luôn luôn triền miên trong những cảnh huyền-ảo tả trong văn-chương Pháp. Mà lạ! Trong thế-giới mơ-mộng ấy, phía chân trời xa lắc xa lơ, bao giờ họ cũng chỉ gặp hình bóng hai người – chàng và nàng. Cả vũ trụ mung lung họ chỉ thấy kết tụ ở một cử-động – cái hôn đắm đuối nồng nàn.

Linh-hồn, thể-chất họ đều cựa cậy, rung động, xôn-xao. Văn chương pháp đã mở cửa cho thanh-niên Việt-nam vào hai thế-giới tân-kỳ: Mỹ thuật và Ái-tình. Lần đầu, vẳng đưa bên tai họ tiếng gọi xa-xăm của cái vô tận ngoài vũ trụ và tiếng gọi huyền ảo của cõi lòng.

Với mỹ thuật, đạo-đức tất nhiên phải ngã.

Với ái-tình, lý-tính tất nhiên phải đổ.

Ai không biết đạo-đức và lý-tính là hai yếu tố của Nho giáo? Hai hòn đá tảng mấy nghìn năm của xã-hội ta?

Cho nên thanh-niên Việt-nam, đầu thế-kỷ hai mươi có linh cảm (le pressentiment) sắp phải vật lộn với một cái quá-khứ kiên cố nếu muốn toại ý-nguyện mình.

Trước sự phấn đấu, thanh niên lo ngại, rụt rè. Một mối hoài-nghi không căn-cứ tràn ngập cả tâm hồn.

Say đắm sắc đẹp, khao khát tình yêu, lo buồn vơ vẩn, đó là ba nguyên tố của sự Lãng-mạn.

Lãng mạn! với nó thanh niên trở thành kẻ thù của cổ nhân.

Với nó, nước Việt-nam bắt đầu làm sân khấu cho một tấn kịch não-nùng thê-thảm.


Tấn kịch văn-hóa này, đau đớn nhất trong gia-đình. Ông Song-An, Hoàng Ngọc-Phách, là người đầu tiên đánh cái dấu ấy trong lịch sử hiện đại. Thấy trong xã-hội đầy rẫy “những cảnh đời lỡ lầm, chênh lệch, quá mơ màng đến thành như mây tan, khói tỏa”, ông đau sót cho đôi lứa thiếu-niên xô nhau vào bể ái đến bị trọng thương. Rồi, sẵn mối từ tâm ông muốn cứu vớt họ. Ông ít mong ở chuyện Tố-Tâm một cách làm giầu văn học nước nhà hơn là một “hành vi tốt” (une bonne action). Viết tới đây, tôi nhớ nhà tiểu-thuyết Pháp Paul Bourget. Tiên-sinh xuất bản cuốn “Kẻ đệ tử” cũng chỉ cốt giác ngộ thanh-niên Pháp đang đắm đuối torng chủ-nghĩa duy vật…

Bằng cuốn Tố-Tâm, ông Song An đánh hai cái dấu hỏi thật lớn vào trang đầu của thời đại. Ông nêu ra, rồi giải quyết hai vấn-đề quan trọng:

1) Đôi trai gái “lãng mạn” gần nhau có tránh thoát được ái tình không?

2) Ái tình ấy, ở hiện trạng xã-hội bây-giờ gặp những trở lực gì và gây ra những tai họa gì?

Một vấn đề tâm lý và một vấn đề xã hội. Toàn truyện là một bài khảo cứu cái nguyên nhân và cái kết quả của thời bệnh (le mal du siècle).


Ngay bài tựa đã công bố rằng “Tố-Tâm là một quyển tâm-lý tiểu-thuyết”. Tác giả định ý “bầy ra một tình trạng của lòng người, xét cái hành-động của tâm lý còn luân-lý, phẩm bình xin để phần dư luận.

Muốn cho hợp pháp, phê bình truyện Tố-Tâm trước hết phải đứng trong phạm vi tâm-lý.

Bằng những nét đơn-sơ, ông Song An vẽ chân-dung hai người lãng-mạn “lòng đã thiên về tình cảm lại sẵn có óc văn chương” mơ ước những cảnh ái ân thơ mộng trong đời thực-tế: Đạm-Thủy, Tố Tâm.

Một việc tình cờ cho hai người gặp nhau. Họ kín đáo e lệ, cử chỉ theo đạo lý. Rồi văn chương là sợi dây nối họ vào tình bạn. Cả hai đều chỉ định bụng coi nhau như anh em, để giúp nhau tư tưởng, sinh hoạt.

Nhưng “lúc đêm nằm chưa ngủ hay lúc sáng sớm mới mở mắt ra, những lúc chiều trời mát mẻ hay là đêm vắng trăng trong”, trí tưởng họ tự nhiên thích bầy ra cái “thế giới bào ảnh”, “những cảnh mơ màng của hai người yêu nhau đang vơ-vẩn ở chỗ cao-sơn lưu thủy”.

Chưa kết hợp trong thực-tế, hai người đã kết hợp trong mộng tưởng. Nhưng, phải biết say đắm thiên nhiên mới có thể thêu dệt được những ảo cảnh. Đạm-Thủy và Tố-Tâm đều chịu ảnh hưởng của Pháp-văn nên dễ sa vào trạng thái nói trên.

Đứng trong miếng đất lãng-mạn ấy, tất nhiên tình bạn phải khuynh hướng đến tình yêu. Nguồn gốc của sự biến hóa này là trí “tưởng tượng”. Nó mãnh liệt lắm, nhất là khi nó duy nhất và tập trung. Có thể truyền tuyến lực qua không dan, nó đã được khoa học dùng làm căn bản của môn thần giao cách cảm (télépathie). Vô tình, hai người trong cuộc đã thành những tay thôi miên cùng ám-thị nhau mà không tự biết.

Thế là, chàng và nàng đều ôm ấp một tình yêu đám đuối ở đâu đâu đem lại.

Tưởng tượng là địa phận của cõi vô-ý-thức (le domaine de l’Inconscience) nên không thuộc quyền kiểm-soát của lý trí. Nhiều khi nó làm xong việc, lý trí mới tỉnh ngộ, phản động nhưng không kịp. Vì thế, nên Tố-Tâm, ở ngay con mắt người thường – vú em – đã nghiễm nhiên phụng sự ái tình mà vẫn không hay. Câu nói, miệng cười, buồn rầu, thẹn tủi, thảy thảy đều ở cõi vô-ý-thức. Đến lúc gác chân lên chăn Đạm-Thủy, nàng đã thành người của ái-tình rồi!

Hai người ấy chỉ còn chờ một lời thú là công nhiên yêu nhau. Lời thú ấy, thương thay, lại chỉ là một tiếng khóc!


Đến đây, ông Song An đã giải quyết vấn-đề tâm-lý nêu ra.

Theo ý ông, “một đôi trai gái quen nhau, hợp tính tình nhau… gần nhau luôn… thì không sao khỏi sinh tình luyến ái; dù muốn nhận là anh em hay bè bạn… cũng toàn là ảo-tượng cả”.

Ông đã chứng thực lý thuyết ấy, rõ ràng, chân xác. Tố-Tâm tuy biết chỉ theo đuổi tình tuyệt vọng mà vẫn cứ yêu, yêu để mà yêu, yêu vì đã chót yêu, yêu vì không thể yêu lần thứ hai được nữa.

Nàng tự thú “Anh ơi, anh có ma lực gì mà lòng em một ngày một vướng vít…, cuộc đời em không thể rời anh ra được nữa”.

Đạm-Thủy cũng vậy, thấy chắc chắn nỗi khó khăn trong cuộc ái-tình, mà vẫn “phải yêu”.

“Ôi nhân tâm! Ôi tạo-vật! nhờ ai giải họ cái yêu cái ghét ở đời cho lòng người ta khỏi vì ghét, yêu mà sướng-khổ”.

Những lời kêu não nuột ấy làm tôi nhớ đến đôi uyên ương của thi-sĩ Nguyễn Vỹ trong bài Đền đổ. Nghe họ than:

Chúng ta đã đem nhau đi xa ngoài dục-vọng phàm trần.
Đã xây một đền-đài tốt đẹp trên đỉnh gò Lý-Tưởng.
Chúng ta đã cùng đem hai tâm hồn ta đang tinh anh.
Hiến thờ tình thân hữu để cầu một cuộc đời cao thượng.
…Chúng ta cũng có nghị lực và tín ngưỡng như người Chàm.
Tưởng những miếng vôi viên gạch của ta đều rắn rỏi
Và sẽ đứng lâu bền mãi mãi cùng tuế nguyệt giang san.
Ngờ đâu! đài miếu năm xưa nay còn là cái tháp bỏ
Dần dần, những khi gió hạ, mưa xuân, chiều thu dịu dàng
Hoặc những khi cùng nhau ta ngồi im trên bãi bể
Ta cùng nghe một tiếng đổ, tan trong cái rỗng không gian
Một chút ít đền đài ta đã tự nhiên rời rạc bể.
(Đền Đổ – Tập thơ đầu)

Mấy câu thơ thống thiết này tóm tắt được cả một đời tâm lý. Thi sĩ giải quyết thật lâm ly cái vấn đề mà nhà tiểu thuyết vừa phân khảo.

Tóm lại, theo ông Song An, ái tình là một định mệnh (une fatalité). Nó là biểu thị của cái vô-ý-thức. Không giảng giải – mà ai giảng giải được? – ông chỉ vạch cho ta xem con đường phải đi của ái tình từ lúc phát khởi đến khi thành tựu.

Nhờ ông, ta được biết cái tính-cách tàn-khốc của ái-tình ở những tâm-hồn lãng-mạn: nó không phải chỉ là một việc tâm lý xảy ra torng đời người, nó là một thế-giới huyền ảo, bước vào không ra được nữa.


Với tình-yêu tuyệt vời ấy, thanh-niên đi tìm hạnh-phúc. Bỗng dưng, trong linh-hồn họ, bên cạnh những sự mơ-ước cao xa, hiện ra một phản động-lực: Tình gia quyến.

Cuộc vật lộn bắt đầu có. Ái-tình, trong Tố-Tâm, không phấn-đấu với một chế-độ hay một hạng người. Nó phải tranh sống mái với một cảm-tình thienh6 liêng, thâm-thiết, di-truyền đã mấy mươi thế-kỷ.

Chưa đủ sức mạnh, Ái tình vứi dáo chịu thua, nhưng không hàng phục. Giữa bãi chiến-trường, Tố-Tâm tình nguyện lấy cái chết để bảo toàn con tim khối óc. Sống vì ái-tình, chết vì ái-tình, nên nàng sẽ được lưu-truyền như một tượng-trưng (un symbole).

Ông Song-An mượn cái thảm-trạng của Đạm-Thủy và Tố-Tâm, để bày ra cái nguy-hiểm của ái tình, trong phạm vi xã-hội lúc ông viết truyện. Ông thấy rằng, nếu lòng gia-quyến còn mãnh-liệt thì ai vương vào ái-tình chỉ mua chuộc lấy nỗi đau lòng.

Nhưng ông quên rằng ái-tình đến vì nó phải đến, không sức gì ngăn cản được. Nó chưa ban hạnh-phục cho người sùng-bái nó vì nó còn yếu đuối.

Công nhận lãng-mạn là một thực-trạng và khuyên thanh-niên tránh xa ái tình. Ông Song-An đã làm một việc vô ý-nghĩa.


Theo tôi thấy, quyển Tố-Tâm là hình ảnh của một cái vòng luẩn-quẩn:
Phải yêu.
Không nên yêu.
Phải yêu.

Nó là biểu-thị của một sự khủng-hoảng tinh-thần. Toàn truyện toát ra một tâm-trạng bối rối, lo sợ, rụt rè.

Cũ và mới gặp nhau đột ngột quá nên thanh-niên chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề. Không ai biết nên theo ngả nào. Trong tâm-hồn, một sức mạnh ẩn đến tình yêu, một sức nữa co lại gia-đình. Thanh niên bị rầy vò nhưng khoái trá, sẵn lòng để vết thương tình thiêng liêng tràn lan khắp trái tim.

Tóm lại cá-nhân mới thức tỉnh, chưa có tín-ngưỡng ở sự toàn thắng và tương lai. Tình lãng-mạn vẫn còn đứng trong cõi vô ý thức.

Truyện Tố-Tâm là bức vẽ hoàn toàn của hiện-trạng tâm lý và xã hội ấy.


Phê bình Tố-Tâm, tôi không thể quên văn-chương nó và ảnh hưởng của ông Song-An trong văn giới.

Trước hết, tôi phải khen tác giả có ngòi bút đơn giản, mộc mạc mà rất cảm động. Tài tình nhất là lúc ông tả những cảnh tâm lý kín đáo, ngây thơ.

Đạm-Thủy muốn về trường, Tố-Tâm giữ lại. Ngòi bút vụng về ở đoạn này tất làm ta buồn cười. Ông Song An biết đặt nghệ thuật ngang hàng với đầu đề: “Tôi đứng dậy cầm mũ thì nàng bảo để cho người gọi xe đã; có khi đến mười lăm phút mà không thấy xe. Tôi ra về thì nàng lại hỏi một câu gì đó bắt tôi phải cắt nghĩa; hay tôi có nhờ mua hoặc làm hộ cái gì thì đợi lúc tôi ra về nàng mới hỏi lại. Thành ra từ lúc chuyển về đến lúc ra cửa có khi hàng giờ đồng-hồ”.

Bức tranh linh hoạt như chụp hình cái tình quyến luyến của đôi trai gái, đến thời kỳ không muốn rời nhau. Những cảnh khác (bầu cỗ rằm tháng tám, thú nhận, ngồi vẽ) đều êm đềm, thanh thú và kín đáo như thế cả.

Ông Song-An lại còn có tài tả những sự phát hiện lặng lẽ của ái-tình “Lắm khi trong hai con mắt nàng nhìn tôi có vẻ thiết tha hình như kêu van tôi ngỏ lời trước đi cho nàng được thỏa, mà chắc lắm lúc trong mắt tôi cũng kêu van nàng đừng làm cho tôi một ngày kia phải thú tội với nàng”.

Nhưng khéo nhất là những cảnh thiên nhiên ông mượn để lồng khung cái tình yêu.

Những lúc hai người say đám “ngồi dưới gốc cây mà ngắm đồng lúa mông-mênh bát ngát; trận gió ào ào lay động ngọn lúa như những làn sóng bể vàng, còn những đám tre lơ thơ ở giữa đồng thì tựa như những hải-đảo có cây xanh.

Hoặc lúc “Tố-Tâm đi ngắt từng bông lúa, chạy đổi cào-cào châu-chấu như một đứa trẻ ngây thơ rồi bắt tôi cầm một cách nũng nịu… chạy hết ruộng nọ sang ruộng kia, lên bờ cao xuống bờ thấp, mà dưới ánh nắng buổi chiều thu hơi nhạt nhạt, trông mặt nàng đỏ hồng hồng, giấp tí mồ hôi dính mấy sợi tóc xõa xuống trán”.

Ngòi bút của Song-An không kém chổi sơn của nhà họa-sĩ.

Những mầu sắc vàng, xanh, hồng hồng, nhạt nhạt, những mấp mô cao, thấp, những tiếng ào ào… ghi trong cảnh khiến ta có một cảm-giác đứng trước một bức vẽ kỳ-thú, dịu dàng.

Trong truyện, có canh hai người đi tắm biển Đồ-sơn thật là tuyệt bút.

Đây, một nét vẽ mong-manh: “Những đám xanh đỏ lúc nãy, người đi tắm mặc áo nịt, đã hóa ra một đàn cò mình đen, chân, cánh trắng, lô nhô ở giữa làn sóng lờ lờ.

…một nét chấm phá “Ngoài xa, lơ thơ những chiếc thuyền đánh cá, buồm trắng phất phơ in vào mấy giặng núi mờ xanh ở bên chân trời hung hung đỏ”.

Kìa, một cảnh đắm đuối: “Lúc đó thủy-triều lên mạnh.. chúng tôi ngồi xuông những mỏm đá nổi lên gần bờ.. bỏ chân xuống nước cho sóng vỗ vào, thỉnh thoảng bị cơn sóng to đập vào đá nước tóe bắn lên tận mặt. Chúng tôi tưởng-tượng ra như Vũ trụ chỉ có hai người.. chỉ còn thấy khói hương của ái tình đang nghi ngút bay trong đám tịt mù..”

Hoặc một cảnh mơ-mộng ngây-ngất: “Trên bãi cát phẳng.. chúng tôi bỏ giầy lội xuống mấp-mé mặt nước, đi đuổi bắt những con giã-tràng…”

Sự thật hay ảo tượng? Tác giả đã có biệt-tài nhắc cho ta cái cảm giác huyền hồ ấy, bất kỳ ở cảnh nào.

Không những chỉ làm ta say sưa, ông Song An còn khiến ta nhiều khi bồi hồi, thổn thức. Ông khéo đem một cảnh vật gợi một cảm tình, một cảm giác bâng khuâng, đau khổ.

“Bốn bề vắng lạnh, duy chỉ có tôi đứng chỗ một trời một đất với mộ nàng, xa trông những hạt mưa bay mờ mờ trắng, mấy hàng tre gió lướt đổ ngà-ngà, những con chim bạt gió kêu bầy, mấy con bê lạc đàn gọi nạ. Tôi nghĩ đến lúc đi chơi với nàng…”

Ngòi bút của Song-An kỳ-thú đậm đà lúc tả cảnh, tả tình bao nhiêu thì sắc mắc đanh thép bấy nhiêu, lúc biên nhận một điều nghiệm xét tâm-lý (une observation psychologique).

“Những lúc tôi đến gặp nàng đang cúi đầu ngồi thêu, chẻ rưa hay đọc sách bất thình lình ngửng lên thấy tôi thì nét mặt có vẻ khác, có một tia mừng từ trong tâm chạy lên mặt thoát qua hai con mắt và đôi gò má”.

Có nhiều câu ký nhận (remarque) rất chân xác:

“Trong cách giẹp ái tình không gì dở bằng đang nằm thắm mặn nồng mà đem ngăn lại”

“… Không gì vô ích bằng giảng đạo-đức với người đang ham-mê…”

Ông Song-An tỏ ra một người rất sành Khoa tâm lý học.


Tuy vậy, tôi phải nói ngay rằng văn Song-An còn nhiều chỗ cũ rích.

Lối biền ngẫu: “Em ơi! sinh ra gái mưa sa là phận, rủi may âu cũng sự trời..”

Lối ví-von: “.. Tôi nói vậy thấy đôi mắt nàng thoáng qua một vẻ buồn; bên kia bể mặt trời cũng hé ánh nắng, hồng quân với khách hồng-quần!”

Lối pha trộn: “..Ta là người chung-tình nên ta buồn, ta buồn ai có biết chăng, ta vui ta chỉ mong rằng ai vui..”

Câu văn không sửa tỉ mỉ, nên nhiều chỗ cẩu-thả, nặng-nề lằng-nhằng như giây trão: “Anh ơi! ấy chỗ khổ tâm của chúng tôi đấy, anh đừng tưởng lúc yêu nhau đã dễ bỏ nhau như vậy đâu, cái thú ái tình như ái tình của tôi với nàng không thể bỗng chốc đã lìa nhau ra được, chúng tôi đã hết sức đè nén mà không sao được, vả chăng tôi không hiểu vì sao không muốn buông nhau ra”.


Nhưng ta nên biết công cho ông Song-An. Hồi ông cầm bài viết truyện Tố-Tâm, quốc văn còn lủng củng, lộn xộn. Ông Vĩnh ông Quỳnh mài cây viết để dịch những bài triết lý, những vở kịch bình dân. Ông Song An là người đầu tiên dùng quốc văn viết một cuốn tiểu thuyết tâm lý. Thế mà văn ông cũng sáng sủa lý thú, tao nhã, nhẹ nhàng; thật đáng cho ta ngả mũ chào cung kính.

Trong văn giới, ông Song An là người có công to. Ông đứng đầu những nhà văn tả cảnh, tả tình như Khái-Hưng, Thế-Lữ… Ông mượn của Pháp văn, của tâm hồn “hai thứ”, ông trao cho văn chương: Cảnh thiên nhiên và lòng người. Những ai bây giờ biết ca tụng mỹ-thuật và ái-tình phải nhìn nhận ông Song-An như người khởi xướng.


Có công và có tài như vậy, Song An tiên sinh vẫn bị người ta không hiểu và trách móc. Viết bài phê bình này tôi cố ý muốn đặt danh vọng ông ngang xứng với cái biệt tài và công trạng của ông đới với văn chương Việt-Nam cận-đại.