Viết là gì?

Dịch What is writing của Barthes.

Ngôn ngữ là một kho ngữ liệu chuẩn tắc (a corpus of prescriptions) và những lề thói (habits) chung của mọi người viết thuộc cùng một thời. Nói cách khác, ngôn ngữ là một dạng âm nền tự nhiên (natural ambience) vây quanh biểu đạt của một người viết, nhưng lại không trao cho nó hình thức hay nội dung: Ngôn ngữ là một vòng cương tỏa của những nguyên lý (abstract circle of truths) mà bên ngoài nó, cặn (solid residue) của một logos cá nhân hình thành. Ngôn ngữ bao trùm toàn bộ hoạt động sáng tạo văn chương như bầu trời và mặt đất bao trùm lấy không gian sống của loài người. Ngôn ngữ không phải vật chất mà là đường chân trời, vừa mang nghĩa một giới hạn vừa mang nghĩa một góc nhìn; nói tóm lại, nó là một vùng yên ổn của không gian có trật tự. Người viết không nhận được gì từ nó hết; một ngôn ngữ với người viết cũng giống như biên giới mà bước qua nó sẽ dẫn đến hiện tượng siêu nhiên về mặt ngôn ngữ học (linguistically supernatural); ngôn ngữ là một lĩnh vực của hành động (field of action), là định nghĩa của và là hy vọng về một Cái có thể (possibility). Nó không phải là một locus of social commitment (mức độ của trách nhiệm xã hội, cf. Julian B. Rotter’s locus of control), mà là một phản xạ không có lựa chọn, là sở hữu không thể phân chia của loài người, chứ không phải của riêng người viết; ngôn ngữ nằm ngoài nghi thức của Chữ cái (Letters); nó là một đối tượng xã hội (social object) thông qua định nghĩa, không phải qua lựa chọn. Không người viết nào có thể bỏ qua nguyên tắc mà giả vờ tự do khi sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện biểu đạt miễn cưỡng bởi vì đằng sau ngôn ngữ, toàn bộ Lịch sử tồn tại thống nhất và toàn vẹn trong Trật tự Tự nhiên (Natural Order). Do đó, với người viết, một ngôn ngữ không là gì hơn một đường chân trời tạo ra sự tương tự (familiarity) của những thứ cách xa nhau, mà giá trị mang lại, ngẫu nhiên là, hoàn toàn negative: nếu nói Camus và Queneau nói cùng một ngôn ngữ thì gần như là giả định rằng họ không dùng ngôn ngữ, bằng một thao tác phân biệt (differential operation), tất cả các ngôn ngữ, trong quá khứ lẫn vị lai. Ngôn ngữ của một người viết lưỡng lự lại giữa những hình thức chưa được dùng hoặc chưa được biết, vì thế nó không phải là một thứ kho sẵn có để dùng mà là một giới hạn cùng cực; nó là quỹ tích hình học (geological locus) của toàn bộ những gì mà một người viết cần có nếu muốn lập ngôn, thiếu nó thì người viết, cũng như cái ngoái nhìn lại đằng sau của Orpheus, sẽ đánh mất ý nghĩa ổn định của tác phẩm và hành vi cơ bản như một con người xã hội.

Một ngôn ngữ do đó thuộc về phía của Văn chương. Phong cách thì khác, phong cách là hình ảnh (imagery), là delivery, là từ vựng nảy nở từ cơ thể và ký ức, và dần trở thành những phản xạ nghệ thuật của tác giả. Với phong cách, một ngôn ngữ độc lập (self-sufficient) được tiến hóa có gốc rễ từ những tầng sâu của huyền thoại (mythology) bí mật và huyền thoại cá nhân riêng tác giả, là thứ phó sản của biểu đạt khi va chạm đầu tiên giữa những từ và những vật diễn ra, nơi mà hình thái ngôn ngữ (verbal theme) của sự tồn tại của tác giả được thiết lập. Dù phức tạp thế nào, phong cách cũng luôn thô (crude): nó là một hình thức không có điểm neo đậu rõ ràng, là sản phẩm của một lực đẩy, không phải một chủ ý, và là một chiều thẳng đứng, đơn độc, của tư tưởng (cf. Xuân Diệu’s Hy Mã Lạp Sơn). Mô hình dẫn chiếu (frame of reference) của nó là sinh lý và tiểu sử (biographical) chứ không phải chính sử (historical): nó là tư hữu của người viết, là vinh quang và ngục tù, là sự cô độc (solitude) của chính anh ta. (cf. cần phải lấy ví dụ từ chính thơ, hoặc tính thơ của một số văn chương, ví dụ Đêm núm sen là một sáng tạo ngôn ngữ rất sinh lý). Phong cách lãnh đạm với xã hội và vô hình với xã hội, là một tiến trình cá nhân khép kín, nó không phải là một sản phẩm của lựa chọn hay của một sự suy ngẫm về Văn chương. Phong cách là phần riêng tư của nghi thức, nó trỗi dậy từ những tầng sâu phong phú huyền thoại và bung nở vượt tầm kiểm soát của người viết. Nó là giọng điểm xuyết của xác thịt kín đáo; nó vận hành như cách mà Cái tất yếu (Necessity) vận hành (cf. Modal Metaphysics), như thể trong dạng thức đơm hoa kết trái này, phong cách không thể là gì khác ngoài kết quả của một sự biến hình ngoan cố và mù quáng khởi từ một phương ngữ (sub-language) được trau chuốt nơi xác thịt và ngoại tại gặp nhau. Phong cách liên hệ đến hiện tượng nảy mầm (germinative phenomenon), sự biến hóa (transmutation) của Uy mua (Humour). Do đó, những họa âm phong cách (stylistic overtones) được mở về chiều sâu, trong khi lời nói có cấu trúc chiều ngang (cf. tính chất linear của ngôn ngữ theo Saussure), những bí mật của lời nói ngang hàng với những từ được diễn đạt, được hé lộ qua thời độ (duration) của dòng (flow). Trong lời nói, mọi thứ được trình bày tường minh nhằm đạt được sự thông hiểu ngay lập tức và cả những từ vựng, những khoảng lặng cũng như tính lưu động chung của chúng hướng về một ý nghĩa thay thế: đó là một sự truyền đạt không để lại dấu vết nào và không cho phép trì hoãn. Phong cách, trái lại, chỉ có chiều thẳng đứng, nó kích hoạt sự tái tổ hợp khép kín của người viết và trở nên tối nghĩa từ kinh nghiệm bật chất; phong cách không là gì khác ngoài ẩn dụ, tức là sự tương đương của chủ ý văn chương tác giả và cấu trúc xác thịt (nên nhớ rằng cấu trúc là cặn của thời độ – the residual deposit of duration). Phong cách luôn là một bí mật; nhưng khía cạnh thần bí của nó không phát sinh từ bản chất lưu động và luôn luôn lâm thời (ever-provisional) của ngôn ngữ; bí mật của phong cách là sự tái tổ hợp khóa chặt trong cơ thể người viết. Tính chất trừu tượng của phong cách không thuộc về phạm trù tốc độ (matter of speed), như lời nói, nơi mà những gì không được nói sẽ trở thành một giai đoạn chuyển tiếp của ngôn ngữ (interim of language), mà thuộc về phạm trù mật độ (matter of density), vì thứ ăn rễ sâu vào phong cách, được tập hợp gay gắt hoặc nhẹ nhàng trong một phép tu từ (figure of speech), là những mảnh của một thực tại ngoại lai với ngôn ngữ. Sự kỳ diệu của quá trình biến hóa này khiến phong cách trở thành một loại thao tác siêu văn chương (supra-literary operation) đưa con người đến cửa ngõ của quyền lực và thần bí. Nhờ nguồn gốc sinh lý của mình, phong cách cư ngụ ngoài nghệ thuật, cũng tức là ngoài thứ khế ước gắn người viết với xã hội. Những người viết do đó hẳn sẽ thích sự an toàn của nghệ thuật hơn là sự cô đơn của phong cách. Loại tác giả mà không có phong cách đáng kể là Gide, người có cách tiếp cận như một nghệ nhân (khai thác khoái cảm và tính hiện đại) vốn bắt nguồn từ một ethos cổ điển, như cách Saint-Saens đã làm với di cảo của Bach, Poulenc đã làm với di cảo của Schubert. Ngược lại, thơ hiện đại – như của Hugo, Rimbaud hay Char được bão hòa về phong cách và là nghệ thuật bởi chủ ý muốn trở thành Thơ của nó. Thơ là Uy quyền của phong cách (Authority of style), cũng tức là mối quan hệ tự do tuyệt đối giữa ngôn ngữ và bản sao xác thịt của nó; thơ đặt người viết lên trên Lịch sử như sự tươi mới của Vô tội (Innocence – “language is never innocent”).

Như vậy, ngôn ngữ là đường chân trời, còn phong cách có chiều thẳng đứng, cùng với nhau dựng nên một Bản thể (Nature) cho người viết, bởi vì người viết không chọn ngôn ngữ cũng không chọn phong cách. Ngôn ngữ có chức năng âm (functions negatively), như giới hạn ban đầu của Cái có thể (possibility), phong cách là một Cái tất yếu (Necessity) gắn cái uy mua của người viết với hình thức biểu đạt. Với ngôn ngữ, người viết tìm thấy Chính sử, với phong cách, người viết tìm thấy tiểu sử. Trong cả hai trường hợp, người viết phải đối mặt với Bản thể, cũng tức là sự lặp lại của những hành vi, hay thói quen (gestuary), nơi việc sử dụng năng lượng thuần túy mang tính thao tác, phục vụ việc liệt kê ở đây, chuyển hóa ở kia, nhưng không bao giờ để đánh giá hay cắt nghĩa một lựa chọn.

Giờ đây, mỗi Hình thức cũng là một Giá trị, đó là lý do vì sao luôn có khoảng trống giữa ngôn ngữ và phong cách cho viết lách được tồn tại. Trong mọi hình thức văn chương, có một lựa chọn chung nhất về tông (tone), thậm chí về ethos, và đây chính xác là nơi người viết bộc lộ mình như một cá nhân vì đây là nơi người viết ra quyết định về sự biểu đạt (commit himself). Một ngôn ngữ và một phong cách là dữ liệu có trước mọi vấn đề (problematics) của ngôn ngữ, chúng là sản phẩm tự nhiên của Thời (Time) và của người như một thực thể sinh lý; nhưng danh tính hình thức của người viết chỉ được thiết lập bên ngoài sự cố định của truyền thống ngữ pháp (grammatical norms) và sự bất biến của phong cách (stylistic constant), nơi mà sự liên tục của viết trước được tổ hợp và bao bọc bởi một bản thể ngôn ngữ vô tội tuyệt đối, sau trở thành một ký hiệu tổng hòa, lựa chọn của một thái độ con người, sự khẳng định của một Cái thiện xác đáng. (Good, as in The good the bad and the ugly). Nó buộc người viết biểu lộ và truyền đạt một trạng thái hạnh phúc hoặc bi ai, và gắn hình thức biểu đạt của anh ta, một thứ vốn rất thường tình và đơn lẻ, với cái Chính sử rộng lớn của Những người khác (Others). Một ngôn ngữ và một phong cách là những lực mù quáng; một lối viết là một hành động liên kết lịch sử. Một ngôn ngữ và một phong cách là những đối tượng; một lối viết là một chức năng: Nó là mối quan hệ giữa sáng tạo và xã hội, ngôn ngữ văn chương – được chuyển hóa bởi giới hạn xã hội (social finality), hình thức biểu được – được xem như một chủ ý con người và do đó gắn với những cuộc đại khủng hoảng của Chính sử. Mérimée và Fénelon cách xa nhau bởi hiện tượng ngôn ngữ và những đặc trưng ngẫu nhĩ của phong cách (contingent features) nhưng họ lại gần nhau ở chủ ý về cách dùng ngôn ngữ, những ý tưởng về hình thức và nội dung của họ có một mô hình chung, họ chấp nhận cùng một kiểu thói quen, cùng những kiểu phản xạ kỹ thuật. Mặc dù cách nhau một thế kỷ rưỡi, nhưng họ dùng cùng một công cụ theo cùng một cách: một công cụ có thể thay đổi một ít về vẻ ngoài, nhưng không thay đổi về place và manner (cf. articulations of sonsonants). Nói tóm lại, họ có cùng lối viết. Ngược lại những người viết mặc dù cùng thời với nhau, như Merimee và Lautreamont, Mallarme và Celine, Gide và Queneau, Claudel và Camus, những người dùng chung một ngôn ngữ trong cùng một giai đoạn phát triển của ngôn ngữ đó, lại có những lối viết rất khác nhau. Mọi thứ đều khiến họ cách xa nhau: tông, delivery, mục đích, ethos, và tính tự nhiên của biểu đạt: kết luận là, sự giống nhau về thời điểm sống và ngôn ngữ sử dụng chẳng đáng kể so với sự khác biệt về lối viết, sự khác biệt này định vị lối viết của từng người.

Lối viết của những người này tuy khác nhau nhưng có thể so sánh với nhau, vì chúng gắn với cùng một quá trình giống nhau, là sự cân nhắc của người viết về cách dùng ngôn ngữ mà anh ta lựa chọn cho hình thức biểu đạt của mình, và sự ràng buộc của anh ta với lựa chọn này. Đặt vào giữa những vấn đề của văn chương, vốn không thể tồn tại trước lối viết, viết về cơ bản là đạo đức của hình thức (morality of form), một lựa chọn thuộc phạm trù đạo đức mà qua đó, người viết đặt để Bản thể ngôn ngữ của mình. Nhưng phạm trù xã hội này không phải là phạm trù của một sự tiêu thụ thực sự (actual consumption).


Đoạn còn lại chưa được dịch kỹ.

Đặt vào tâm điểm của rào cản văn chương, thứ không thể tồn tại trước đó, viết lách về cơ bản là morality của form (đạo đức của hình thức), sự lựa chọn của phạm trù xã hội mà người viết tuyển chọn để đặt để bản chất ngôn ngữ của anh ta. Nhưng phạm trù xã hội này không phải là một sự tiêu thụ thực tế. Nó không phải một câu hỏi cho người viết về việc lựa chọn nhóm xã hội mà anh ta viết cho: Anh ta biết điều đó; dành lại cho khả năng của một cuộc cách mạng, nó chỉ có thể cho chính xã hội. Lựa chọn của anh ấy thuộc về lương tri (conscience) không phải efficacy (tính hiệu quả). Viết là cách để anh ta hình thành văn chương, chứ không phải để mở rộng các giới hạn của văn chương. Bởi vì người viết không thể thay đổi dữ kiện khách quan thống trị sự tiêu thụ văn chương (dữ kiện thuần túy lịch sử này vượt xa hơn năng lực kiểm soát của anh ta ngay cả khi anh ta biết về chúng, rằng anh ta tình nguyện đặt nhu cầu có một ngôn ngữ tự do vào trong những nguồn góc của chính ngôn ngữ này và không phải trong chính sự tiêu thụ sau cùng. Viết là một thực tại võ đoán: một mặt, nó trỗi dậy một cách chắc chắn từ những va đập của một người viết với thời của anh ta; mặt khác, từ kiệt cùng xã hội này, nó lại, bằng một kiểu đảo nghịch tình huống trong b kịch, liên hệ đến những nguồn, những phương tiện của sáng tạo. Không thể mang lại cho người viết một ngôn ngữ tự do, lịch sử đề xuất nhu cầu về một ngôn ngữ tự do.

Do đó lựa chọn của, và sau đó là trách nhiệm với, một mode of writing cho thấy sự tồn tại của tự do, nhưng kiểu tự do này không có những giới hạn tương tự vào những thời khắc khác nhau của lịch sử. Người viết không được phép lựa chọn mode of writing từ một kho dạng thức văn chương non-temporal. Dưới áp lực của lịch sử và truyền thống những mode of writing khả năng với một người viết được thiết lập; có một lịch sử vủa viết/ Nhưng lịch sử này là lưỡng quyền: vào lúc lịch sử đề xuất hoặc áp đặt những rào cản mới của ngôn ngữ văn chương, viết vẫn giữa đầy đủ sự tái tổ hợp của những cách dung trước đó, vì ngôn ngữ thì không bao giờ vô tội: từ ngữ có một ky ức thứ cấp (second-order memory) tồn tại một cách kỳ lạ ở giữa những ngữ nghĩa mới. Viết chính xác là một thỏa hiệp giữa tự do và tưởng niệm, kiểu tự do này ghi nhớ và chỉ thật sự tự do trong hành vi của lựa chọn nhưng không còn trong phạm vi thời độ (duration). Đúng vậy, hôm nay tôi có thể chọn mode of writing này, và thông qua đó khẳng định sự tự do của mình, hy vọng sự tươi mới của novelty hoặc truyền thống; nhưng không thể phát triển nó trong thời độ mà không dần trở thành một tù nhân của những lời của người khác và thậm chỉ của cả chính mình. Một hậu ảnh (after-image) cứng đầu đến từ toàn bộ mode of writing trước đó, và cả từ quá khứ của chính mình, nhấn chìm âm thanh những từ hiện tại của tôi. Bất cúa dấu tích viết nào xuất hiện sớm, như trong một hóa chất ban đầu là trong vắt, vô tội và trung tính, thời độ dần hé lộ trong suspension một quá khứ toàn bộ của sự gia tăng mật độ, tương tự như một mật thư.

Viết, cũng như tự do, do đó là một khoảnh khắc thuần túy. Nhưng khoảnh khắc này là một trong những khoảnh khắc rõ ràng chính xác nhất của Lịch sử vì Lịch sử luôn luôn và trên hết là một lựa chọn và những giới hạn của lựa chọn đó. Bởi vì viết xuất phát từ một hành vi có ý nghĩa của người viết chạm đến những tầng sâu nhất của Lịch sử, tường minh hơn bất cứ dạng thức cross-section nào của văn chương. Sự unity của văn chương cổ điển, vốn vẫn duy trì chuẩn mực qua nhiều thế kỷ, sự phong phú của những dạng thức văn chương này trong thời hiện đại, đã gia tăng trong hàng trăm năm qua cho đến khi nó trở nên gần với sự nghi vấn thực tại của văn chương; dạng thức ly tán này của văn chương pháp hồi đáp với một khủng hoảng lớn của lịch sử chung, dễ thấy trong lịch sử văn chương, chỉ là bối rối hơn. Những gì phân tách suy nghĩ của Balzac với của Flaubert là một biến thể bên trong của cùng một trường phái: những gì đối lập lối viết của họ là một essential break, vào một khoảnh khắc chính xác khi mà cấu trúc kinh tế mới được hợp nhất với một cái cũ, do đó mang lại những thay đổi có tính quyết định về nhận thức.

Thơ là một trình hiện thực tại theo chiều thẳng đứng
Văn xuôi thì theo chiều ngang