Laurence C. Thompson (1965) on Vietnamese consonants

Phát âm chuẩn

Mặt dù có quan điểm trái chiều về giọng chuẩn tiếng Việt, nhưng nhìn chung phát âm của những người nói có trình độ văn hóa cao ở Hà Nội được xem là giọng chuẩn.

Chính tả hiện hành (orthography) cung cấp một nền tảng cơ bản để chúng ta thảo luận về vấn đề ngữ âm.

Phụ âm

Thompson cung cấp một bảng phụ âm tiếng Việt với những âm gần như tương đương trong tiếng Anh (rough English equivalents) kèm theo chú thích về cấu âm hoặc cách kết hợp trong âm tiết.

Tóm lại, theo Thompson có 24 âm phụ âm tiếng Việt, được ghi theo IPA như sau:

/ ɓ m f v k z ɗ ɣ h x l n ɲ ŋ p f r t tʰ ʂ s v ʈ /

Còn khi thống kê phụ âm dựa trên phương ngữ Hà Nội, Thompson cho ra bảng sau:

Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt (1998) về phụ âm

Theo Đinh Lê Thư và Nguyễn Văn Huệ (1998), phụ âm, cùng với nguyên âm, là những đơn vị ngữ âm đoạn tính. Tuy nhiên, trong khi nguyên âm được cấu tạo bởi (1) một luồng hơi tự do, không bị cản trở, không có vị trí cấu âm; (2) bộ máy cấu âm căng thẳng toàn bộ; (3) luồng hơi ra yếu thì phụ âm lại (1) bị cản trở bởi chướng ngại do các khí quan tiếp xúc nhau hoặc nhích gần nhau mà thành (điểm có chướng ngại là vị trí cấu âm); (2) bộ máy cấu âm chỉ căng thẳng ở vị trí cấu âm; (3) luồng hơi ra mạnh. Đó là định nghĩa dựa trên phương diện cấu âm.

Còn về mặt chức năng. khi tham gia cấu tạo nên âm tiết, phụ âm đóng vai trò là phụ âm đầu và âm cuối (trừ phụ âm vang có thể tạo đỉnh âm tiết như nguyên âm).

Phân loại phụ âm

Cách 1 | Dựa trên mối quan hệ giữa tiếng thanh và tiếng ồn:

Phụ âm vang và phụ âm ồn. Phụ âm vang có tiếng thanh nhiều hơn tiếng ồn. Nhóm phụ âm vang này gồm [m], [n], [ɲ], [ŋ], [l]. Chúng bị chặn lại ở vị trí cấu âm nên tìm cách thoát ra qua đường mũi (nasals) hoặc hai bên (approximant). Chính vì thế, chúng có đặc tính <<luồng hơi tự do>> của nguyên âm.

Dựa trên hoạt động của dây thanh, phụ âm ồn lại được phân thành hữu thanh (voiced) và vô thanh (voiceless).

Cách 2 | Dựa trên phương thức cấu âm: 

Tức cách luồng hơi đi qua vị trí cấu âm, phụ âm còn được phân thành tắc, xát và rung. Tắc là [b], [t], [d]. Xát là [f], [v], [s], [z], [h]. Rung là [r].

Người ta phân chia sự cấu âm của phụ âm thành ba giai đoạn: tiến (khí quan tiến về vị trí cấu âm), giữ (khí quan phát âm ở vị trí cấu âm) và lùi (khí quan rời khỏi vị trí cấu âm). Mọi âm tắc đều giống nhau ở giai đoạn tiến giữ. Nhưng đến giai đoạn lùi thì có sự khác nhau giữa âm nổ, âm mũi, âm tắc-xát và âm khép.

Âm nổ: chặn lại rồi mở ra đột ngột, như [b], [đ], [t], [k]. Nếu sau tiếng nổ, có một lượng lớn không khí ùa ra, thì gọi là phụ âm bật hơi, như [th].

Âm mũi: tiếng nổ hình thành trong khoang miệng, nhưng khí cũng đồng thời thoát ra qua khoang mũi, như [m], [n].

Âm tắc-xát: ban đầu tắc nhưng khi mở, chỉ mở hẹp, gây ra xát.

Các phụ âm khép: Những phụ âm khép lại âm tiết không có giai đoạn lùi mà kết thúc ngay chỗ tắc.

Cách 3 | Dựa trên vị trí cấu âm:

Theo vị trí tạo ra tiếng hồn trên khí quan bị động, phân thành các phụ âm môi, răng, lợi, ngạc, mạc, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu. Còn theo khí quan chủ động thì là môi, lưỡi trước, lưỡi giữa, lưỡi sau, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu.

Chính xác hơn, khí quan chủ động và khí quan bị động sẽ kết hợp với nhau để tạo thành các nhóm phụ âm nhỏ hơn, như môi-môi hay môi-răng… Lưỡi trước được chia thành nhiều nhóm, nhưng đáng chú ý nhất là âm tạo bởi đầu lưỡi (apical) và âm quặt lưỡi (cacuminal).

Cấu âm bổ sung

Một số ngôn ngữ còn có cấu âm bổ sung, làm thay đổi sắc thái các âm. Đó là các hiện tượng bật hơi, môi hóa, ngạc hóa, mạc hóa, yết hầu hóa, thanh hầu hóa, mũi hóa.

Trong tiếng Việt, các cấu âm bổ sung có vai trò quan trọng hơn cả là bật hơi (âm [th]); thanh hầu hóa, tức là bổ sung động tác tắc kèm theo sự nâng lên của thanh hầu, như trong các tiếng “ăn”, “uống”, “uể”, “oải” hoặc trước các phụ âm hữu thanh như [b], [đ] và [l]; và yết hầu hóa, bổ sung động tác khép của yết hầu. Hai hiện tượng này góp phần hiện thực hóa một số phụ âm đầu và thanh điệu tiếng Việt.

Giáo trình có đề cập đến khía cạnh âm học của âm, tức ngữ âm học âm học (acoustic phonetics), một khía cạnh bổ sung cho ngữ âm học cấu âm (articulatory phonetics) giúp chúng ta phân biệt được phụ âm vang với nguyên âm. Tuy nhiên, bài nghiên cứu phụ âm của chúng ta chỉ xem xét ở góc độ cấu âm, nhằm mục đích hỗ trợ việc giảng dạy phát âm, nên thiết nghĩ phần này không cần thiết, có thể lược bỏ.

Về mối quan hệ giữa âm tố (sound) và âm vị (phoneme), cuốn sách này ghi:

Mỗi ngôn ngữ chọn lấy từ trong sự đa dạng của các âm tố một số lượng hữu hạn các đơn vị âm thanh cơ bản dùng để cấu tạo những đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ và để phân biệt chúng với nhau. Những đơn vị ấy gọi là âm vị. Chúng là đối tượng nghiên cứu của bộ môn quan trọng là âm vị học.

Người ta thường định nghĩa âm vị là đơn vị nhỏ nhất của cơ cấu âm thanh ngôn ngữ, dùng để cấu tạo và phân biệt hình thức ngữ âm của những đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ – từ và hình vị.

Phụ âm đầu

Trong mối quan hệ với các yếu tố của âm tiết, phụ âm đầu là những đơn vị độc lập hơn cả. Nó hầu như không liên quan đến các đặc tính của phần vần.

Những âm tiết như ăn, uống, uể, oải tuy không có ghi phụ âm đầu trong chữ viết nhưng trong thực tế, xuất hiện những âm tắc thanh hầu [ʔ].

Trong từng phương ngữ, một số đối lập có trên chữ viết có thể bị mất đi, hoặc bị thay thế. Ví dụ: tiếng Hà Nội không có đối lập tr – ch, x – s và gi – d – r. Trong tiếng miền Nam, /v/ và /z/ được thay bằng /j/.

Hiện nay, hệ thống âm đầu được sử dụng thực tế trong nhà trường và trên các văn bản, chung cho các phương ngữ là hệ thống phụ âm đầu được hình thành trên cơ sở phát âm Hà Nội cộng với sự phân biệt các phụ âm tr-ch, x-s và gi-d-r. Gồm có 22 phụ âm đầu như sau:

/b, m, f, v, t, tʰ, d, n, s, z, l, ʈ, ʂ, ʐ, c, ɲ, k, ŋ, x, ɣ, ʔ, h/

Về mặt cấu âm, vị trí cấu âm là một trong ba tiêu chí để khu biệt phụ âm đầu (cùng với phương thức cấu âm và thanh tính – có hay không có tiếng thanh).

Vị trí cấu âm

Theo vị trí cấu âm, có các nhóm phụ âm đầu:

Âm môi: / b, m, f, v /

Âm lưỡi, gồm các nhóm nhỏ hơn:

  • Đầu lưỡi: / t, tʰ, d, n, s, z, l /
  • Cong lưỡi: /ʈ, ʂ, ʐ /
  • Lưỡi giữa: / c, ɲ /
  • Lưỡi sau: / k, ŋ, x, ɣ /

Âm thanh hầu: / ʔ, h /

Phương thức cấu âm:

Các phụ âm đầu tiếng Việt đối lập nhau theo tiêu chí tắc/xát.

Thanh tính:

Các phụ âm vang

  • Các phụ âm vang mũi: / m, n, ɲ, ŋ /
  • Phụ âm vang bên: /l/

Các phụ âm ồn:

  • Hữu thanh: / b, d, v, z, ʐ, ɣ /
  • Vô thanh: / t, tʰ, ʈ, c, k, ʔ, f, s, ʂ, x, h /. Trong này, /t/ và /tʰ/ lại đối lập nhau ở chỗ không bật hơi – bật hơi.

Tuy nhiên, thế tương liên vô thanh – hữu thanh trong tiếng Việt không bền vững. Có quan điểm cho rằng, phụ âm tiếng Việt không đối lập theo vô thanh/ hữu thanh mà theo tiêu chí căng/ lơi hoặc mạnh/yếu (L. Thompson, 1965). Lại có học giả nói: “Hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt có đặc tính là không cân đối: thế đối lập nhiều chiều thống trị và vắng mặt thế đối lập loại hình” (M. V. Gordina, 1984).

Giáo trình Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt vẫn xem tiêu chí thanh tính là tiêu chí khu biệt, vì trên thực tế chưa ai đo được các mức căng/lơi, mạnh/yếu của phụ âm tiếng Việt một cách chính xác. Còn đặc tính về tiếng thanh thì dễ nhận ra bằng thính giác và các máy móc thí nghiệm hiện có.

Bẳng phân loại phụ âm tiếng Việt về mặt cấu âm:

Phụ âm cuối

Vệ mặt âm vị học, hệ thống âm cuối trong tiếng Việt gồm có 2 bán nguyên âm và 6 phụ âm. 6 phụ âm cuối này đối lập nhau theo phương thức cấu âm (mũi/không mũi) và vị trí cấu âm (môi/đầu lưỡi/mặt lưỡi).

Illustration of the IPA – Vietnamese by James P. Kirby

The recordings accompanying this illustration are of a 32-year-old male native of Hanoi.

Initials

The voiced plosives are canonically, but not consistently, realized as implosives. Initial /t tʰ/ are apico-dental, lamino-alveolar, or contiguous apico-dental lamino-alveolar (‘denti-alveolar’, Harris 2006), while /ɗ n l/ are apico-alveolar.

Some previous treatments such as that of Thompson (1965) recognize an unaspirated, unaffricated palatal stop /c/. However, in the speech of many younger Vietnamese native speakers from Hanoi, such as that of the present consultant, this segment is consistently realized as an affricate [t͡ɕ], a well-attested areal feature (Harris 2006). The tongue body contacts the alveolar or post-alveolar region during the production of both the palatal nasal [ɲ] and the palatal affricate [t͡ɕ] in initial position (Henderson 1965).

While some varieties of Vietnamese maintain a distinction in the phonetic realizations of orthographic |tr-| and |ch-|, these onsets are completely merged in modern Hanoi Vietnamese. The highly salient (and socially stigmatized) merger of /l/ and /n/ > /l/, characteristic of the speech of many lower- and working-class Vietnamese in the Red River Delta, is sometimes consciously manipulated to humorous and/or pejorative effect in colloquial Hanoi speech.

In syllable-initial position /p j r/ occur in a small number of foreign (mainly French) loans, e.g. panne ‘breakdown’, garage, billiard. For many speakers, however, /p/ is realized as [b/ɓ] and /r/ as [z].

Finals

Hanoi Vietnamese licenses eight segments in coda position: three unreleased voiceless obstruents /p t k/, three nasals /m n ŋ/, and two approximants /j w/. In final position /t n/ are canonically alveolar, though it is not clear if they are chiefly laminal or apical. While the EGG study of Michaud (2004) found no evidence of glottalization accompanying unreleased final stops /p t k/, the laryngoscopic study of Edmondson et al. (2010) suggests that glottal reinforcement (in the sense of Esling, Fraser & Harris 2005) may not always be absent in this context.

Velar fronting

Although the phonetic realization of the stops /ŋ k/ following /i e ɛ/ have sometimes been described as palatal [ɲ c], they are actually pre-velar [ŋ] and [k], with no point of alveolar contact (Henderson 1965). The conditioning vowels tend to be shortened and centralized, and may be produced with a noticeable palatal offglide.

Kinh
kênh
canh
xích
xếch
sách

There do exist a few instances of true velars following /ɛ/.

Labial-velar finals

Following back rounded vowels /u o ɔ/, the velar stops /k ŋ/ are produced as doubly articulated labial-velars [kp ŋm]. This articulation is sometimes accompanied by a visible puffing of the cheeks as air becomes trapped in the oral cavity.

ung
ông
ong
Úc
ốc
óc

Note the differences between the doubly articulated labial-velars and plain final bilabials:

xúc
súp
hông
hôm
học
họp
sóng
xóm

As with velar fronting, there are rare exceptions to the realization of final velars as labialvelar after back rounded vowels: compare bong with boong.

Việt-Nam Văn-phạm (1940) về phụ âm

Trần Trọng Kim, 1940. Việt Nam Văn Phạm: Văn phạm là phép dạy nói và dạy viết cho đúng mẹo-luật của một tiếng nói. Những mẹo luật ấy môt đằng phải theo lý cho thuận, một đằng phải lấy những lối, những cách của tiền-nhân đã dùng quen, và sự thông dụng của người trong nước mà làm mẫu mực.

(Các giáo sĩ đạo Thiên-chúa sang truyền giáo đã dùng chữ cái La tinh để phiên âm, đặt ra chữ Quốc ngữ, là một thứ chứ lúc bấy giờ dùng rất phổ thông trong nước)

Chữ quốc ngữ có 12 nguyên âm và 25 phụ âm (khác với Phan Khôi): b, c, ch, d, đ, g(h), gi, h, k, kh, l, m, n, ng(h), nh, p, ph, qu, r, s, t, th, tr, v, x.

Phan Khôi viết về phụ âm tiếng Việt

B, c, ch, d, đ, g, gi, gh, h, k, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, ph, qu, r, s, t, th, tr, v, x: công 26 chữ (phụ âm). Những phụ âm này dùng đứng đầu nguyên âm, nguyên âm ghép hay nguyên phụ âm, làm cho tiếng nói càng nảy nở thêm nhiều ra và đủ điều kiện sinh ra vận.

(…) Phụ âm chưa phải là âm; chỉ khi nào nó đứng đầu nguyên âm, nguyên âm ghép hay nguyên phụ âm thì mới thành âm mà thôi. Lệ như b chưa phải là âm, mà ba, beo, buôn mới là âm vậy.

Phân tích vần Quốc ngữ, viết tháng 11-1948

Theo ngữ ngôn học, có hai thứ tiếng tự nhiên: một là ‘tiếng động’ như lấy cái đùi khỏ vào cây cột kêu cái ‘cốc’, lấy cái búa nện vào hòn đá kêu ‘độp’; một là ‘tiếng nhạc’ như tiếng suối reo, tiếng sáo diều. Tiếng động thì nó cấp xúc, cụt ngắn, phát ra là hết ngay. Tiếng nhạc thì nó du dương, có thể ngân dài ra bao nhiêu cũng được.

Tự mẫu La tinh đặt ra cũng bắt chước hai thứ tiếng tự nhiên đó. Phụ âm phong theo tiếng động, như b đọc ‘bờ’, t đọc ‘tờ’, phải đọc gấp và cụt, nếu ngân dài ra thì lại nhờ công năng của chữ ‘ơ’ theo sát nó, chứ b và t thì vốn không có cái công năng ấy. Nguyên âm phỏng theo tiếng nhạc như a, o có thể ngân dài ra và có thể lên bổng xuống trầm nữa, nhờ vậy trong Quốc ngữ mới có được 5 dấu: huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Năm dấu chỉ dùng cho nguyên âm, đó là lý do tại sao đánh dấu phải đánh trên chữ nguyên âm.

Ở chữ Hán, tiếng động là thanh, tiếng nhạc là âm, ở đây tôi nói ‘tiếng động’, ‘tiếng nhạc’ là dịch theo chữ Pháp cho dễ hiểu. Coi như tự điển giải: (Thanh thành văn vị chi âm) = thanh khi nào thành văn thì mới được gọi là âm, thì đủ biết. Lấy nghiêm cách mà nói thì phụ âm chỉ là (thanh) mà thôi, cho nên nói “chưa phải là âm”. Đợi khi nó đi với nguyên âm, nghĩa là thành văn, thì nó mới thành âm được. Chữ “âm” này phải được coi trọng. Nó có nghĩa là văn tự Âm và văn tự, theo ngữ ngôn học, gọi chung là “ngữ”, tiếng Pháp là (langue), chỉ cả hai sự ứng dụng: nói và viết.

Nói cách cụ thể, khi anh muốn viết một chữ đọc ra là “bê” thì anh không thể viết b mà phải viết b với ê, muốn viết một chữ đọc ra là “tê” thì không thể viết t mà phải viết t với ê, thì anh biết cái giá trị của phụ âm kém nguyên âm nhiều lắm.

Phần Cắt nghĩa thêm, viết tại Hà Nội, ngày 15-11-1954