luan-vien-cu-tuc

Luân viên cụ túc

Luân viên cụ túc (輪圓具足), nghĩa là một vòng tròn đầy đủ, để chỉ một loại đàn tràng của Mật tông Tây Tạng có tên gọi phổ thông là Mạn đà la. 

Cuốn “Mật mã Tây Tạng” của Hà Mã đã cấy vào óc tôi hai niềm si mê: một cho vẻ đẹp của đất và người Tây Tạng, một cho những giai thoại về Mật Tông Phật Giáo. Trong quá trình tìm hiểu về Mật Giáo, tôi bắt gặp một khái niệm có tên là Mạn-đà-la (Mandala). Trong bài viết này, tôi muốn trình bày những đọc hiểu và cảm nhận của mình về khái niệm này.

luan-vien-cu-tuc

Để tiện cho việc định nghĩa Mạn-đà-la, có lẽ cần khoanh vùng bối cảnh mà khái niệm này xuất hiện và tồn tại. Trong Kalachakra Initiations, phần Introduction to Kalachakra, đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 có nói Phật Pháp có thể chia thành hai thừa, Tiểu Thừa và Đại Thừa. Trong đó, Đại Thừa lại có thể phân chia thành hai thừa là Ba La Mật Thừa hiển giáo và Kim Cương Thừa mật giáo, hay còn gọi là Mật Tông.

Sự phân chia này của Đại Thừa, theo ngài, là xuất phát từ những khác biệt trong phương pháp tu tập để đạt đến thành tựu viên mãn. Và sự khác biệt nằm ở chỗ Mật Tông có sử dụng những phương pháp gọi là tantra, có tài liệu dịch là Đát-đặc-la, có nơi dịch là Thành tựu pháp. Tantra được phân làm bốn loại: hạ, trung, cao và tối cao – được thực hành tùy theo căn cơ của người tu tập – là: kriyā-tantra (tức phép tu luyện qua những động tác, nghi lễ như kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn), caryā-tantra (tức phép tu luyện qua hành động hằng ngày), yoga-tantra (tức phép thiền định – luyện tâm) và anuttarayoga-tantra (hay còn gọi là Tối Thượng Du Già là phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này).

Trong tantra anuttarayoga-tantra có một phép tu gọi là Kalachakra, dịch là Thời Luân Kim Cương Pháp. Và trong Kalachakra tantra, có một nghi thức được thực hiện với đàn tràng là một đồ hình được gọi là Mạn-đà-la.

Trích dẫn sau trong Đại Nhật Kinh nói về ý nghĩa của đồ hình Mạn-đà-la với việc tu tập:

Mandala là nơi tâm thức của chư đại bồ tát an trụ. Nó cũng là nơi an trụ tâm thức của tất cả hành giả du già. Do biết như vậy, hành giả chứng ngộ toàn giác… Sự quán tưởng mandala trong tâm hành giả lành trị cơn bịnh mê muội. Nó sẽ lập tức lành trị sự mê 4 muội trong tâm chúng sinh, và giải trừ mọi nghi nạn. Mandala không khác gì tâm thức, và tâm thức chẳng khác gì mandala. Vì sao vậy? Vì tâm thức và mandala là một. (Trích Đại Nhật Kinh, Taisho 18:41) 

Trong cuốn Bóng Trúc Bên Thềm, tác giả Tâm Chơn mô tả Mạn-đà-la như sau:

Mạn-đà-la là một hình vẽ mang tính nghệ thuật và tâm linh tôn giáo sâu sắc. Nơi đó có sự hợp nhất giữa thế giới bản thể và thế giới hiện tượng, giữa tâm thức và vũ trụ. Trong ý nghĩa thực tiễn, Mạn-đà-la còn là một đàn tràng để hành giả cúng dường, cầu nguyện và tu tập thiền quán. Mạn-đà-la là phiên âm từ chữ Phạn Mandala, có nghĩa là vòng tròn, vòng cung. Trung Hoa dịch là luân viên cụ túc, nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Đây là một biểu tượng của sự biến hiện nơi tâm thức của ta mà cũng là biểu thị một vũ trụ thu nhỏ qua cái nhìn của bậc giác ngộ. Theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, có nhiều loại Mạn-đà-la như Mạn-đà-la bằng cát màu hay bột đá quý màu, Mạn-đà-la bằng tranh vẽ, Mạn-đà-la bằng vật thể ba chiều, thường là kim loại hoặc gỗ và Mạn-đà-la tập trung tinh thần qua sự thiền định. Và chỉ có Mạn-đà-la được làm bằng cát màu là nổi tiếng và phổ biến nhất.

Như vậy, chúng ta tạm hiểu được khái quát khái niệm Mạn-đà-la. Tiếp theo đây, tôi muốn nói về sự lan truyền của khái niệm này đến thế giới phương Tây và đến toàn thế giới qua cuốn The Wheel of Time Sand Mandala: Visual Scripture of Tibetan Buddhism của Barry Bryant.

Hành trình phát nguyện gìn giữ thành tựu pháp Mật Tông

Năm 1988, với tâm niệm bảo vệ hòa bình thế giới, xóa tan những thị phi về Kalachakra, cũng như để giữ gìn di sản của Mật Tông Tây Tạng sau biến cố những năm 1950s, đức Đạt-lai Lạt-ma đã đồng ý lời mời của Samaya Foundation, cử bốn nhà sư ở tu viện Namgyal Monastery đến American Museum of Natural History ở New York để trình bày cho công chúng thấy về Mạn-đà-la Kalachakra.

Sự kiện này, theo tác giả Bryant, là một sự kiện có tính lịch sử vì lần đầu tiên một nghi thức tôn giáo bí truyền của Mật Tông Tây Tạng được thực hiện ở một quốc gia phương Tây, đánh dấu sự ban tặng một “nghệ thuật linh thiêng” của Tây Tạng đến di sản văn hóa và nhân học thế giới.

luan-vien-cu-tuc-01

Tháng 7 năm 1988, nhà sư đầu tiên từ Namgyal Monastery là Lobsang Samten đáp xuống sân bay JFK với 2 vali chưa cát màu. Theo lời chỉ dẫn của Lobsang Samten, Mạn-đà-la đầu tiên phải được làm là Mạn-đà-la Guhyasamaja. Vì một là, Mạn-đà-la này không quá phức tạp và có thể thực hiện bởi chỉ cần một nhà sư; hai là, có một đức tin là nếu tantra Guhyasamaja được hoàn thành, thì mọi tantra khác cũng sẽ được hoàn thành.

Để dựng Mạn-đà-la, trước hết cần xây dựng một cái nhà để chứa Mạn-đà-la gọi là Thekpu, dịch là Tứ giác đài. Phương pháp xây dựng thekpu được chuyển ngữ sang các khái niệm của kỹ thuật phương Tây bởi kiến trúc sư Stan Bryant. Thekpu được làm ra có chỗ để đặt hệ thống đèn lẫn các thiết bị thu hình, thu tiếng khác. Sau đó, Thekpu được nghệ nhân Tây Tạng Phuntsok Dorje trang trí bằng các vật phẩm từ gỗ và lụa.

Các bước tiếp theo trong việc xây dựng Mạn-đà-la có thể thấy được thông qua video sau:

 

Sau khi Mạn-đà-la được hoàn tất, sẽ có một nghi thức phá hủy được thực hiện. Các nhà sư dùng pháp khí và cọ để quét đi tác phẩm được làm ra một cách vất vả trong nhiều tuần thành một đụn cát lẫn lộn, rồi bỏ những thành phẩm này vào những cái lọ để mang đi rải xuống sông.

Sự kiện này nhận được những phản hồi tích cực từ phía công chúng Mỹ Quốc. Bryant mô tả:

Suốt sáu tuần liền ở bảo tàng, không lúc nào có dưới 100 người có mặt ở triển lãm. Người ta chiêm ngưỡng những nhà sư kiến tạo Mạn-đà-la cát với thái độ thành kính, như xem một nghi lễ thực sự trong đền thờ. Mỗi sáng lúc 10 giờ đã có khoảng 50 người chờ để cùng dự buổi cầu nguyện buổi sáng của những nhà sư mà có khi dài đến 45 phút. Sau đó, tấm màn bảo vệ được vén lên để các nhà sư tiếp tục công việc xây dựng Mạn-đà-la. Hơn 50,000 người đã đến xem triển lãm. Những gì họ thấy trong căn phòng là một nhà sư ngồi bên một cái bệ cao đến thắt lưng, khẽ khàng rắc cát màu qua một cái phễu hình trụ để vẽ nên một đồ hình gồm những hình tròn và vuông có đường kính hơn 2 mét.

Báo chí Mỹ viết nhiều về sự kiện này. Vào ngày sand mandala mở ở bảo tàng, reporter Dennis Hevesi của tờ NY Times viết “Amid the clamor and clatter of the city, a pinpoint of pure – a ‘gateway to bloss’ – is being created”.

John Perrault, nhà phê bình mỹ thuật tham dự buổi ceremony dismantling này đã viết bài báo đầu tiên về sand mandala Tạng ở Mỹ, xuất bản trong tờ Village Voice. Ông gọi sự thể hiện của sand mandala là “performance art of a high order”.

Nhiều writer và photographers từ những tạp chí, báo, truyền hình, truyền thanh khác nhanh chóng theo. Kay Larson, trong chuyên mục tạp chí New York, viết “A sand mandala is an extraordinary thing, collaborative, ephemeral, unsigned, ahistorical – contrary in everyway to ‘art’ as we mean it in the world”.

Sau khi Mạn-đà-la được hoàn thành, nó được mang đi từ bảo tàng, ngang qua World Trade Center để đến dòng song Hudson. Tại con sông, Lobsang niệm chú và đưa tiễn những hạt cát màu về với dòng nước. Camera ghi lại ánh hoàng hôn trải lên khung cảnh thành thị của New Jersey.

Bạn gái tôi từng là đàn ông

Dịch từ bài The Straight Men Who Have Sex with Trans Women của Diana Tourjée trên Vice Broadly.
“Một ngày nọ, trong căn hộ của mình ở thành phố New York, khi đang lật giở những trang tạp chí khiêu dâm, tôi tình cờ thấy một người phụ nữ có ‘cái ấy’ của đàn ông. Ngay lập tức, máu trong người tôi bắt đầu chộn rộn, tim đập nhanh hơn, mặt nóng bừng và ‘thằng nhỏ’ thì ‘trỗi dậy’ một cách không kiểm soát. Lúc ấy, tôi vô cùng hoang mang tự hỏi: Không lẽ mình là gay?”
Matt ngồi đấy, cơ thể vẫn săn chắc dù đã ngoại tứ tuần, trong bộ quần áo thể thao, trên chiếc ghế sô-pha, kể tôi nghe về cái ngày định mệnh 30 năm về trước và những bĩ cực mà anh phải gánh chịu sau đó. Giờ đây, sau nhiều năm sống trong phiền não, Matt cuối cùng cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.
Vào những năm 80, việc một người đàn ông bình thường bỗng dưng phát hiện ra mình có ham muốn tình dục đặc biệt dành cho người chuyển giới là một điều rất đáng sợ (trans-amorous là khái niệm chỉ người thích “yêu” những người chuyển giới). Thời ấy những người như vậy không có nơi nào để tìm đến cả, không một trung tâm hỗ trợ, không một cộng đồng giúp đỡ nào. Nếu bị phát hiện ra, có thể họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề.
Thực tế đã có một người đàn ông từng chia sẻ trên Reddit, rằng mối quan hệ giữa anh và bạn gái là người chuyển giới bị cả gia đình lẫn bạn bè xung quanh ngăn cấm. Họ móc mỉa anh, gọi anh là gay và thường hỏi anh, “có phải cô ta cũng có của quý của đàn ông hay không”. Anh chia sẻ, “dù bạn gái tôi chưa phẫu thuật nhưng tôi vẫn thấy cô ấy cũng như nhiều người con gái khác mà thôi”.
Ở một diễn đàn khác, khi người ta hỏi trai thẳng liệu họ có sẵn sàng hẹn hò với một phụ nữ chuyển giới hay không. Nhiều người trả lời thẳng thắn rằng không; một số khác thì bảo rằng có, miễn là cô đó giống nữ hoàn toàn và đẹp gái. Nhưng cũng có một câu trả lời khác như này: “Nếu sống trong một xã hội hoàn toàn khác, thì việc này chẳng thành vấn đề. Nhưng thực tế đời sống hiện tại không cho phép tôi làm điều ấy”.
Matt quan hệ lần đầu với người chuyển giới vào năm 1987. Đó là một cô gái mà anh gặp trên đoạn đường cao tốc vốn nổi tiếng là điểm nóng của lao động tình dục chuyển giới ở New York. Mặc dù anh rất thích trải nghiệm này, nhưng sau mỗi cuộc giao hoan, anh luôn thấy một cảm giác tội lỗi, sợ sệt: “Liệu có ai nhìn thấy không? Liệu mình có thể bị nhiễm HIV không? Tôi đã rất sợ nhưng không dám nói cho ai cả.”
Thời điểm ấy thế giới đang có đại dịch AIDS, mà quan hệ đồng giới lại dễ lây nhiễm hơn quan hệ khác giới, nên người ta thường gắn mác những người có quan hệ đồng giới hoặc quan hệ “cửa sau” là những kẻ lan truyền HIV. “Thời ấy không có thuốc chữa, chỉ cần dính một phát là “đi” ngay. Nhưng tôi sợ bị nhiễm bệnh thì ít, mà sợ cái nhìn của cộng đồng thì nhiều”. Bệnh cùng lắm thì chết, nhưng tai tiếng thì ám ảnh cả về sau, lên những người quanh mình.
Matt đã gặp vô vàn những người chuyển giới bán dâm. Anh là một khách hàng quen mặt của họ suốt 30 năm nay. Mặc cho những bất an trong lòng, anh luôn cảm thấy cần nhiều thứ hơn là trải nghiệm tình dục đơn thuần. Anh từng thử hẹn hò với vài người trong số ấy, nhưng đều liên tục bị từ chối.
“Người chuyển giới lao động tình dục thường tạo cho mình một vỏ bọc sau những tổn thương mà đàn ông gây ra cho họ. Phần lớn đàn ông chỉ coi họ như một thứ đồ chơi”, Matt chia sẻ. Trên thực tế, nhiều người đàn ông tuy thích quan hệ với một người chuyển giới nhưng chỉ xem nó như một sở thích khác lạ, chứ không hề quan tâm đến việc họ cảm thấy mình được đối xử như thế nào như một con người.
Có không ít đàn ông nhận mình là trai thẳng và quen một cô bạn gái. Nhưng họ có ham muốn dành cho nữ chuyển giới nhiều hơn cả cho phụ nữ. Và họ tìm cách che giấu điều đó để không bị xã hội xem là quái dị.
Về sau, Matt vượt qua được những lo sợ của bản thân để nghiêm túc tìm kiếm một mối quan hệ lâu dài với một người chuyển giới. Lúc này, mối duyên nợ của đời anh xuất hiện.
Khoảng 10 năm trước, Matt gặp một cô gái chuyển giới tên Alicia. Đó là người chuyển giới đầu tiên mà anh hôn ở nơi công cộng. Matt kể, “lúc cả hai cùng đi dạo trên đường và tôi lo lắng không biết liệu có ai thấy hay không, cô ấy nói với tôi rằng, em sẽ đi dạo với anh, nhưng nếu anh thấy ngại vì em thì em cũng sẽ thấy ngại vì anh”. Và ngay lúc đó anh đã hôn cô. Matt mỉm cười, lắc đầu khi nghĩ về những suy nghĩ bấp bênh của mình ngày trước.
Như nhiều người nữ chuyển giới nghèo khác, Alicia nghiện thuốc phiện, và cô thường gọi Matt để kiếm tiền. “Tôi đưa cô ấy 100 đô, nhưng không phải để làm tình. Lúc ấy trông Alicia gầy trơ xương rất đáng thương, và nó làm tôi đau lòng”. Matt muốn giúp nhưng không thể, đau đớn nhìn Alicia chìm sâu vào nghiện ngập.
Sáu, bảy năm sau đó, Matt cố tìm lại Alicia, nhưng cô hoàn toàn mất dấu, cả ngoài đời lẫn trên mạng.
Đến tận năm ngoái, sau hơn chục năm “sống hai cuộc sống” khác nhau, Matt mới sẵn sàng cho một mối quan hệ ổn định, lâu dài. Anh tìm một người chuyển giới để yêu và sống cùng. Nhưng tìm đâu ra chứ?
Matt thử dùng những ứng dụng hẹn hò như OkCupid. Lúc này, OkCupid đã có danh mục dành cho người chuyển giới. Và tình cờ thay, người đầu tiên mà Matt kết nối được lại chính là Alicia. “Tôi cứ tưởng cô ấy đã chết. Vì cổ từng nói tôi là mình chắc không thể sống hơn 10 năm nữa”.
Alicia trong ảnh trông khỏe mạnh và hạnh phúc hơn ngày xưa. Profile ghi cô có việc làm và đang tìm kiếm một mối quan hệ. Nhiều năm kể từ lần cuối gặp nhau, Alicia đã cai nghiện và bắt đầu vận động cho quyền lợi của cộng đồng chuyển giới. Cô nhận ra Matt và đồng ý gặp, nhưng cái vỏ bọc mà cô dựng lên vẫn còn nguyên.
Tuy vậy, Matt biết rằng mình không chỉ là một khách hàng mua “tình”, mà có thể cho cô nhiều hơn thế. Và trong cuộc tương phùng lần này, cả hai không đến với nhau chỉ vì tiền hay tình dục.
Matt nắm tay Alicia đi dọc con đường rồi ngồi xuống mỏm đá bên dưới cầu Brooklyn. “Đó là một cuộc hẹn hò thực sự, lãng mạn và tuyệt vời, và là lần đầu tiên mà tôi không hề lo sợ”.
Cánh cửa phòng mở ra, Alicia bước vào với một đĩa bánh trên tay. Matt vui như một đứa trẻ. Anh kéo cô lại ghế sô-pha nhưng cô khéo léo đẩy anh ra để cột lại mái tóc dài của mình rồi mới lại ngồi bên cạnh.
Cả Matt lẫn Alicia đều đang có một cuộc sống hôn nhân như nhiều cặp đôi khác. Ở tuổi tứ tuần, họ đều làm công việc full-time và đều biết chăm sóc bản thân. Anh yêu tính cách cầu tiến và khiếu hài hước của cô. Còn cô thì tin rằng, “nếu người chuyển giới đặc biệt, thì người bạn đời của họ cũng đặc biệt không kém, vì không có nhiều người như vậy”.
Matt kể anh biết khá ít người cũng yêu người chuyển giới giống mình. Lần nọ, anh có gặp một anh chàng hẹn hò với bạn của Alicia. “Anh ta trẻ hơn tôi và có lần hỏi tôi cái câu tôi từng tự hỏi chính mình – liệu việc này [quan hệ với một người chuyển giới nữ] có biến tôi thành gay không? Và tôi trả lời: Cậu biết không? Nếu mối quan hệ này làm cậu vui và người yêu của cậu cũng vui, thì việc gì phải bận tâm về chuyện ấy? Tôi nghĩ những lời đó đã có tác động đến cuộc sống của chàng trai ấy về sau”.
Matt nói tiếp: “Nói thật với cậu, có một điều tôi lấy làm xấu hổ, đó là tôi vẫn chưa công khai mối quan hệ của mình với gia đình và đồng nghiệp. Họ thường hay nói về người chuyển giới với những lời lẽ cay nghiệt. Alicia bảo không cần phải làm việc ấy làm gì. Và một đôi lần tôi cũng đáp lại, anh tin là những ai đã phải sống cả đời với những tranh đấu nội tại, những mâu thuẫn, lo sợ của bản thân thì cuối cùng cũng sẽ tự do”.
Cái thành kiến dành cho những người đàn ông yêu người chuyển giới đã ăn sâu bám rễ trong xã hội tới mức chỉ cần bí mật lộ ra thì hậu quả kéo theo sẽ khủng khiếp không lường hết được.
Ngôn ngữ của chúng ta đã sản sinh ra một hệ thống khái niệm để gọi tên từng nhóm người dựa trên giới tính của họ: người dị tính, người đồng tính, người song tính, người chuyển giới, người vô tính… Và chúng ta không ngừng tìm cách gò ép bản thân sao cho vừa khít với một cái danh tính nào đó trong hệ thống phân loại nói trên. Nhưng không ai thực sự là con người mà họ tuyên bố họ là.
Thay vì cố gắng phân loại và đấu tranh để “bình thường hóa” một cái tên gọi, sao chúng ta không đơn giản nghĩ rằng tất cả chúng ta đều “bất thường”, đều riêng biệt? Không làm gì phương hại đến cuộc sống của người khác, sao chúng  ta lại không thể sống và yêu theo cách mình muốn?
Tôi hỏi Matt cần phải làm gì để thay đổi xã hội, để giúp những người đàn ông yêu người chuyển giới được bước ra ánh sáng. Anh nói, “chỉ cần ngoài kia có thêm những người đàn ông dám nắm tay một người nữ chuyển giới đi trên đường là đủ. Điều đó cho những người đàn ông khác can đảm để làm điều tương tự mà không hề sợ hãi”.