di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai

Đi qua những phóng túng hình hài

Tôi sinh ra với một vết bớt màu mận chín. Những người hàng xóm quanh nhà tôi bảo người có vết bớt màu tối nằm gần tim là những kẻ có “lòng dạ xấu xa”. Họ cho là thằng bé lớn lên sẽ trở nên ranh ma xảo quyệt và không phải người tốt. Mẹ tôi vô cùng lo lắng, tìm cách xóa vết bớt ấy đi. Nghe lời của những ông bà lớn tuổi trong xóm, mẹ bế tôi sang nhà một bà cụ chết đột ngột do bị cảm, lấy ngón tay trỏ của xác chết quệt vào bết bớt tôi bảy cái, vừa quệt vừa lẩm bẩm “cụ đi mang theo hộ cháu nhé”. Sau đó vết bớt vẫn không mất đi. Mẹ lại nghe theo người ta, lấy quả trứng gà mới đẻ còn ấm nóng chườm lên chỗ có bớt liên tục như vậy chín lần. Vết bớt mờ đi rồi mất hẳn, mẹ tôi rất vui mừng.

Năm tôi 18 tuổi, sau khi ba mất, tôi thú nhận với mẹ chuyện mình thích con trai và không có cảm xúc với con gái. Mẹ tôi kiên quyết cho rằng xu hướng tính dục không phải bẩm sinh mà có, mà là do bị lây nhiễm từ xã hội nên cứ nằng nặc đưa tôi đi khám chữa cho bằng được. Thời gian trôi qua, nhận thấy không thể thay đổi được gì, mẹ hay xin lỗi vì đã không dạy dỗ tôi trở thành một người đàn ông bình thường. Mỗi lần như vậy tôi đều bảo mình rất hài lòng với con người hiện tại và rằng mẹ là một người mẹ rất tuyệt vời. Cũng thời gian này, đột nhiên tôi thấy một vệt đen hình tam giác ngược to xuất hiện trên ngực trái của mình. Và hỏi mẹ thì mẹ bảo đó là hình dáng của vết bớt ngày xưa. Không hiểu vì sao nó đã trở lại. “Có những vết bớt không thể xóa được!”, mẹ tôi nói bâng quơ trong một lần trò chuyện.

di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai-01
Như những người trẻ quanh mình, tôi thích thời trang, và những cách thức để biến đổi cơ thể mình sao cho khác đi. Những bộ quần áo, vòng đeo tay hay dây chuyền hợp thời, một lớp trang điểm nhẹ cùng với một chút nước hoa có thể biến tôi trở thành một ai đó đẹp hơn, tốt hơn, hay quyến rũ hơn với con người thật của mình. Điều khiến tôi thấy buồn cười là khi cởi bỏ hết tất cả quần áo và nhìn chính mình trước gương, chỉ có một thứ duy nhất khiến tôi dán mắt vào, và khiến tôi thấy mình đặc biệt: vết bớt hình tam giác ngược sẫm màu trên làn da trắng xanh ngực trái.

19 tuổi, tôi có hình xăm đầu tiên: dòng chữ nothing impossible ở mặt trong bắp tay. Đó là giai đoạn tôi luyện thi đại học và nghĩ rằng hình xăm này sẽ tiếp thêm cho mình động lực học tập. Thật ngớ ngẩn! Mẹ tôi đã la tôi nguyên cả buổi chiều. Đợt đó tôi vẫn thi trượt. Nhiều năm sau này mấy lần tôi muốn xóa hình xăm này nhưng rồi lại thôi.

Sau đó, tôi bắt đầu học để trở thành một thợ xăm. Tôi nhận thấy mình làm việc này khá tốt. Thầy dạy vẽ bảo tôi có năng khiếu hội họa: phát thảo nhanh, tay vẽ chắc, cảm nhận màu sắc tốt, nhất là sáng tạo. Vậy mà trước giờ, chưa ai nói với tôi điều đó cả. Mẹ và những người xung quanh luôn muốn tôi trở thành bác sĩ, kỹ sư. “Chẳng ai muốn con mình trở thành một thợ xăm cả!”, mẹ tôi có lần nói vậy.

Mẹ tôi mất vào tháng tám năm tôi 25 tuổi. Mãi ba tháng sau đó, tôi mới bắt đầu quen với sự thật là căn nhà chỉ còn lại mỗi mình mình. Mỗi khi làm những việc mà trước đây mẹ tôi hay làm cho tôi – nấu ăn, giặt giữ, tôi đều thấy nhớ bà. Tôi nhớ những khi bà la mắng về việc tôi về nhà khuya khiến bà phải hâm đồ ăn lại. Những câu trách mắng, khi nhớ lại, làm tôi vừa buồn cười, vừa thấy trống trải. Người duy nhất phàn nàn hay ngăn cấm việc tôi nhuộm tóc, xỏ khuyên hay xăm hình đã không còn nữa, và cũng chẳng còn ai trên cõi đời này thực sự quan tâm đến việc tôi đối xử như thế nào với cơ thể của mình.

Tôi dần không còn hứng thú với việc thay đổi ngoại hình nữa mà tập trung vào sự nghiệp. Tiệm xăm khá đông khách, hầu hết là những người trẻ. Họ, hoặc đã nghĩ ra một hình xăm nào đó, hoặc mơ hồ và đến nhờ tôi tư vấn, đều là những người muốn tìm kiếm một dấu ấn nào đó đặc trưng cho riêng mình. Phần lớn hình xăm được chọn là một biểu tượng, một cái tên, hay một câu châm ngôn ngắn – những thứ trong quá trình sống họ trải nghiệm và thấy quan trọng với mình, theo cách này hay cách khác.

di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai-01
28 tuổi, tôi bị bỏng khí ga một mảng to trên ngực. May mắn là không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhưng vẫn phải nằm viện vài ngày. Sau khi tháo băng, tôi trở về nhà, nhìn chính mình trong gương. Vết bớt đã không còn, chỉ còn lại một vùng da đỏ hỏn, nhăn nheo, bóng lưỡng to bằng cả bàn tay. Không hiểu sao lúc ấy, cảm giác về thời gian trong tôi trở nên rõ ràng. Làn da quanh vết sẹo đã sạm màu đi nhiều, những dải cơ quanh bắp tay có hình xăm vẻ như chùng xuống, mái tóc xơ đi vì nhuộm rủ xuống gương mặt góc cạnh và che đi một phần vành tai phải có đeo khuyên kim loại. Và tôi nghiêm túc tự hỏi mình, nếu tôi mất đi không chỉ vết bớt, mà cả đôi tai, tay chân hay một bộ phận nào đó của chính mình, liệu tôi có còn là tôi? Liệu những thứ mà tôi đã đắp thêm lên cơ thể của mình có thực sự có ý nghĩa trong việc làm nên con người của tôi?

Cơ thể này đã đi qua hết những tiếp nhận lẫn khước từ, kiêu hãnh lẫn định kiến để trở nên nó của ngày hôm nay. Chúng ta được sinh ra với một tổ hợp gen bất định và bị quẳng vào một thế giới với đầy rẫy những biến cố không thể nào lường trước. Mỗi một dấu tích cơ thể, dù là di truyền hay do môi trường tác động, đều có ý nghĩa với chu trình sống cá nhân. Và khi tự hỏi mình phải đối xử như thế nào với chúng, với cơ thể của mình? Tôi lại như nghe thấy những lời của mẹ ngày xưa “hãy yêu thương cơ thể con vì nó là cái bình để chứa linh hồn”.

Bài: Trịnh Nhật Tuân
Illustration: Livia Falcaru

[Lịch sử thiết kế] Phong trào Bauhaus

Từ khoảng cuối thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp tuy đã lắng xuống, nhưng ở châu Âu vẫn còn dấy lên những tranh luận về tính thẩm mỹ của các sản phẩm được tạo ra bằng quy trình sản xuất hàng loạt. Nhiều trào lưu đã phát sinh để tìm cách giải quyết bài toán về sự đối lập giữa quy trình sản xuất công nghiệp và tính thẩm mỹ của sản phẩm, mà rộng hơn là giữa khoa học kỹ thuật và nghệ thuật, giữa máy móc và con người. Nhưng hầu như lời giải tối ưu – toàn diện – nhất quán – lâu dài nhất lại đến từ một trường đào tạo mỹ nghệ ở Đức có tên là Bauhaus.

Bauhaus được thành lập năm 1919 bởi kiến trúc sư Walter Gropius. Trong khoảng 14 năm tồn tại (1919-1933), trải qua 3 thế hệ hiệu trưởng (Walter Gropius, Hannes Meyer và Ludwig Mies van der Rohe), di dời địa điểm 2 lần (từ Weimar chuyển sang Dessau năm 1925, rồi lại từ Dessau chuyển sang Berlin năm 1932), Bauhaus đã để lại những di sản to lớn cho nghệ thuật, kiến trúc, lẫn thiết kế mà không thể nào nói hết.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày 3 vấn đề: triết lý của Bauhaus, những đóng góp lớn nhất của Bauhaus đối với thiết kế nói chung và ngành thiết kế đồ họa nói riêng.

1. Triết lý của Bauhaus:

Tính toàn thiện, hoàn chỉnh của mọi thiết kế: Bauhaus muốn liên kết các loại hình nghệ thuật tạo tác từ kiến trúc, điêu khắc đến hội họa với kỹ thuật và thủ công mỹ nghệ; cũng như tái lập và đúc kết kinh nghiệm từ tất cả những trường phái mỹ nghệ trước đó để tạo ra những sản phẩm có tính nhất quán và hoàn chỉnh về tinh thần, nội dung lẫn hình thức. Gropius quan niệm mọi nghệ thuật thị giác đều phải hướng đến việc thiết lập một tổng thể có tính vật chất, cụ thể là không gian sống, nhằm làm địa hạt cho các trải nghiệm giác quan của con người văn minh. (Theo đó, mỹ thuật thuần túy sẽ trở thành mỹ thuật ứng dụng, và cùng với tri thức về khoa học kỹ thuật và tính phổ cập đại chúng, nó trở thành khái niệm ‘thiết kế’.)

Thiết kế hướng đến bình đẳng xã hội: Về phía người tạo tác, sẽ không còn phân biệt giữa nghệ sĩ và nghệ nhân thủ công mỹ nghệ hay người sản xuất, không còn ngăn cách về địa vị, năng lực, sự phù phiếm hay kiêu ngạo… vì nghệ nhân đồng thời là nghệ sĩ, nghệ sĩ đồng thời là kỹ sư, tất cả những kiến thức đa ngành sẽ được hội tụ lại ở 1 con người để đảm bảo tính toàn thiện và hoàn chỉnh. Về phía người tiêu dùng và thưởng lãm, các sản phẩm được tạo ra sẽ hướng đến sự giản tiện, tiết kiệm và đồng nhất để phục vụ cho sự tiêu dùng của toàn dân – bất kể họ thuộc giai tầng xã hội nào.

(Hai điều trên được thể hiện ở Bauhaus Manifesto năm 1919 của Walter Gropius)

Hình thức phải tuân theo chức năng: Dù tạo tác của thiết kế có là một cái ghế, một cái tủ hay một ngôi nhà, thì hình thức của nó cũng phải trung thành với chức năng của chính nó, nghĩa là, nó phải hữu hiệu, bền chắc, kinh tế và đẹp.

Giản tiện trong sự đa dạng, tiết kiệm về không gian, chất liệu, thời gian, tiền bạc: Bauhaus khuyến khích sự khám phá những chất liệu mới, sự tìm tòi nghiên cứu những kỹ thuật mới. Song, với thiết kế, mỗi cá nhân phải sáng tạo dựa trên nền tảng truyền thống để phát triển những sự mới mẻ trong thiết kế; nghĩa là, thiết kế phải tuân thủ những luật lệ nguyên tắc của thời đại, không có những chi tiết bóng bẩy, phù phiếm không cần thiết. Sự giới hạn về những đặc điểm thiết kế, hình dạng và màu sắc là để đảm bảo khả năng tái thực hiện bởi những người khác trong sản xuất công nghiệp trên quy mô lớn. Việc thiết lập tiêu chuẩn trong thiết kế là để đảm bảo cho sản xuất công nghiệp để phục vụ đại chúng. Trong kiến trúc, cụm từ “tính công năng” có thể dùng để mô tả đặc điểm này.

(Hai điều trên được thể hiện ở Principles of Bauhaus Production năm 1926 của Walter Gropius)

2. Di sản của Bauhaus trong thiết kế

Chương trình đào tạo thiết kế của Bauhaus: đây là chương trình đào tạo được xây dựng và phát triển cho đến hoàn thiện bởi nhiều thế hệ giảng viên của Bauhaus từ Walter Gropius, Johannes Itten, László Moholy-Nagy đến Josef Albers. Chương trình này tích hợp các kiến thức về mỹ thuật thuần túy lẫn thiết kế. Nó bắt đầu bằng một khóa sơ bộ để giúp học viên làm quen với chất liệu, lý thuyết về màu sắc, đường nét, hình khối và các “đơn vị” cơ bản nhất của nghệ thuật thị giác… để chuẩn bị cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn.

Tiếp đó, học viên sẽ được đến các workshops để học song song với thực hành tạo ra những sản phẩm của riêng mình. Những workshops này được phân loại theo chất liệu, bao gồm đồ kim loại, đồ gỗ, dệt may, đồ gốm, typography và vẽ tranh tường. Từ 1925 trở về sau, Bauhaus mở thêm nhiều workshops về các chất liệu khác, về photography, và cả kiến trúc.

Thời kì đầu, mỗi workshop có 2 giáo viên, 1 chuyên về kỹ thuật và 1 chuyên về mỹ thuật. Về sau, khi trình độ mỗi giáo viên được nâng cao, đồng thời 1 số học viên xuất sắc được giữ lại giảng dạy, chỉ còn cần 1 giáo viên đảm nhiệm workshop.

Chương trình đào tạo thiết kế của Bauhaus là chương trình đào tạo thiết kế hoàn chỉnh đầu tiên, làm nền tảng cho sự ra đời của các chương trình đào tạo thiết kế ngày nay, trong đó có thiết kế đồ họa.

Bauhaus đã khẳng định một điều tạo tác cái đẹp là một năng lực có thể được truyền dạy và khơi nguồn từ chính mỗi người

Cơ sở lý thuyết của mỹ thuật ứng dụng:

Trong suốt thời gian tồn tại của mình, thông qua những workshops, những buổi triển lãm, những tạp chí và sách được biên soạn bởi những giảng viên và học viên xuất sắc, Bauhaus đã để lại những lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực thiết kế mà đến nay vẫn còn được đánh giá cao:

1. Lý thuyết thị giác Gestalt: Bauhaus vận dụng công trình nghiên cứu mang tính phổ quát của thị giác con người này để đề xuất những phát kiến của mình về thiết kế. Lý thuyết Gestalt đề xuất khái niệm về similarity/continuity; closure/proximity; figure-ground; symmetry.

2. Functionalist Typography: Typography của Bauhaus chịu ảnh hưởng bới triết lí về “tính công năng”. Theo đó, chữ được đối xử như đúng mục đích sử dụng của nó – phương tiện giao tiếp. Vì vậy, Bauhaus hạn chế mọi biến đổi thêm thắt đối với các chữ cái. Mặt khắc, Bauhaus hướng đến sự cắt giảm các chi tiết thừa của con chữ nhưng vẫn đảm bảo tính dễ đọc, ngắn gọn, đơn giản. Bauhaus hầu như chỉ tập trung phát triển chữ Sans Serif, phủ nhận font Serif và font Black Letter của dân tộc Đức hiện thời vì cho là chúng cầu kì một cách thừa thải, thiếu tính bình đẳng, tính đại chúng và tính quốc tế. (Điều này về sau là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự kềm cặp về chính trị của Đức Quốc Xã đối với Bauhaus) Bauhaus xem chữ có sức nặng tương đương hình ảnh, và đối đãi với nó như với shape vậy. Những đặc tính nổi bật nhất của typgraphy của Bauhaus là clean lines, less is more, geometric foundation và text as shapes.

3. Negative Space: tức khoảng trống, vùng không gian không có một objects hay text gì cả. Khác với Expressionism ngay trước đó, các nghệ sĩ Bauhaus cảm thấy sự dồn nén, sát khít và quá mức của các đối tượng hình ảnh gây ra một sự khó chịu và thiếu lí tính, đồng thời không thể được cảm thụ hiệu quả bởi đại chúng. Họ nhận ra việc tận dụng khoảng trống có giá trị quan trọng trong việc tạo ra tính cân bằng và hài hòa của thiết kế. Và họ đã áp dụng điều này không chỉ trong hội họa, mà trong cả điêu khắc, nhiếp ảnh, kiến trúc…

4. Geometric Abstraction: Không gian hai chiều trong tạo hình mỹ thuật của Bauhaus đã thay đổi cách thể hiện truyền thống bằng cách triệt tiêu các nỗ lực tả thực. Các shape được ngăn cách ra bởi những line màu với độ dài biến đổi. Wasily Kandinsky, Paul Klee, Johannes Itten, Oskar Schlemmer, Laszlo MoholyNagy, và Josef Albers đều tin là việc sử dụng những hình học cơ bản là cách thể hiện phù hợp nhất của thời hiện đại. Trong cuốn Point and Line, Kandinsky nói, “Một cách tự nhiên nhất, kiến thức khoa học mới của mỹ thuật có thể phát triển khi cho phép những dấu hiệu được trở thành biểu tượng và mắt nhìn và tai nghe của con người tự biết mở ra một con đường từ tĩnh lặng đến ngôn từ.“

5. Lý thuyết về màu sắc: Lý thuyết về màu sắc của Bauhaus được khai mở đầu tiên bởi Johannes Itten với các lý thuyết về hue, saturation, sự nóng lạnh của màu sắc, về khả năng phối màu… mà đến ngày nay vẫn còn được dạy ở nhiều nơi. Về sau Josef Albers mở rộng thêm lý thuyết này tới cái ảo giác về màu sắc, tác động của chúng lên nhận thức và tình cảm con người… khi nghiên cứu và phân tích nó dưới ánh sáng của tâm lý học. Đây là những đóng góp rất quan trọng trong lý thuyết về sử dụng màu sắc trong thiết kế đồ họa đương đại.

Một trong những điều được kể lại rất nhiều là những giảng viên lẫn học viên ở Bauhaus thực sự đã xây dựng được một cộng đồng cùng chung sống và làm việc tích cực, hiệu quả và giàu tình cảm. Họ luôn đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau.

Mặc dù các giảng viên lẫn học viên ở Bauhaus đã nỗ lực rất nhiều trong việc duy trì hoạt động và cộng đồng Bauhaus, năm 1933, dưới sức ép của Quốc Xã, Bauhaus buộc phải đóng cửa. Những giảng viên ở Bauhaus lưu lạc ở nhiều nơi khác nhau, nhiều người nhập cư ở Liên Xô hoặc Hoa Kỳ. Ở những nơi này, họ được ưu ái giao những vị trí giảng dạy ở những trường Đại học hoặc Cao Đẳng về thiết kế và mỹ thuật ứng dụng. Nhiều nơi trên thế giới cũng ráo riết tìm kiếm và tuyển dụng những người từng được học tại Bauhaus để giúp họ phát triển mô hình đào tạo tương tự. Tuy Bauhaus đã không còn, nhưng tất cả những con người ở học viện Bauhaus ngày trước đã mang những di sản vô giá của 14 năm qua ấy lan tỏa ra khắp thế giới. Sức ảnh hưởng của những di sản ấy vẫn tồn tại đến tận ngày nay.

Trịnh Nhật Tuân

Mọi người có thể đọc bài này với thêm hình ảnh ở đây:

THAM KHẢO

[1] Group project for ART 328: History of Graphic Design. Fall 2014. The building blocks of Bauhaus

[2] Michael Erlhoff & Tim Marshall, Design Dictionary, Perspective on Design Terminology (2008)

[3] Walter Gropius, Bauhaus Dessau—Principles of Bauhaus Production (1926)

[4]  Walter Gropius, Bauhaus Manifesto and Program (1919)

[5] Bernhard E. Bürdek, History, Theory and Practice of Product Design (2005)

[6]  Alex Walker , Simone SalaDial-a-Style #1: Bauhaus Design on Sitepoint. Link: https://www.sitepoint.com/nailing-detail-bauhaus-design/

[7] Maya Lekach, Know Your Design History: The Bauhaus Movement on 99designs. Link: https://99designs.com/blog/creative-inspiration/know-your-design-history-the-bauhaus-movement/